Sống Như Đấng Đã Gọi – Ngài Là Ai?
Chúng ta sẽ trở lại thư 1 P. Thư 1P. P. viết thư này cho các tín đồ bị tản lạc khắp các vùng khác nhau trong xứ Tiểu Á đang trải qua rất nhiều khó khăn, hoạn nạn, mất mát, thậm chí thảm cảnh vì đức tin trong ĐCJC. Trong thư, P. ví cảnh ngộ khó khăn tín đồ đang trải qua là lò lửa thử thách. Lò lửa có thể thiêu đốt nhưng cũng có thể tôi luyện, làm sạch. Vàng, bạc qua lửa mới có thể trở nên ròng. P. viết thư để động viên, khích lệ các tín đồ này rằng khi dù họ đang trong lò lửa thử thách, ĐCT sẽ gìn giữ để đức tin họ sẽ không bị thiêu hủy nhưng trái lại sẽ trở nên tinh sạch, quí báu hơn.
Từ câu 1-12 sứ đồ P. giải thích về ân phước lớn lao về sự cứu rỗi mà ĐCT đã ban cho con dân Ngài. Sự cứu rỗi này đến từ cả 3 ngôi ĐCT. ĐCCha đã có chương trình cứu rỗi và đã chọn con dân Ngài từ trước muôn đời. ĐCJC, Ngôi Hai, là Đấng đã giáng thế làm người để chịu chết, đổ huyết trên thập giá cho tội loài người. Nhiều người nghe TL, nhưng chỉ có những người được ĐTL mở mắt tâm linh mới cảm động, hiểu và tin nhận TL. Và cũng chính ĐTL giúp người tin Chúa thay đổi như viết trong 1:2: được thánh hóa bởi Ðức Thánh Linh, để vâng phục Ðức Chúa Jesus Christ.
Sau khi giải thích ân phước lớn lao về sự cứu rỗi mà ĐCT đã ban cho con dân Ngài, P. dạy tín đồ phải sống thế nào để có thể giống như Đấng đã cứu họ. Trong câu 14, P. ví người tín đồ và ĐCT với quan hệ của cha con Anh em đã nên như con cái hay vâng lời. Tục ngữ VN ta có câu: con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh. Có nghĩa là hễ là con cái thì phải giống cha mẹ. Cũng vậy hễ là con cái của ĐCT, chúng ta phải giống Ngài. Giống đây là về một số phẩm tính như ĐCT. Và một phẩm tính P. kêu gọi con dân Chúa phải giống Ngài là trong sự ăn ở thánh khiết: như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình (1:15).
Làm thế nào để người tin Chúa sống như Đấng đã gọi chúng ta, có tính hạnh, phẩm tính như Đấng đã gọi chúng ta? Thế nào là sống hay ăn ở thánh khiết vì Chúa là Đấng thánh khiết. Đây là những câu hỏi mà trong loạt bài giảng này chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu, không phải để thêm kiến thức về KT nhưng để có thể làm theo lời P. dạy trong thư: như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình
Câu hỏi đầu tiên và quan trọng nhất là Đấng gọi chúng ta là ai? KT dạy chúng ta thế nào về Đấng này? Bởi vì nếu suy nghĩ, nhận biệt chúng ta về Đấng gọi khác với lời KT dạy hay hiểu sai, thì không thể sống như Đấng đã gọi chúng ta. Tôi lấy một ví dụ để giải thích rõ điều này. Tuần trước đây tôi có dịp nói chuyện với một chứng nhân Giê-hô-va. Theo lời làm chứng của người đó (của cả đạo CNGHV) thì cả KTTU cũng đều viết về Giê-hô-va. ĐCJC không phải là trọng tâm của lời dạy trong KT và KTTU nhưng là GHV. Vậy người tin GHV phải sống như lời GHV dạy trong cả CU chứ không phải theo lời dạy của ĐCJC trong KTTU.
