Nói Sự Thật Trong Tình Yêu Thương
Nhiều năm trước đây hiệu trưởng của một trường trung học tư lập nổi tiếng nhất tại Albq và cả tiểu bang NM viết một bài dài về lợi ích của sự hoài nghi trong giáo dục. Ông viết: Dần dà trong nhiều năm qua ngày tôi càng ý thức rõ rằng yếu tố không thể thiếu được trong các hoạt động giáo dục là sự hoài nghi. Sự vắng mặt của điều này là một nan đề cho cả học đường và xã hội. Từ hoài nghi thường bị xem như một điều tiêu cực nhưng tôi muốn nhắc rằng điều này không nhất thiết như vậy. (It has been dawning on me for many years, though, that the crucial element of doubt is missing in these events. This absence is a problem for both schools and society. The very word doubt itself usually is viewed negatively but I would suggest that this should’nt always be the case)
Tôi hiểu ý của những lời viết này: rằng học sinh cần phải có một đầu óc cởi mở để thu nhận các ý kiến, tư tưởng khác nhau trước khi đưa đến kết luận. Tuy nhiên tôi e rằng nhiều học sinh và cả phụ huynh khi đọc bài viết này có thể kết luận cách sai lầm rằng: trong mọi điều, phải hoài nghi bởi vì không có gì trong đời này là sự thật tuyệt đối cả!
Trở lại gần 30 năm trước đây một quyển sách rất nổi tiếng của một giáo sư trường đại học Chicago là Alan Bloom viết về lý do của sự suy đồi của nền đại học tại Hoa Kỳ là chủ nghĩa tương đối (relativism), đặc biệt là tương đối về đạo đức. Trong lời mở đầu của sách The Closing of the American Mind, giáo sư Alan Bloom viết: Có một điều chắc chắn, tuyệt đối mà giáo sư đại học có thể tin được là hầu hết các sinh viên bước vào đại học đều tin hay nói rằng họ tin rằng sự thật là điều tương đối.
Hai tuần tới các con em chúng ta sẽ trở lại trường học, bắt đầu một năm học mới. Trong mỗi cấp từ tiểu học đến trung học và dĩ nhiên trong đại học, học sinh, sinh viên đều được dạy rằng không có gì là tuyệt đối cả, mọi điều, mọi sự thật đều tương đối. Điều thật, điều đúng cho anh, chị không chắc đúng, phải, hay thật cho tôi. Đây là một trong những lý do chính mà thế hệ trẻ ngày nay, không những nghi ngờ về sự hiện hữu của ĐCT mà ngay những người nhận mình tin Chúa cũng hoài nghi sự thật của lời Chúa trong KT.
NHỮNG ĐIỀU TÔI TIN
Chính vì lý do này hội thánh và tín đồ cần xác nhận rõ ràng về niềm tin vào sự thật tuyệt đối của lời Chúa dạy và quyền làm chủ của Ngài trên đời sống mỗi chúng ta. Đây là điều hội thánh chúng ta tin:
1. KT là lời hằng sống của ĐCT khải thị cho loài người để có thể biết về Ngài, biết về sự cứu rỗi qua Ngôi Hai ĐCT là ĐCJC, biết cách sống đẹp lòng Chúa, biết về hy vọng và tương lai của cuộc sống đời đời trên thiên đàng.
2. ĐCJC là ĐCT, Ngôi Hai của ba Ngôi ĐCT. Ngài sinh ra bởi người nữ đồng trinh, sống cuộc đời hoàn toàn vô tội, và chết trên thập giá để cứu tội loài người. Đến ngày thứ ba Ngài sống lại, hiện ra cùng các môn đồ, dạy dỗ họ trong 40 ngày trước khi thăng thiên về trời. Hiện Ngài đang ngồi bên hữu ĐCT và cầu nguyện thay cho chúng ta.
3. Ai tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa, chết cho tội lỗi sẽ được cứu. Họ sẽ được ban cho ĐCT, Ngôi Ba ĐCT, hiện diện trong đời sống để nhắc nhở, sửa dạy, yên ủi trong bước đường theo Chúa.
4. ĐCJC sẽ tái lâm, hay trở lại thế gian này lần thứ hai để cai trị. Đến ngày cuối chính Ngài cũng là Đấng sẽ phán xét mọi người.
Quí vị có tin tưởng tuyệt đối vào những điều này hay không? Hay còn tùy trường hợp, giai đoạn trong đời sống?
