Ơn Phước Được Sống Tự Do
Hoa Kỳ là một quốc gia trẻ so với rất nhiều quốc gia khác trên thế giới kể cả VN. Lịch sử VN tự hào 4000 năm văn hiến. Tính đến hôm nay Hoa Kỳ đúng 241 tuổi. Dù trẻ như vậy, nhưng HK vẫn là nơi biết bao nhiêu người trên thế giới mong được đến để sống cách tự do. Và lý do mà HK vẫn là một đất nước tự do được bao nhiêu triệu người mong mỏi được đến sinh sống, định cư là bởi vì họ ý thức rõ rằng sự tự do đến từ ĐCT, chớ không phải từ con người.
Sau một năm dài chiến tranh với Anh Quốc, ngày 04 tháng 07, 1776, bản Tuyên Ngôn Độc Lập (Declaration of Independence) tuyên bố 13 vùng thuộc địa của xứ không còn thuộc về xứ Anh Quốc nữa nhưng nay trở nên độc lập. Bản Tuyên ngôn xác nhận quyền bình đẳng của mọi người do ĐCT ban cho: "Chúng ta công nhận những sự thật sau đây là hiễn nhiên: rằng tất cả mọi người được sáng tạo hoàn toàn bình đẳng, rằng họ được uỷ thác bởi ĐCT với những quyền không ai có thể xâm phạm; trong những quyền đó là Sự Sống, Tự Do và mưu cầu hạnh phúc" (We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness).
Vậy lịch sử quốc gia HK chính thức bắt đầu với lời tuyên bố rằng nhân quyền, trong đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, đến từ ĐCT. Mọi người sáng tạo (chớ không phải tiến hóa) hoàn toàn bình đẳng, và được ĐCT ban cho những quyền tự do mà không ai có thể xâm phạm.
Nhân lần kỷ niệm 150 năm Lễ Độc Lập, tổng thống thứ 30 của HK là Calvin Coolidge nhắc lại nguồn gốc của lý tưởng về quyền bình đẳng và tự do từ những bài giảng luận và bài viết của các mục sư trong thế kỷ 17 và 18.
Lời của tổng thống Coolidge, Họ giảng về quyền bình đẳng bởi vì họ tin vào Cha Thiên Thượng và tình anh em giữa người và người trong Chúa. Họ chứng minh sự tự do qua lời KT rằng tất cả đều được sáng tạo trong hình ảnh ĐCT, tất cả đều mang hình ảnh ĐCT.” Và ông kết luận từ việc nghiên cứu các tài liệu trước đó về Bản Tuyên ngôn Độc Lập: Bản TNĐL là một tài liệu mang tính chất tôn giáo, “Bình đẳng, tự do, dân chủ, các quyền của con người … là những lý tưởng bắt nguồn từ các niềm tin tôn giáo… Ngoại trừ khi người dân HK tiếp tục đặt niềm tin vào những lý tưởng tôn giáo này, các ý tưởng của BTN sẽ không tồn tại”.
Những người sáng lập quốc gia này, tổng thống và những người lãnh đạo xác nhận rằng nền tảng của mọi tự do đến từ ĐCT. Còn qv thì sao? Qv nghĩ tự do đến từ đâu? Nếu từ chính quyền thì chính quyền có thể lấy đi như các chế thể độc tài, vua chúa. Nếu từ triết lý thì dựa vào nền tảng triết lý của ai, trong thời nào? KT dạy rõ sự tự do đến từ ĐCT từ lúc Chúa sáng tạo con người đầu tiên là A-đam và E-va và đặt họ trong vườn Ê-đen: Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. 16 Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; 17 nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết. (STK 2:15-17)
Sống trên xứ sở này chúng ta thường không nghĩ đến ơn phước được sống tự do, hay coi trọng ơn đó. Chúng ta xem tự do ăn nói, tự do thờ phượng, tự do làm việc là điều bình thường. Nhưng thực tế là trên thế giới hôm nay những tự do này là điều hiếm hoi. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới hôm nay vẫn còn đang sống không có tự do đi lại, ngôn luận, tự do khỏi sự sợ hãi vì bắt bớ, hà hiếp, tù đày, tự do mưu sống theo khả năng và sở thích của mình. Họ khao khát được tự do, được thở không khí tự do, được sống trong xã hội tự do. Đây là một ước nguyện chung của mọi người trên đất bất luận màu da, tiếng nói, chủng tộc, văn hóa, quốc gia, lục địa.