Một ví dụ khác. Một số mục sư trên truyền hình, mạng tuyến dạy rằng ĐCT là Đấng yêu thương, nhân từ. Vì vậy Ngài đến thế gian qua ĐCJC chết cho tội để người tin Chúa có đời sống hanh thông, phước hạnh. Mục đích chính của TL là để người tin Chúa được ấm no, mạnh giỏi, hạnh phúc. Đấng đã gọi là Đấng muốn mọi người tin Ngài được hạnh phúc. Vậy ý nghĩa của việc ăn ở thánh khiết của người tin vào ĐCT này hoàn toàn khác với một ĐCT thánh khiết. Tôi sẽ giải thích rõ hơn trong bài giảng tuần tới về điều này.
Bài giảng hôm nay dựa theo Ma-thi-ơ 11:2-6 để giải thích câu hỏi: ĐCJC là ai? Dù ngắn nhưng đây là một đoạn KT hết sức ý nghĩa và sâu nhiệm giúp chúng ta hiểu rõ về ĐCJC và về cả chính chúng ta là những người đặt ra câu hỏi này cũng như tiên tri Giăng Báp-tít đã hỏi: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi đấng khác chăng? (Ma-thi-ơ 11:3) Jesus, Ngài thật sự là ai?
Đây là một câu hỏi hết sức quan trọng, đặc biệt từ chính Giăng Báp-tít. GB là một tiên tri của ĐCT, được Chúa dùng để dọn đường cho Đấng Mê-si. Ấy là về Giăng Báp-tít mà đấng tiên tri Ê-sai đã báo trước rằng: Có tiếng kêu trong đồng vắng: Hãy dọn đường Chúa, ban bằng các nẻo Ngài. (Ma-thi-ơ 3:3)
Mục vụ của GB là để dọn đường cho Chúa, có nghĩa là chuẩn bị tấm lòng của dân sự Ỵ để có thể đón nhận và tin tưởng vào ĐCJC. Trong mọi nhân vật trong KTTU GB là người duy nhất nhận biết ĐCJC là Đấng Mê-si, Đấng cứu tội. Lần đầu tiên khi nhìn thấy ĐCJC, GB đã nói cùng các môn đồ ông: Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi. 30 Ấy về Đấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta. (Giăng 1:29-30).
GB biết rõ ĐCJC là Chiên con của ĐCT, là Đấng cất tội lôi thế gian. GB xác nhận rằng ĐCJC trổi hơn ông vì Ngài đã hiện hữu từ trước ông, dù GB lớn tuổi hơn ĐCJC. Vậy tại sao khi trong tù, GB lại gởi môn đồ để hỏi ĐCJC: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi đấng khác chăng?
Trước hết, nếu một người tiên tri vĩ đại như GB (Chúa xác nhận rằng: Quả thật, Ta nói với các ngươi, trong vòng những người do phụ nữ sinh ra không ai vĩ đại hơn Giăng Báp-tít (Matt 11:11-BDM) còn do dự, không rõ Chúa là ai thì chắc mọi chúng ta đều có lúc cũng thắc mắc, không rõ về ĐCJC. Câu hỏi của GB cho thấy dường như ông có sự hoài nghi, do dự, không chắc chắn về Đấng mà ông đã dọn đường, ban bằng các nẻo cho Ngài. Tại sao?
Đoạn KT trong Matt 11:2-6 cho thấy 2 lý do khiến GB hoài nghi, do dự về ĐCJC. Lý do thứ nhất là bởi vì hoàn cảnh hiện tại của ông: GB đang bị giam trong ngục không biết sống chết khi nào. Giăng ở trong tù nghe về các công việc của Đấng Christ, nên sai các môn đồ mình đến thưa với Ngài rằng: 3“Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi đấng khác?” (Matt 11:2-3)
Trước đó GB được dân sự kính trọng, ngưỡng mộ (dù không chuộng sứ điệp ông giảng) như một tiên tri của ĐCT, từ ĐCT. Đoàn dân rất đông từ nhiều nơi xa gần vào đồng vắng để nghe sứ điệp ông giảng dạy. Nhưng nay ông lại bị giam trong ngục tối, không biết sống chết thế nào. Chính hoàn cảnh này có thể làm cho GB tự hỏi: tại sao tôi là tiên tri của ĐCT mà tôi là bị tù đày, khốn khó như vầy. Tại sao tôi phục vụ Chúa mà đời tôi lại như chỉ treo trước gió?