SỰ THẬT MẤT LÒNG NGƯỜI NGHE
PA Giăng 6 kể một câu chuyện về ĐCJC và những người nghe lời dạy của Ngài, gồm cả các sứ đồ. Sau khi ĐCJC làm phép lạ hóa bánh cho 5000 người ăn, Ngài rời nơi đó để sang bên kia bờ biển Ga-li-lê. Khi biết được, đoàn dân đông qua bên bờ kia để tìm Chúa. ĐCJC nói rõ với họ Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi tìm ta chẳng phải vì đã thấy mấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được no. (Giăng 6:26).
Một số trong đoàn dân đông đó chắc nghĩ rằng phép lạ dù hấp dẫn thật nhưng nếu bụng đói thì có ích lợi gì! Họ chỉ mong theo Chúa để được ăn no. Chúa biết và nói rõ sự thật đó cho họ. Rồi cuộc đối thoại dẫn đến bánh trên trời (mana). Khi nghe bánh trên trời họ hỏi xin không kịp: Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn! (6:34).
Nhưng khi họ nghe Chúa nói rằng Ngài là bánh hằng sống từ trời thì họ bắt đầu phàn nàn, lằm bằm rồi xì xầm với nhau: chẳng phải người này là con Giô-sép và Mari sao. ĐCJC dạy tiếp rằng nếu muốn được sự sống đời đời thì họ phải nhận bánh hằng sống này tức thân thể Chúa. Sau khi nghe lời này KT viết họ bắt đầu cải vã với nhau.
Người ta muốn có bánh ăn, từ bên đây hồ chịu khó theo Chúa sang bên kia hồ. Nhưng khi ĐCJC bắt đầu nói về sự thật thì họ bất mãn, bắt đầu xa lánh, bỏ đi. Ai cũng tự tuyên bố rằng mình chỉ muốn nghe sự thật nhưng khi được nghe sự thật không bùi tai mình, no bụng mình, hay sự thật về sự tội lỗi trong đời sống mình, về sự cứu rỗi thì lại lằm bằm: Những lời này sao khó nghe, ai tin cho được!
Khi Chúa nói về thân và huyết Ngài mà người tin phải nhận lấy thì cả các môn đồ cũng lằm bằm với nhau rằng: Lời nầy thật khó; ai nghe được?(6:60). Rồi một số bỏ đi. KT viết: Từ lúc ấy, có nhiều môn đồ Ngài trở lui, không đi với Ngài nữa.(6:66) Chúa hỏi 12 sứ đồ rằng họ có muốn bỏ đi hay không? Phi-e-rơ, phước thay cho Phi-e-rơ, dù có lúc hồ đồ, hấp tấp nhưng luôn có lòng chân thành. Phi-e-rơ trả lời: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời. (6:68-69)
Bài học: Chúng ta không thể đọc và tin KT, tin vào lời dạy của ĐCJC cách chọn lọc: nếu lời dạy nào lợi với mình, bùi tai hay hiệp ý mình thì mới tiếp nhận, tin theo; nhưng những lời dạy nào không thuận với quan điểm sống, không bùi tai thì bỏ ra ngoài!
SỨ GIẢ KHÔNG TOÀN THIỆN
Theo ĐCJC là theo sự thật bởi vì Ngài chính là sự thật. Ta là đường đi, lẽ thật, sự sống. Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt rõ theo ĐCJC là theo sự thật, nhưng theo các sứ giả của Chúa, dù là sứ đồ hay mục sư hay Đức Giáo Hoàng không phải là theo sự thật bởi vì họ không phải là sự thật. Họ chỉ biết về sự thật.
Mặc dù lời Chúa là sự thật tuyệt đối nhưng tất cả các sứ giả rao truyền, chia xẻ, giảng dạy lời Chúa đều là tội nhân, đầy những thành kiến, thiên vị, tội lỗi, thậm chí đạo đức giả, nói một đàng làm một nẽo. Ngay cả các sứ đồ trong KT, những người được gọi là thánh, thì họ cũng mang những tì vết, tội lỗi. Bởi vì họ cũng là người như chúng ta. Sứ đồ Phao-lô viết trong thơ gởi Ti-mô-thê: Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. (I Ti-mô-thê 1:15)
Mặc dù Đấng ban cho chúng ta lời hằng sống là Đấng vô hạn, vô biên, loài người chúng ta là loài hữu hạn. Sự hiểu biết chúng ta luôn bị giới hạn. Không chỉ giới hạn về kiến thức, nhưng nhiều lúc vì bản tính tội lỗi, vì thành kiến hay thiên vị mà sứ giả giải thích lời Chúa sai lầm. Như ngày xưa người da trắng dùng KT để bảo vệ chế độ nô lệ hay người chồng có thể dùng KT vợ phải vâng phục chồng trong mọi sự như hội thánh vâng phục Đấng Christ để làm cớ buộc vợ làm theo mọi điều mình muốn.