Bao nhiêu quốc gia trên thế giới, đặc biệt vùng Trung Đông và Phi Châu vẫn còn đang trong chiến tranh để tìm tự do. Điều này cũng cho thấy rõ rằng tự do tốn một giá hết sức đắt, tốn cả tiền bạc, tài của, tính mạng, xương máu. Có sự tự do nào lại không tốn một giá đắt?
Được sống tự do trên đất nước này là một ơn phước mà biết bao người trên thế giới mong mỏi nhưng không được. Vì chiến tranh mà hằng chục triệu người tại các xứ Trung Đông phải tìm tự do tại Âu Châu. Có một câu nói đùa nhưng rất thực là trong chế độ cộng sản, nếu cây cột đèn có chân thì nó cũng đã bỏ chạy trốn từ lâu rồi! [Câu chuyện đùa về việc giao tủ lạnh và máy giặt vào buổi sáng & chiều 5 năm sau]
Trong bài diễn văn trước Quốc Hội 06 tháng 01, 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt nói về 4 sự tự do: tự do ngôn luận (ăn nói); tự do tôn giáo, tín ngưỡng; tự do kinh tế; tự do khỏi sự sợ hãi (về chiến tranh, bắt bớ, tù đày, tra tấn). Chính vì 4 tự do này mà chúng ta đến xứ này để định cư, để chọn nơi đây làm quê hương thứ 2, để thế hệ tới của con cháu có tương lai, được tự do.
Những người tiên phuông (pilgrim) đầu tiên đến xứ này chỉ để tìm sự tự do thờ phượng theo niềm tin và lương tâm của họ Từ đó đến tự do tín ngưỡng là một tự do quan trọng nhất của công dân xứ này.
Được tự do thờ phượng không phải là điều dễ tìm cho bao triệu tín đồ trên thế giới. Cho đến hôm nay vẫn còn biết bao nhiêu quốc gia không có sự tự do thờ phượng. Trước đó tại những nước cộng sản, nay tại những nước hồi giáo. Quý vị chớ hiểu lầm rằng sự tự do thờ phượng trong thế kỷ 21 này là điều tự nhiên. Trái lại sự bắt bớ, khủng bố, thậm chí giết hại người tin Chúa đang xảy ra trên 3/4 quốc gia trên thế giới. Và số tín đồ tử đạo vào thế kỷ qua và đến nay nhiều hơn tổng số tín đồ tử đạo trong tất cả các thế kỷ trước đó nhập lại.
The Christian communities of Syria and Iraq have survived 2,000 years of tumult and war. In some of them, prayers are still said in Aramaic, the language that Jesus used in daily life. These communities now tremble on the brink of destruction. The numbers are stark. Almost 1.5 million Christians lived in Iraq under Saddam Hussein. Between the U.S.-led invasion that toppled his regime in 2003 and the rise of Islamic State, three-fourths of the country’s Christians are believed to have fled Iraq or died in sectarian conflict. The carnage continues. Of the 300,000 Christians remaining in 2014, some 125,000 have been driven from their homes within the past year, according to a March report on “60 Minutes.”
MỤC ĐÍCH CỦA TỰ DO
KT dạy rõ sự tự do đến từ ĐCT từ lúc Chúa sáng tạo con người đầu tiên là A-đam và E-va và đặt họ trong vườn Ê-đen: Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết. (ST 2:15-17).
Tự do không phải là làm tất cả những điều mình muốn. Vì có rất nhiều điều muốn nhưng nếu chìu theo sẽ đem lại tai hại thay vì ích lợi. Vậy nên dù có thể làm theo ý mình nhưng để lợi ích, phước hạnh cho mình, cho người chung quanh, và cho công việc Chúa, chúng ta cũng phải cân nhắc, lựa chọn, và quyết định. Và mỗi lựa chọn, quyết định sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời: Gieo một ý nghĩ, gặt một hành động. Gieo một hành động, gặt một thói quen; gieo một thói quen, gặt một tính hạnh; gieo một tính hạnh, gặt một điểm cuối (destination). Hay như bà tổng thống Roosevelt: One's philosophy is not best expressed in words. It is expressed in the choices one makes. In the long run, we shape our lives and we shape ourselves. The process never ends until we die. And the choices we make are ultimately our responsibility. (Eleanor Roosevelt)
Có ba suy nghĩ thông thường của người đời này về sự chọn lựa trong đời sống:
1. Tôi là chủ cuộc đời và có toàn quyền chọn lựa cách sống. Không ai có quyền bắt buộc tôi phải chọn điều tôi không muốn.