Lý do thứ hai GB có thể nghi ngờ về ĐCJC là từ chính lời của ĐCJC: Phước cho người nào không vấp phạm (vấp ngã – BDM) vì cớ Ta! (Matt 11:6). Khi trong tù, GB nghe từ các môn đồ về những lời ĐCJC tự nhận về Ngài, về những lời ĐCJC dạy dỗ cho dân sự, cho môn đồ GB và những người Pha-ri-si. Có lẽ qua những lời tự nhận của Chúa hay trong những lời dạy này khiến cho GB có nhiều câu hỏi hơn về ĐCJC.
HAI BÀI HỌC TỪ CÂU HỎI CỦA GIĂNG BÁP-TÍT
Câu hỏi của GB dạy chúng ta hai điều vô cùng quan trọng. Bài học thứ nhất là câu hỏi của GB không về hoàn cảnh khó khăn ông đang trải qua, không phải để ĐCT giải cứu ông ra khỏi cảnh tù ngục, không có điều kiện, không có một định kiến. Bài học thứ hai là mọi người đều sẽ tiếp tục tìm kiếm cho mình một ĐCT để thờ lạy, tôn sùng dù khi họ từ chối ĐCT trong KT.
Bài học thứ nhất là câu hỏi của GB không về hoàn cảnh khó khăn ông đang trải qua, không có điều kiện, không có một định kiến. GB không hỏi, tại sao Chúa không giải cứu tôi khỏi tù ngục để tôi có thể tin Ngài. GB không nói: Tôi sẽ tin Chúa là Đấng được sai đến khi Ngài giải cứu tôi, khi Ngài thay đổi hoàn cảnh đời sống tôi, khi Ngài trả lời những điều tôi cầu xin.
Tôi mong qv chú ý để hiểu rõ bài học quan trọng này. Từ trong tù, GB hỏi Chúa: Chúa có phải là Đấng được sai đến hay không? GB không hỏi, tại sao Chúa không giải cứu tôi khỏi tù ngục để tôi có thể tin Ngài. Trên thập giá, một trong hai tên cướp cũng hỏi Chúa: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Ông không phải là Đấng được ĐCT sai đến hay sao?
Nhưng Đấng Christ trong suy nghĩ của hắn là thế này: Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa! (Lu-ca 23:39). Có nghĩa là người đó đã có một định kiến (ý kiến có trước đó) rằng nếu ĐCJC là ĐCT, đến từ ĐCT thì Ngài phải thỏa mãn hai điều kiện: 1) Có thể tự cứu chính mình khỏi thập giá và 2) Có thể cứu cả hai người khác khỏi thập giá. Nếu ĐCJC không làm điều này thì Ngài không phải là Đấng Christ.
Bao nhiêu người cũng hỏi về ĐCJC như tên cướp đã hỏi trên thập giá. Hỏi với một định kiến. Hỏi với điều kiện. Hỏi xem có hiệp với tiêu chuẩn, điều kiện cho họ hay không. Và khi câu trả lời không hợp với định kiến đó, thì họ từ chối ĐCT.
Ý của tên cướp cũng là ý của bao nhiêu người trong chúng ta hôm nay: ĐCT là Đấng sẽ cứu, phải cứu chúng ta khỏi nghịch cảnh, phải giải quyết các nan đề trong đời sống. Trong suy nghĩ của bao nhiêu người họ chỉ tin vào môt ĐCT cứu họ ra khỏi nghịch cảnh, một ĐCT có thể thay đổi hoàn cảnh cho đời sống họ, khiến họ bớt hay hết khổ.
GB không hề hỏi Chúa như tên cướp trên thập giá. GB thật sự muốn biết ĐCJC là ai bất chấp hoàn cảnh hiện tại của ông thế nào. Nhưng nhiều người, rất nhiều người không hề để ý một ĐCT mà không làm gì để đời sống họ được tốt đẹp, thuận lợi, hanh thông hơn. Họ biết họ muốn gì, cần gì. Chúa chỉ là Đấng giúp họ thực hiện những dự tính, mơ ước này.
Tôi tin Chúa nếu Chúa giúp tôi thi đậu quốc tịch, khi được vào trường đại học, khi được lấy người tôi thương, khi giúp tôi thành công trong tiệm mới mở. Tôi tin rằng ĐCJC đến từ ĐCT khi Ngài trả lời lời cầu nguyện chân thành của tôi, giúp tôi thay đổi hoàn cảnh sống.