Chính vì hai lý do này mà chúng ta cần phân biệt rõ về sự chân thật tuyệt đối của ĐCT và lời Ngài với sứ giả tội lỗi, giới hạn trong sự hiểu biết.
Thêm vào hai điều này là dù KT là lời hằng sống, tuyệt đối của ĐCT cho loài người, KT không phải là một bản chỉ dẫn đầy đủ mọi chi tiết cho mọi hoàn cảnh, mọi thời đại, cho mỗi cá nhân. KT gồm những nguyên tắc có thể ứng dụng cho mọi hoàn cảnh, mọi thời đại, mọi cá nhân nhưng không ghi lại những cụ thể, chi tiết từng trường hợp.
Ví dụ KT viết về phẩm hạnh đòi hỏi của người hầu việc Chúa, về điều kiện đạo đức, cách sống của họ nhưng không hề nói về lễ phong chức phải được tiến hành thế nào. KT viết về quan hệ chồng vợ trong hôn nhân, quan hệ cha mẹ, con cái trong gia đình nhưng không hề viết về cách thức làm lễ cưới hay khi cưới xong rồi chồng vợ phải ở đâu, sống đâu, làm gì. KT viết về vai trò, trách nhiệm của những người lãnh đạo hội thánh nhưng không viết về cách thức tổ chức, hành chánh. KT dạy phải cử hành tiệc thánh thường xuyên để nhớ đến và rao sự chết của ĐCJC cho đến lúc Ngài đến nhưng không dạy phải cử hành mỗi tuần hay mỗi tháng.
Chính vì lý do này nên chúng ta có những hệ phái khác nhau với cách thức tổ chức, cách thức thờ phượng khác nhau. Hệ phái CMA tổ chức theo hàng dọc, từ trên bổ nhiệm mục sư đến hội thánh địa phương; hệ phái Báp-tít chủ trương mỗi hội thánh địa phương đều độc lập về hành chánh, tổ chức, trong việc lựa chọn người mục sư, lãnh đạo hội thánh.
Vậy điều quan trọng nhất khi nói về sự thật, chúng ta cần nhận biết, hiểu rõ lời KT. Như Lu-ca ghi lại về tín đồ xứ Bê-rê: Những người nầy có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng. (CV 17:11)
Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều cần người dạy KT cho chúng ta. Chúng ta tin vào sự liêm chính, chân thật, tin vào công sức người dạy lời Chúa bỏ ra để chuẩn bị, tin vào sự hiểu biết của họ về lời Chúa. Nhưng mỗi người đều có trách nhiệm tìm hiểu, học hỏi lời Chúa để không chỉ ngày càng vững chải trong sự hiểu biết nhưng còn để nhìn thấy những điều dạy dỗ sai lầm của các giáo sư giả, làm lạc đường chiên con Chúa. Chính vì vậy hội thánh tìm mọi cách để khuyến khích động viên tín hữu đọc KT hằng ngày, hằng tuần. Trách nhiệm của mục sư, người dạy KT là để giúp các tín đồ theo thời gian có thể tự học và nhận biết đúng sai.
Vì vậy sự thật không hề thuộc về một cá nhân, một hội thánh, một hệ phái nào cả nhưng thuộc về lời Chúa, thuộc về ĐCT. Tuy nhiên tất cả chúng ta đều có thể nhận biết sự thật nếu có ĐTL trong đời sống, không phải một ngày, một buổi, nhưng dần dần được khải thị với thời gian. Hình ảnh này được tả trong CN 4:18: Con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, Càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa.
NÓI SỰ THẬT TRONG TÌNH YÊU THƯƠNG
PL viết trong Ê-phê-sô 4:14-15: Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ.
Câu KT này khẳng định không có sự mâu thuẫn, sung khắc, đối lập giữa sự thật và tình yêu thương. Trái lại sự thật và yêu thương gắn liền với nhau, đi đôi với nhau. Yêu thương mà không nói sự thật là yêu thương mù quán, vô nghĩa. Yêu thương không sự thật chẳng những không giúp gì được mà chỉ đem lại tai hại. Nhưng sự thật mà không có tình yêu thương thì không ai muốn nghe, muốn tin. Sự thật không yêu thương làm cho người ta sợ hãi, tránh xa dù biết điều mình nghe là thật.