Ngày nay phần đông nghĩ rằng hễ càng nhiều sự chọn lựa thì càng tốt. Không phải chỉ về các loại kem đánh răng, các loại mỹ phẩm nhưng về mọi khía cạnh trong đời sống: từ tình cảm đến học vấn, từ công việc đến giải trí, từ nơi sinh sống đến nơi chôn cất… Lấy một ví dụ về tình cảm, hôn nhân cho người đời không tin Chúa. Họ có thể đến những vũ trường, những quán bar, những buổi dạ hội, các phòng trà, hoặc lên mạng tuyến để tìm bạn. Nếu kiếm ở đây không có thì đi đến một tiểu bang khác hay về VN tìm bạn. Còn nếu không tìm được người tâm đầu ý hợp để tiến đến hôn nhân thì có thể sống chung với nhau hay gặp gở để thỏa mãn tình dục rồi đường ai nấy đi. Người đời không muốn bị hạn chế hay bó buộc trong sự chọn lựa. Trái lại mọi người đều muốn có nhiều sự lựa chọn trong đời sống như khi ra chợ có nhiều bó cải khác nhau để lựa. Quan trọng hơn người ta tin rằng họ có toàn quyền để chọn lựa, quyết định cho cá nhân mình mà không ai có thể nói cả. Ngay cả các em nhỏ ngày nay cũng đã có thái độ này.
2. Mọi lựa chọn, quyết định, mọi cách sống, mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau. Theo quan điểm ngày nay thì không có sự lựa chọn nào tuyệt đối, hoàn toàn đúng cả.
Ngày nay người đời thường nghĩ phải mở rộng trí tuệ để chấp nhận mọi quyết định, mọi giá trị, mọi cách sống, mọi triết lý, mọi tôn giáo. Không có con đường nào hoàn toàn, tuyệt đối đúng hết cả. Mọi việc, mọi quyết định, mọi lựa chọn đều tương đối. Đúng sai tùy theo suy nghĩ mỗi người. Không có gì là tuyệt đối cả. Đừng quá cạn cợt trong suy nghĩ mà từ chối mọi lựa chọn khác.
Hầu hết mọi sinh viên bước vào cửa đại học đều tin tưởng hay tuyên bố rằng sự thật đều tương đối (tùy thuộc vào hoàn cảnh, thời điểm…) (Allan Bloom, Closing of American Mind)
Không kiến thức nào, tiêu chuẩn nào, sự chọn lựa nào khách quan cả (Barbara Herrstein Smith)
While an open mind is priceless, it is priceless only when its owner has the courage to make a final decision which closes the mind for action after the process of viewing all sides of the question has been completed. Failure to make a decision after due consideration of all the facts will quickly brand a man as unfit for a position of responsibility. Not all of your decisions will be correct. None of us is perfect. But if you get into the habit of making decisions, experience will develop your judgment to a point where it is better to be right fifty percent of the time and get something done, than it is to get nothing done because you fear to reach a decision. H.W. Andrews.
3. Anh chị, ông bà là ai mà chỉ trích, phê bình, đoán xét tôi. Không phải chỉ có một con đường trong đời sống này mà thôi.
Bởi vì không có sự chọn lựa nào đúng sai, phải trái mà mọi việc đều tùy vào hoàn cảnh, thời điểm nên không ai có thể phê bình ai cả. Tín đồ thường trích lời dạy của ĐCJC trong bài giảng trên núi mà biện hộ cho sự chọn lựa, quyết định mình: Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét. (Mathiơ 7:1). Nhưng họ quên rằng chính ĐCT đặt ra trước chúng ta hai con đường rõ ràng để có thể tự do chọn lựa, và quyết định và Chúa khuyên chúng ta nên chọn con đường của sự sống, của ơn phước. Đối với người tin Chúa, người thật sự theo Chúa, và trong đời sống tâm linh, KT dạy rõ chúng ta chỉ có 2 sự lựa chọn: tin Chúa hay không tin Chúa, theo con đường Chúa dạy hay theo con đường thế gian. Vì giới hạn này mà rất nhiều người không muốn tin Chúa, sợ mất vui, mất đi nhiều lựa chọn.