ĐCT của họ là ĐCT tùy theo điều kiện và hoàn cảnh họ chọn. Họ biết ĐCT đó cần làm gì, phải làm gì cho họ vì họ biết mục đích, ý nghĩa của đời họ là gì. Chính họ, chứ không phải ĐCT biết rõ chương trình và điều gì tốt nhất cho đời họ.
Nếu đây là Đấng đã gọi họ, thì làm sao có thể buộc họ phải sống thánh khiết, sống theo ý Chúa bởi vì Chúa phải làm theo ý họ để họ tin Ngài. Làm sao một ĐCT phải thỏa mãn mọi đòi hỏi, điều kiện trước khi họ tin vào ĐCT đó có thể đòi hỏi họ phải làm bất cứ việc gì? ĐCT đó, Đấng đó chỉ là một vị thần bị giam trong bình, chờ lệnh của người chà vào bình để đem thần ra ngoài, để thần làm điều này điều nọ theo ý muốn, đòi hỏi, mong ước của họ.
Nhưng Đấng đã gọi chúng ta không phải là một vị thần làm theo mọi yêu cầu, đòi hỏi của chúng ta. Trái lại Ngài là Đấng có quyền trên mọi lãnh vực của đời sống chúng ta. Ngài có toàn quyền để ra lệnh chúng ta sống theo ý muốn và lời dạy của Ngài. Chúng ta đến với Ngài để tìm hỏi: Chúa muốn gì nơi con, Chúa đòi hỏi gì nơi con, Chúa muốn con sống thế nào, làm gì để như ý Chúa.
Một bên như tên cướp trên thập giá nói với ĐCJC: Ý tôi được nên. Một bên như GB và các sứ đồ như PL, Phi-e-rơ nói với ĐCJC: Ý Chúa được nên. ĐCT, Đấng gọi qv là ai? Là người mà qv tìm đến để đòi cho ý tôi được nên hay để qv đến với Ngài mà vâng phục, làm theo ý Ngài?
Đây là sự khác biệt rất lớn giữa các tín đồ tin vào một ĐCT, ĐCJC trong trí, theo ý tưởng đã định của họ. ĐCJC phải thế nào, phải làm điều này, điều nọ theo ý nghĩ của họ thì họ mới tin. Đây không phải Đấng gọi họ như P. viết trong thư, không phải là ĐCT trong KT nhưng là Đấng họ gọi để làm theo ý muốn của họ. Họ không muốn thay đổi, họ muốn ĐCT thay đổi theo ý họ. Họ không muốn nghe và làm theo mạng lệnh của ĐCJC. Họ chỉ muốn ra lệnh cho Chúa làm theo ý họ.
Thư P. viết cho những người tin vào Đấng đã gọi họ là Đấng có toàn quyền trên mọi lãnh vực của đời sống tín đồ. Tín đồ phải vâng phục Đấng đã gọi. Chứ không phải Đấng đó phải làm theo ý của họ trước khi họ tin Ngài.
Bài học thứ hai là trong phần cuối của câu hỏi từ GB: hay chúng tôi còn phải đợi đấng khác? Dù từ chối ĐCJC là Chúa của đời họ, thì không có nghĩa là người ta sẽ chấm dứt tìm kiếm một thần khác cho đời họ.
Trong buổi lễ ra trường đại học Kenyon năm 2005, diễn giả là một tác giả trẻ, 43 tuổi tên David Foster Wallace. Người ta gọi Wallace là một trong những nhà văn sáng tạo và nổi bật nhất trong 20 năm nay. Trong bài nói chuyện cùng các sinh viên ra trường, ông có những lời như sau: Mọi người đều thờ phượng. Sự chọn lựa duy nhất là chúng ta sẽ thờ phượng điều gì. Và một lý do hợp lẽ hơn khi chọn một thần nào đó để thờ phượng… là bởi vì mọi thứ khác trên đời này rồi sẽ nuốt sống qv. Nếu thờ phượng tiền của và vật chất, nếu đó là điều qv tìm ý nghĩa cho cuộc sống, thì qv sẽ không bao giờ có đủ, không bao cảm thấy đủ. Đó là sự thật. Thờ phượng thể xác này và sắc đẹp và thu hút tình dục, rồi qv sẽ luôn thấy xấu xí. Và khi thời gian và tuổi tác bắt đầu làm qv già đi, qv sẽ chết triệu lần trước khi người thân chôn qv. Thờ phượng quyền lực, rồi qv sẽ cảm thấy yếu đuối và sợ hãi, và sẽ tiếp tục cần quyền lực để làm tê dại nỗi sợ hãi… Sự gian dối, xảo quyệt của những sự thờ phượng này không phải là tự nó độc ác hay tội lỗi; nhưng bởi vì đó là điều tự nhiên ẩn trong tiềm thức mỗi người.