Dĩ nhiên tình yêu thương có lúc làm cho lý trí mù quán, ảnh hưởng đến suy nghĩ, quyết định. Chẳng phải người Việt chúng ta thường nói: Khi yêu trái ấu cũng tròn, khi ghét bồ hòn cũng méo hay sao? Khi yêu thương ai, dù có thấy lỗi trăm bề cũng có thể bỏ qua hay làm nghe lại. Khi đã ghét rồi lỗi nhỏ cũng sẽ hóa to. Khi yêu thương chúng ta dễ tin người nói, dù có dối cũng thành thật. Nhưng khi đã ghét rồi thì dù nói thật cũng không thèm nghe.
Điều này thường thấy trong hội thánh giữa mục sư, tín đồ, giữa tín đồ và tín đồ. Tín đồ thương mến mục sự thì chú ý đến lời giảng, amen đồng ý. Khi ghét rồi thì giảng gì cũng không muốn nghe.
Nói sự thật trong tình yêu thương là nói với sự hiểu biết, thông cảm người đối diện. Là để giúp thay đổi chứ không phải để hạ thập, làm nhục hay làm nư cơn giận. Chúng ta đọc 1 Cô-rinh-tô 13: 6 về tình yêu thương thật sự chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến. (Ê-phê-sô 4:29). Giúp chớ không phải hạ thấp hay làm cho xấu hổ, nhục nhả.
Có người nói sự thật, lời Chúa trong KT là gươm hai lưỡi đâm thấu hồn linh cốt tủy nên dùng lời Chúa để đâm người ta! Hình ảnh đúng hơn là con dao giải phẩu trong tay của một người bác sĩ chuyên nghiệp, tài giỏi; bác sĩ đó là ĐTL. Chính Ngài sẽ dùng lời KT để thúc dục, cảm động, cáo trách, khuyên răn, dạy bảo. Tôi và quí vị chỉ có trách nhiệm chia sẻ. Và chia sẻ cách khéo léo, tế nhị.
Khi Đa-vít phạm tội, tiên tri Na-than đến để chỉ cho vua về tội đã phạm. Na-than kể cho Đa-vít nghe chuyện của một người giàu có cướp lấy con cừu duy nhất của người nghèo khó. Khi nghe chuyện, Đa-vít nổi giận. Na-than mới nói với vua: vua là người đó!
Lời Chúa cũng có thể được xem như hạt giống thay vì đá chọi cho đến chết. Không phải hạt giống nào cũng mọc thành cây cả. ĐCJC đã dạy rõ điều này qua ngụ ngôn về 4 loại đất. Cũng có khi sự thật vô ích với những người KT gọi là người nhạo báng. Đây là những người đã nghe sự thật nhưng từ chối, rồi tìm cách để bác bỏ. Với những người này KT dạy: Ai trách dạy kẻ nhạo báng mắc phải điều sỉ nhục, Ai quở kẻ hung ác bị điếm ố. Chớ trách kẻ nhạo báng, e nó ghét con; Hãy trách người khôn ngoan, thì người sẽ yêu mến con. Hãy khuyên giáo người khôn ngoan, thì người sẽ được nên khôn ngoan hơn; Khá dạy dỗ người công bình, thì người sẽ thêm tri thức nữa. (CN 9:7-9)
Trong 3 năm theo Chúa Giu-đa cũng như 11 sứ đồ khác đã có dịp nghe sự thật từ chính Sự Thật (viết chữ hoa), nhưng cuối cùng chọn bán thầy mình với giá 30 miếng bạc. Có người sẽ đổi sự thật để lấy tiền bạc. Dù bao nhiêu năm cùng hầu việc Chúa cùng Phao-lô và các môn đồ khác, cuối cùng Đê-ma vì ham mê thế gian mà rời bỏ PL. Có người sẽ đổi sự thật để được vật chất thế gian này. Cả Giu-đa, lẫn Đê-ma đều biết sự thật nhưng quyết định bán rẽ sự thật để đổi lấy cái lợi vật chất trước mắt.