CHÚA BAN TỰ DO ĐỂ CHỌN LỰA
- Tự do chọn lựa bắt đầu từ khi ĐCT tạo ra A-đam và E-va và đặt họ trong vườn địa đàng. ĐCT ban cho A-đam sự tự do chọn lựa qua việc để ông đặt tên cho các loài sinh động vật và cai quản vườn địa đàng E-đen, muốn làm khi nào tùy ý. Tại nơi đó, ĐCT ra mạng lệnh: Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết (STK 2:16-17). Họ được tự do ăn bất kỳ trái cây nào trong vườn ngoại trừ trái của một cây cấm.
- Thay vì chú ý đến tất cả các cây trái có thể ăn ngoại trừ một cây thì ma quỉ cám dỗ E-va chỉ chú ý cây cấm. Mục đích của sự cám dô là gây ra sự nghi ngờ lời Chúa: Có thật Ðức Chúa Trời bảo, ‘Các ngươi không được ăn trái của bất cứ cây nào trong vườn’ chăng? Với người chưa tin Chúa, nó gây ra sự ngờ vực về sự hiện hữu của ĐCT, sự thật của sự cứu rỗi qua ĐCJC, về sự thật của KT. Với người tin Chúa, nó gây ra sự hoài nghi về lòng tốt, về tình yêu thương, về ý chỉ của ĐCT, tại sao Chúa yêu tôi mà lại để điều này xảy ra?
- ĐCJC khuyên bảo và chỉ rất rõ về con đường phải đi: Hăy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít. (Ma-thi-ơ 7:13-14). Đây là một lời khuyên, một lời mời gọi (như phụ nữ khôn ngoan mời gọi tại chợ đông đến mọi người) chứ không phải ép buộc.
- ĐCJC đứng bên đây cửa mà gỏ để vào cùng ăn tối với người đó: Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta. (KH 3:20)
Người tin Chúa xem lời dạy của ĐCT là ánh sáng cho đường lối, sông nước cho cây mọc, bóng mát trong nắng gắt… Nhưng người tìm tự do trong thế gian này xem là gánh nặng, xiềng xích trói buộc
Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, Chẳng đứng trong đường tội nhân, Không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng; 2 Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, Và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm. 3 Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước, Sanh bông trái theo thì tiết, Lá nó cũng chẳng tàn héo; Mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng (TT 1:1-3)
Nhân sao các ngoại bang náo loạn? Và những dân tộc toan mưu chước hư không? Các vua thế gian nổi dậy, Các quan trưởng bàn nghị cùng nhau Nghịch Đức Giê-hô-va, và nghịch Đấng chịu xức dầu của Ngài, mà rằng: 3 Chúng ta hãy bẻ lòi tói của hai Người, Và quăng xa ta xiềng xích của họ. (TT 2:1-3)
CHÚA DẠY RÕ VỀ KẾT QUẢ VÀ HẬU QUẢ
A farmer hired a man to work for him. He told him his first task would be to paint the barn and said it should take him about three days to complete. But the hired man was finished in one day. The farmer set him to cutting wood, telling him it would require about 4 days. The hired man finished in a day and a half, to the farmer's amazement. The next task was to sort out a large pile of potatoes. He was to arrange them into three piles: seed potatoes, food for the hogs, and potatoes that were good enough to sell. The farmer said it was a small job and shouldn't take long at all. At the end of the day the farmer came back and found the hired man had barely started. "What's the matter here?" the farmer asked. "I can work hard, but I can't make decisions!" replied the hired man.
When you have to make a choice and don't make it, that is in itself a choice. William James.
- ĐCT đặt trước mỗi chúng ta hai sự lựa chọn: 2 cửa, 2 con đường, 2 sự lựa chọn, 2 điểm đến.
- Điều răn thứ nhất trong 10 điều răn chỉ có 2 sự lựa chọn: thờ ĐCT và không thờ bất cứ các thần nào khác.