BÀI HỌC TỪ CÂU TRẢ LỜI CỦA CHÚA JESUS
Tôi xin đọc lời của ĐCJC: Hãy về, thuật lại cho Giăng những gì các ngươi nghe và thấy: 5 Người mù được sáng, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết được sống lại, và người nghèo được nghe Tin Lành. 6 Phước cho người nào không vấp phạm vì cớ Ta! (Matt 11:4-6)
Thường khi nghĩ về phước, chúng ta nghĩ về bài giảng trên núi: Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! 4 Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi! (Matt 5:3-4). Trong câu trả lời của ĐCJC cùng GB, Chúa nói về một phước thật lạ lùng và khó hiểu: Phước cho người nào không vấp phạm vì cớ Ta! Phước này có nghĩa gì? Đây là bài học thứ nhất. Lời tự nhận của ĐCJC về Ngài và lời dạy của Chúa chắc chắn sẽ gây khó chịu, tổn thương, thậm chí tức giận cho người nghe. Ai nghe lời Chúa dạy mà không hề thấy khó chịu, tổn thương, tự ái thì phải họ xem họ có nghe lời của ĐCJC dạy hay không? Nhưng ai chấp nhận những điều này về Ngài sẽ nhận được phước.
Từ dịch vấp phạm đây là skandalizō. Chính từ chữ này tiếng Anh có từ scandal là tiếng đồn xấu. Có nghĩa là những lời ĐCJC tự nhận về Ngài, những lời Chúa dạy có thể khiến cho người nghe khó chịu, bất mãn, bất đồng ý kiến, thậm chí có thể đến nỗi tức giận mà không tin, mà vấp ngã.
Hai lý do khiến GB hỏi Chúa có phải là Đấng phải đến cũng là hay lý do khiến cho bao nhiêu người ngày nay, dù tại VN hay HK cũng hỏi ĐCJC có thật sự là Đấng phải đến hay không. Trước hết niềm tin của người hiện đại tùy thuộc và thay đổi theo hoàn cảnh sống. Khi hoàn cảnh trong đời thay đổi thì niềm tin vào Chúa, vào Trời cũng thay đổi. Khi thành công, thuận lợi, khi sung túc, hanh thông thì dễ cho chúng ta tin vào một ĐCT đầy tình yêu nhân từ, một ĐCT luôn ban phước cho mọi người.
Nhưng khi gặp khó khăn, chúng ta từ chối Chúa vì làm sao tôi có thể tin vào một Đấng làm cho tôi khốn khổ, hoạn nạn như vậy. Khi đó mấy ai có thể tin vào ĐCT của tình yêu thương, của lòng nhân từ? Trái lại chúng ta hỏi: tại sao ĐCT lại tàn nhẫn, độc ác đến vậy khi để những trẻ em vô tội phải thiệt mạng, hay khi để cho thiên tai tàn phá mùa màng, nhà cửa, làng xóm, thiệt hại biết bao nhiêu công ăn việc làm, bao nhiêu tính mạng.
Một câu hỏi trong giới trí thức là câu hỏi về sự khổ nạn trong đời sống. Nếu ĐCT nhân từ, yêu thương loài người, tại sao Chúa lại để cho bao nhiêu đau khổ xảy ra trong đời? Nhưng nếu ĐCT đã để cho bao nhiêu đau khổ xảy ra, thì hoặc ĐCT là Đấng nhẫn tâm, bàng quang trước nỗi khổ của loài người hoặc ĐCT là Đấng không có khả năng, bất lực trước những diễn tiến xảy ra trong thế gian này.