Chúng ta không có trách nhiệm về quyết định của những người trưởng thành. Trách nhiệm chúng ta là nói sự thật về Chúa, về KT trong tình yêu thương thật sự. Kết quả ở nơi ĐCT như PL đã dạy: Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên. 7 Vậy, người trồng kẻ tưới, đều không ra gì, song Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên. (1 Cô-rinh-tô 3:6-7)
HAI LỜI KÊU GỌI
Tôi muốn kết luận với hai lời kêu gọi: 1) Ai chưa biết hay chưa tin sự thật về sự cứu rỗi, hãy tìm kiếm hết lòng thì sẽ tìm được, 2) Khi KT không ghi rõ, dạy rõ cách cụ thể, hẳn hoi về một sự thật nào đó thì chúng ta nên cẩn thận để anh chị em mình có sự tự do quyết định. Đọc, học, suy gẫm Rô-ma 14
Ai Tìm Sẽ Gặp, Ai Gõ Cửa Sẽ Được Mở
Tục truyền tại vùng núi Alps ở Âu Châu giữa hai nước Ý (Italy) và Thụy Sĩ (Switzerland) có một nhân vật ở cạnh một hồ nước xanh biết. Khuất giữa những dãy núi cao đầy sương phủ kín, đường đi khó khăn, nguy hiểm ngoại trừ một con đường nhỏ hẹp dẫn đến hồ nước trong trũng giữa hai rặn núi cao. Nếu ai có thể tìm được hồ nước đó thì cũng sẽ thấy một nhân vật lạ lùng, cao lớn, tóc bạc, mặc áo trắng toga như các quan vua thời La-mã. Ông ấy quì gối bên cạnh hồ nước trong xanh mà không hề ngẩn đầu lên dù biết có người đi tới. Tay ông nhúng vào nước hồ để chùi rửa. Miệng không ngừng than van “Ta vô tội, ta vô tội huyết của người này” Truyền thuyết cho biết người đàn ông đó đã rửa tay mình trong hồ và lập đi lập lại những lời than vãn này trong suốt 20 thế kỷ qua. Hắn là Phi-lát, người vì áp lực mà xử đóng đi Jêsus trên thập tự. KT viết sau khi Phi-lát thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn ào càng thêm, thì lấy nước rửa tay trước mặt thiên hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người nầy; điều đó mặc kệ các ngươi. (Ma-thi-ơ 27:24).
Nhưng cũng Phi-lát trong buổi sáng đó, trước khi xử chết và giao ĐCJC cho người DT, có cơ hội trò chuyện cùng Chúa. Khi nghe ĐCJC nói: Thật như lời, ta là vua. Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta. (Giăng 18:37) thì hắn hỏi Chúa: Sự thật là gì? Dù Phi-lát hỏi nhưng hắn không hề muốn nghe câu trả lời, muốn tìm hiểu sự thật từ ĐCJC.
Lời Chúa hứa chắc chắn rằng Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng. (Giê-rê-mi 29:13), Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho. (Ma-thi-ơ 7:7)
Nếu trong vòng quí vị có ai đang chân thành muốn tìm sự thật về Chúa, cho dù vẫn còn đang hoài nghi, còn đang có nhiều câu hỏi không câu trả lời, thì những lời hứa này là sự bảo đảm của ĐCT. Khi thật sự tìm kiếm, quí vị sẽ gặp, khi thật sự gỏ cửa thiên đàng, cửa sẽ mở cho quí vị.
Tự Do Trong Chúa
Thời PL giảng đạo, một câu hỏi là tín đồ có được ăn đồ cúng. Câu hỏi này không khác gì với điều người Việt chúng ta thường hay hỏi. Câu trả lời của PL có thể tóm tắt như sau: Thật ra không có thần chúa nào khác ngoài ĐCT và ĐCJC là Con Ngài. Vì không có thần nào khác nên của cúng cho các thần ấy cũng chỉ là vô nghĩa vì người cúng không biết ĐCT. Vậy đối với người tín đồ trưởng thành hiểu biết thì đồ cúng thần giả hay không cúng cũng là thức ăn ĐCT ban cho. Vậy họ có thể ăn đồ ăn đó. Tuy nhiên có những tín đồ non nớt hơn không hiểu rõ điều đó nên họ nghĩ rằng ăn đồ cúng là điều sai quấy. Để giúp các tín đồ non nớt khỏi vấp ngã, tín đồ trưởng thành dù có quyền ăn đồ cúng nhưng vẫn sẽ không ăn. Vậy trong vấn đề này tín đồ có sự tự do nhưng chớ dùng sự tự do đó mà làm cho anh chị vấp ngã.
PL viết dạy về nguyên tắc này như sau: Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ. Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi. Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người... Vậy chúng ta hãy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau. Chớ vì một thức ăn mà hủy hoại việc Đức Chúa Trời. Thật mọi vật là thánh sạch; nhưng ăn lấy mà làm dịp cho kẻ khác vấp phạm, thì là ác. (Rô-ma 14:1-2; 19-20)
Một nguyên tắc mỗi tín đồ và hội thánh chúng ta nên nhớ và giữ: Trong việc chính yếu, hiệp một; trong việc không chính yếu, tự do; trong mọi việc, yêu thương (In essential unity, in non-essential liberty, in all things charity).