- Trước khi dân sự vào đất hứa, ĐCT dùng hai ngọn núi là Ga-ri-xim và Ê-banh để làm biểu tượng cho sự chúc lành và chúc dữ (rủa xả). Ga-ri-xim tượng trưng cho sự chúc lành và Ê-banh cho sự chúc dữ. Chỉ hai ngọn núi, hai tượng trưng, hai sự lựa chọn.
Chúa không chỉ ban cho tự do để chọn lựa nhưng còn dạy rõ kết quả hay hậu quả của sự chọn lựa đúng sai, phải trái, giữa hai con đường sự sống, ơn phước và sự chết, rủa sả.
ĐCT dùng Mô-se nhắc dạy rõ cùng dân sự: Hăy xem, ngày nay ta đặt trước mặt ngươi sự sống và phước lành, sự chết và tai họa, vì ngày nay, ta bảo ngươi thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đi trong các đường lối Ngài, và gìn giữ những điều răn luật lệ và mạng lịnh Ngài, để ngươi sống, gia thêm, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi trong xứ mà ngươi sẽ vào nhận lấy. Nhưng nếu lòng ngươi xây trở, không khứng nghe theo, chịu dụ dỗ thờ lạy và hầu việc các thần khác, thì ngày nay ta tỏ cùng các ngươi rằng các ngươi hẳn phải tuyệt diệt, không được sống lâu trên đất mà ngươi sẽ đi qua sông Giô-đanh đặng nhận lấy. Ngày nay, ta bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng ta đă đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự rủa sả. Vậy, hăy chọn sự sống, hầu cho ngươi và dòng dơi ngươi được sống (PTLLK 30:15-19)
- Cho dù KTCU có nhiều luật pháp, điều răn nhưng tóm lại chỉ có hai sự lựa chọn: hoặc thờ phượng Chúa hết lòng, hoặc không - Hỡi Y-sơ-ra-ên! hăy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. (PTTLK 6:4-5)
- Thi thiên 1 cho thấy hai loại người: người công bình và kẻ độc ác. Vì Đức Giê-hô-va biết đường người công bình, Song đường kẻ ác rồi bị diệt vong. (1:6)
- Vậy các lời dạy trong KTCU hoàn toàn phù hợp với lời ĐCJC dạy trong bài giảng trên núi về hai con đường mà người theo Ngài phải quyết định và chọn lựa. ĐCJC khuyên bảo và chỉ rất rõ về con đường phải đi: Hăy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít. (Ma-thi-ơ 7:13-14)
Former president Ronald Reagan once had an aunt who took him to a cobbler for a pair of new shoes. The cobbler asked young Reagan, "Do you want square toes or round toes?" Unable to decide, Reagan didn't answer, so the cobbler gave him a few days. Several days later the cobbler saw Reagan on the street and asked him again what kind of toes he wanted on his shoes. Reagan still couldn't decide, so the shoemaker replied, "Well, come by in a couple of days. Your shoes will be ready." When the future president did so, he found one square-toed and one round-toed shoe! "This will teach you to never let people make decisions for you," the cobbler said to his indecisive customer. "I learned right then and there," Reagan said later, "if you don't make your own decisions, someone else will."
- Chỉ có một con đường chính đạo chứ không phải đường nào cũng đến La-mã! - Người VN thường nói: Đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy người ta ăn hiền ở lành. Hay có nhiều con đường khác nhau dẫn đến đạo, để đạt được đạo. KT dạy chỉ có một con đường dẫn đến sự sống: con đường hẹp trong ĐCJC. Rất nhiều người lấy làm khó chịu và bất mãn vì tại sao KT lại cả quyết, khẳng định là sự sống đời đời chỉ tìm được trong ĐCJC.
Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha (Giăng 14:6).
Chừng ấy tức là Đức Chúa Trời đă ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống. (1 Giăng 5:11-12) Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. (CV 4:12)
- [slide] Sự thật trong lời Chúa dạy đem đến tự do thật sự. Bấy giờ Ðức Chúa Jesus nói với những người Do-thái đã tin Ngài, “Nếu các ngươi tiếp tục vâng giữ lời Ta, các ngươi là môn đồ thật của Ta. Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi được tự do.” (Giăng 8:31-32 – BD2011)
Thần của Chúa ngự trên Ta: Vì Ngài đã xức dầu cho Ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai Ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa. (Lu-ca 4:18-19)
Tuy nhiên thông thường loài người chúng ta chọn con đường trái với con đường của ĐCT. Tại sao? Vì bản tính tội lỗi và bởi vì sự cám dỗ của ma quỉ.