Hơn nữa làm sao không giận khi nghe những lời tự nhận của Jesus: Ta là đường đi, lẽ thật, sự sống. Không ai có thể đến với Cha ngoài Ta. Ai thấy Ta tức đã thấy ĐCT. Ta và Cha (ĐCT) là một. Trước Áp-ra-ham đã có Ta. Ta thấy Sa-tan từ trời rơi xuống địa cầu. Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh thánh. (Lu-ca 24:27) Trong ngày cuối Ta sẽ phán xét cả thiên hạ. Hãy đi, đừng phạm tội, tội của con được tha rồi.
Tại sao ĐCJC có thể dạy cách hẹp hòi như vậy? Tại sao chỉ có tin vào Ngài mới nhận được sự cứu rỗi. Chẳng phải đường nào cũng đến La mã, đạo nào cũng tốt hay sao?
Thật vậy, chính vì những lời tự nhận này từ ĐCJC mà nhiều người nổi giận, buộc tội Ngài là lộng ngôn. Như khi xử Chúa, thầy cả thượng phẩm hỏi Chúa: Ấy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không? Sau khi nghe Chúa trả lời, Mác viết về phản ứng và thái độ của họ: Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi? 64 Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết. (Mác 14:63-64) Hay theo như Giăng: Người Giu-đa lại lượm đá đặng ném Ngài. 32 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta đã làm trước mắt các ngươi lắm việc lành bởi Cha đến; vì việc chi mà các ngươi ném đá ta? 33 Người Giu-đa trả lời rằng: Ấy chẳng phải vì một việc lành mà chúng ta ném đá ngươi, nhưng vì lỗi lộng ngôn: Ngươi là người, mà tự xưng là Đức Chúa Trời (Giăng 10:32-33)
Ngay cả lời tự xưng của ĐCJC rằng mục đích Ngài xuống thế gian là để chịu chết, chuộc tội cho cả loài người. Thật là một lời tự xưng độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người. Tôi chỉ có thể tha tội cho người phạm lỗi, phạm tội cùng tôi. Nhưng làm thế nào một người có thể tha thứ cho những người hoàn toàn xa lại chưa hề có quan hệ cá nhân với người ấy về tội mà họ phạm hoàn toàn không liên can gì đến? Tại sao tôi phải nhận mình có tội, phải thật sự ăn năn tội mới được cứu?
Một người tự xưng mình với những lời như ĐCJC tự xưng hoặc là một người điên, bệnh tâm thần, ảo tưởng, hoặc là người nói dối trắng trợn, hoặc chính Ngài là ĐCT, là Ngôi Hai ĐCT đến thế gian để chịu chết cho tội muôn người.
Chính hai lý do này: hoàn cảnh khốn khổ, sự khổ nạn trong cuộc đời và vì những lời dạy, lời tự nhận quá đáng của ĐCJC mà rất nhiều người hôm nay không tin ĐCJC, không tin lời dạy KT hay vào sự cứu rỗi như KT dạy.
Chính câu trả lời của ĐCJC lại khó cho người nghe TL hôm nay nhận Chúa. Bởi vì lời dạy này hàm ý rằng người được cứu là người nghèo nàn, mù lòa, què quặt, cùi hủi về tâm linh. Rằng họ là người điếc chỉ được mở tai để nghe và hiểu TL khi được ĐTL chạm lòng. Rằng tâm linh của họ đã chết vì tội lỗi và chỉ có thể sống lại sau khi được Chúa hồi sinh. Đây là những điều rất khó chấp nhận, đặc biệt với những người được dạy từ thưở nhỏ rằng họ là nạn nhân của hoàn cảnh, họ phạm lỗi, phạm tội bởi vì hoàn cảnh, môi trường, người chung quanh gây nên.
Đây là những điều khiến cho người nghe cảm thấy khó chịu, tự ái, thậm chí nổi giận mà không tin nhận Chúa. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận những lời ĐCJC tự nhận về Ngài, Ngài chính là ĐCT xuống thế gian để chịu chết cho tội muôn người; nếu chúng ta tin nhận những lời dạy của ĐCJC về hậu quả của tội lỗi khiến tâm linh chúng ta phải chết và duy nhất chỉ có thập giá của Ngài mới có thể cứu tội, thì chúng ta sẽ được phước.