BẠN CHỌN ĐƯỜNG NÀO?
Sự chọn lựa thông thường của loài người là đi tắc, đi con đường mình chọn, con đường đem lại lợi nhuận cao cho mình, gia đình mình, dù người khác có phải trả giá đắt (như tham nhũng, hối lộ để xây cầu, xây nhà với xi măng thiếu chất liệu có thể thiệt mạng nhiều người. [Hình con đường tắt]
Một vị bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Richard Teo Keng Siang, người Singapore. Ông qua đời ở tuổi 40 vì căn bệnh ung thư phổi, lúc đó ông đang ở đỉnh cao của sự giàu sang vì ở Singapore ngành phẫu thuật thẩm mỹ là ngành hái ra tiền. Xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, và được mọi người bảo ban rằng “thành công là hạnh phúc, thành công có nghĩa là giàu có”, nên ngay từ nhỏ ông đã là một người rất ghanh đua, quyết tâm học tập để vào được trường y khoa. Tốt nghiệp chuyên khoa giải phẫu mắt, nhưng nhận thấy con người có thể bỏ ra 10 ngàn đô một cách dễ dàng chỉ để sửa cái mũi, hút một chút mỡ bụng dư thừa, nhưng lại tiếc 20 đô đi khám bệnh. Ông đã trở thành triệu phú nhanh chóng vì có rất nhiều bệnh nhân. Trong bài viết của mình để lại sau khi được chẩn đoán đang ở giai đoạn cuối của ung thư phổi, ông đã nói “sự thành cộng, xe cộ, nhà cửa, những thứ mà tôi nghĩ đã đem hạnh phúc đến cho tôi, khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari để ngủ…Tôi đã nghĩ là tôi đã chế ngự được mọi chuyện và đạt đến đỉnh vinh quang, nhưng tôi lầm.” Vị bác sĩ này cũng tâm sự với các bác sĩ trẻ khác suy nghĩ của ông trước khi qua đời “Đừng để xã hội bảo ban các em cách sống, đừng để môi trường bắt các em phải làm gì. Không phải do người khác bảo ban mà các em quyết định, sống cho mình hay mang đến sự tốt đẹp cho đời sống của người khác. Hạnh phúc thật sự không có được khi chỉ sống cho mình. Đừng giống như tôi, tôi không còn cách nào khác và đã phải trả giá quá đắt cho bài học này.”
- Người VN thường nói: Đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy người ta ăn hiền ở lành. Hay có nhiều con đường khác nhau dẫn đến đạo, để đạt được đạo. KT dạy chỉ có một con đường dẫn đến sự sống: con đường hẹp trong ĐCJC. Rất nhiều người lấy làm khó chịu và bất mãn vì tại sao KT lại cả quyết, khẳng định là sự sống đời đời chỉ tìm được trong ĐCJC.
- Nhưng đường hẹp dẫn đến sự sống: sự sống ý nghĩa, vui thỏa trong đời này và sự sống đời đời trên thiên đàng sau khi qua đời
Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha (Giăng 14:6).
Chừng ấy tức là Đức Chúa Trời đă ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống. (1 Giăng 5:11-12) Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. (CV 4:12)
- Chính ĐCJC cũng nhận Ngài là cửa hẹp dẫn đến sự sống: Chính Ta là cửa ra vào: Ai qua Ta mà vào sẽ được cứu. Người ấy vào, ra và tìm được đồng cỏ (Giăng 10:9)
- Tin nhận ĐCJC, thật tâm theo Chúa, làm môn đồ Ngài là chọn đi con đường hẹp dẫn đến sự sống. Không những được sự sống đời đời trên thiên đàng nhưng còn được sự sống vĩnh phúc như lời ĐCJC hứa: Kẻ trộm chỉ đến để cướp, giết và hủy diệt; còn Ta đã đến để chiên được sống và sống sung mãn (Giăng 10:10)
- Chúng ta hỏi: tại sao ĐCJC ví đường dẫn đến sự sống là đường hẹp?
Bởi vì chỉ có một ĐCT, một sự cứu rỗi qua ĐCJC, chỉ có một hội thánh, một thân thể là hội thánh mà đầu là Chúa, chỉ có một lễ báp-tem, một tiệc thánh. Chỉ có một lẽ thật tuyệt đối, chỉ có một KT ghi lại lời ĐCT khải thị cho loài người.
Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi; 5 chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem; 6 chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người. (Eph 4:4-6)
Bởi vì khó đi. Gặp nhiều thử thách khi phục vụ. Sẽ vấp ngã bởi cám dỗ, chống đối, phá hại. Sẽ bị chê cười vì khờ dại.
Bởi vì ít người đi. Nhiều người nghe về Chúa nhưng chỉ một số ít tin Chúa. Trong số ít tin Chúa đó, một số thật tâm theo Chúa, làm môn đồ Ngài. Trong số môn đồ, một số ít hơn được chọn làm sứ đồ.
- Còn con đường kia, rộng rãi với biết bao nhiêu sự lựa chọn. Không thích góc này thì tìm nơi góc nọ. Không thích ngã nay thì sang ngã kia. Con đường đi thong dong, dễ dàng. Sống theo sở thích, theo vật chất, theo thế gian.
- Ví dụ như Áp-ra-ham và Lót, như Billy Graham và Charles Templeton. Templeton trở nên người hoài nghi rồi từ bỏ Chúa. Trước khi mất năm 2001 (86 tuổi) ông viết một quyển sách tựa đề “Farawell to God”.
- KT khẳng định sự cứu rỗi và sự sống đời đời không đến bởi một cách nào khác, một con đường nào khác ngoài ĐCJC. Không đến từ việc ăn hiền ở lành, từ giữ lương tâm trong sạch. Không đến từ đạo đức, phẩm hạnh của người gia giáo. Không đến từ khoa học, kỷ thuật. Không đến từ các tôn giáo.
- ĐCJC không chỉ nêu ra hai con đường để chúng ta chỉ nghe, chỉ biết. Nhưng để quyết định và chọn lựa: Hăy vào cửa hẹp. Sau khi nghe lời dạy của ĐCJC chúng ta không thể trung dung hay bàn quan, không thể đứng cả hai bên hay lúc này đi bên này, lúc nọ đi bên kia. PHẢI CHỌN MỘT TRONG HAI CON ĐƯỜNG.
- Đường hẹp không phải chỉ về sự cứu rỗi nhưng còn cho cả môn đồ Chúa: Ví dụ như sự trung tín thờ phượng ngày Chúa nhật, lấy ngày nghĩ làm nên ngày thánh dù biết rằng có thể thêm lợi nhuận. Như việc chớ bỏ sự nhóm lại như mấy người hay làm: nghĩ rằng họ có thể tự học KT ở nhà hay chỉ mình thông công cùng Chúa.
Đường hẹp là chọn làm theo lời KT dạy dù có khi như phải thua thiệt, thiếu khôn ngoan, như nhường nhịn, tha thứ thay vì đòi hỏi quyền mình hay ăn miếng trả miếng, trả thù.
4 tính hạnh quan trọng căn bản trên nền Đấng Christ của mỗi tín đồ HT là: đức tin, phục vụ, trái TL, sự hiệp một. 4 tính hạnh này chỉ có thể đến khi chúng ta vâng phục ĐTL và chọn làm theo lời KT dạy trong đời sống hằng ngày.
- Đến cuối đời một vị tướng của dân Y-sơ-ra-ên là Giô-sua, người đã dẫn dân Chúa vào đất hứa tiếp tục chọn con đường cho chính ông và gia đình ông: [9b] Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hăy chọn ai mà mình muốn phục sự, hoặc các thần mà tổ phụ các ngươi đă hầu việc bên kia sông, hoặc các thần dân A-mô-rít trong xứ mà các ngươi ở; nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va. (Giô-sua 24:15).
- Mỗi người phải lắng nghe, tìm hiểu, cân nhắc để rồi quyết định và lựa chọn một trong hai con đường: đường hẹp của ĐCT qua ĐCJC dẫn đến sự sống vĩnh phúc đời đời dù có thể gặp nhiều chống đối, chế diễu, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống vật chất này; đường rộng của thế gian mà hầu hết đang chọn đi. Tín đồ dù đã chọn đi đường hẹp tin Chúa nhưng biết bao lần lại tách bỏ đường hẹp để chạy đuổi đường rộng của thế gian.
