[Ôn lại vài điều trong bài giảng tuần rồi: 1) Các từ chung và nghĩa; 2) 3 điều về TL]
Một lời dạy vô cùng quan trọng về TL từ chính ĐCJC là về sự tái sanh trong sách Giăng 3. Trước khi giải thích về ý nghĩa của sự tái sanh tôi muốn giới thiệu về bối cảnh của câu chuyện mà chúng ta có thể gọi là cuộc gặp gỡ trong đêm.
CUỘC GẶP GỠ TRONG ĐÊM
Sách Giăng đoạn 3-4 ghi lại hai cuộc gặp gở của ĐCJC với hai người hoàn toàn khác biệt: một người đàn ông tên Ni-cô-đem, và một phụ nữ không tên người Sa-ma-ri. Cuộc gặp gỡ của Ni-cô-đem với ĐCJC tương phản rất nhiều với cuộc gặp gỡ của Chúa và người đàn bà Sa-ma-ri:
1) Ni-cô-đem: nam giới, người Pha-ri-si, thành viên của Sanhedrin, tòa thẩm phán tối cao của dân DT, một người có học thức, hiểu biết kinh luật Mô-se, có quyền chức, địa vị, giàu có. Được dân chúng, xã hội kính trọng. Người đàn bà Sa-ma-ri: không tên, vô danh, dân ngoại, kém đạo đức (5 đời chồng và đang sống chung với người đàn ông không phải là chồng). Bị dân chúng, xã hội xem rẽ.
2) Xảy ra trong đêm. Ni-cô-đem chủ động, tự ý đến tìm Chúa nhưng sợ người khác biết. Xảy ra lúc giữa trưa (giờ thứ 6, tức 12 giờ trưa). Chính ĐCJC bắt đầu câu chuyện.
3) N. bắt đầu cuộc đối thoại và Chúa không hề hỏi N. Chúa bắt đầu cuộc đối thoại với lời hỏi xin nước.
4) Nội dung câu chuyện trừu tượng, phức tạp hơn đến nỗi N. cũng không hiểu được. Cuộc đối thoại giữa Chúa và người đàn bà S. đơn giản, dễ hiểu đến nỗi bà có thể hiểu hết được.
v. 1: N. là người Pha-ri-si:
Nhóm người được nhắc đến nhiều nhất trong KT TU. Theo sử gia Josephus thì trước khi đền thờ thành Jer. bị quân La-mã đốt rụi vào năm 70 như lời ĐCJC tiên tri thì số người P. ~6,000.
Tên có nghĩa là những người biệt lập (bản dịch MSTS Lê Hoàng Phu) hay tách rời khỏi. Tách rời khỏi dân chúng. Tách rời để học và hiểu rõ luật pháp. Tách rời khỏi người ngoại
Thuộc thành phần trung lưu, thường là những người buôn bán. Được dân chúng Do Thái ủng hộ
Thề hứa trước 3 nhân chứng rằng cả cuộc đời sẽ vâng giữ luật pháp Mô-se, tóm lại trong 10 điều răn
Tin tuyệt đối vào KT CU. Vâng giữ điều luật cách nghiêm nhặt như giữ ngày Sa-bát, dâng hiến, các lễ làm sạch theo luật pháp Mô-se.
Tin vào sống lại và cuộc sống đời sau
Các học giả cho biết có tất cả 613 điều răn, luật lệ người Do Thái thời đó phải tuân giữ: 248 điều nên làm, phải làm và 365 điều không nên làm, nên tránh. Những điều luật cần vâng giữ từ 10 điều răn và các luật pháp khác trong cuộc sống mỗi ngày được ghi lại trong sách Mishnah. Theo sách thì chỉ riêng phần vâng giữ ngày Sa-bát gồm 24 đoạn. Họ còn có một quyển sách khác gọi là Talmud, gồm những giải nghĩa về sách Mishnah. Trong sách Talmud về ngày Sa-bát gồm 156 trang.
N. là một người trong những kẻ cai trị dân Giu-đa (lãnh đạo); thành viên của ban lãnh đạo dân (Sanhedrin – 71 người được chọn để quyết định, xét xử những sự việc quan trọng).
Có học thức, chức phận, địa vị, quyền thế, giàu có
Cai trị dân chúng, có quyền quyết định sự sống chết của một người
Được sự nể nang, kính trọng của dân chúng
Dù N. là người DT nhưng tên ông là tên Hy Lạp, có nghĩa là người chinh phục dân sự. Đây là một bằng chứng cụ thể, rõ ràng nhất cho thấy ông thuộc thành phần thượng lưu trong giới người lãnh đạo và chịu ảnh hưởng bởi nền văn hóa Hy Lạp.
Đó là một phần của bức tranh tương tự rằng Nicodemus cũng có thể là một trong những gia đình nổi bật nhất ở Judea, ngay cả khi được đo lường bằng các tiêu chuẩn của cơ quan chính trị ưu tú này. Cơ sở cho giả thuyết này nằm ở chỗ Josephus, trong sách Antiquities, đã hai lần đề cập đến một gia đình Do Thái cấp cao, trong đó cái tên Nicodemus nổi bật. Ông nói với chúng ta rằng gần một trăm năm trước cuộc trò chuyện được ghi lại ở đây, khi Aristobulus, người cai trị Do Thái, cần một đại sứ tại triều đình của Pompey, hoàng đế La Mã, ông đã chọn một người đàn ông tên là Nicodemus để mang thông điệp của mình. Ông cũng viết rằng sau thời gian này, trong cuộc chiến tranh Do Thái năm 66-70 sau Công nguyên, một người đàn ông tên là Gorion được giao trách nhiệm đàm phán về sự đầu hàng của quân đồn trú tại Jerusalem và ông là con trai của một Nicodemus (hoặc Nicomedus) nào đó, người do đó sẽ sống trong thế hệ của ĐCJC. Nếu những sự thật này là quan trọng, nó có thể có nghĩa là không chỉ Nicodemus là một người cực kỳ ngoan đạo, không chỉ có học vấn cao, không chỉ là một chính trị gia, mà còn xuất thân từ một trong những gia đình nổi tiếng và nổi tiếng nhất trong cả nước. (Boice, Gospel of John)
Nói tóm lại N. là một người gương mẫu, đạo đức, đáng trọng trong xã hội. Đây là một người mà ai cũng muốn làm bạn, làm hàng xóm; một tín đồ mà mọi HT đều muốn có và được mọi người trong HT nễ trọng!
v. 2: N. đến gặp ĐCJC lúc ban đêm, sau khi mặt trời lặn, không còn ánh sáng ban ngày. Nhiều học giả nghĩ rằng đêm N. đến gặp ĐCJC là một đêm tối tăm và gió lớn vì trong câu 8 ĐCJC phán: Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Điều này cho biết rằng N. thật sự, thật sự muốn biết về Jesus cho dù trời tối và gió lớn.
Lý do gì N. đến lúc ban đêm?
Hoặc vì muốn nói chuyện riêng với Chúa hoặc vì N. sợ hay ngại những người trong nhóm Sanhedrin, hay cả dân chúng biết ông đến gặp Jêsus. Hoặc vì muốn có thời gian riêng, không bị chi phối để có thể thật sự trò chuyện cùng ĐCJC.
Có lẽ cuộc gặp gỡ này đã thay đổi suy nghĩ của N. về ĐCJC. Cũng có thể N. cũng đã được tái sanh. Sau này chính N. biện hộ khi Chúa bị xử (7:50-52) Ni-cô-đem (là người trước có đến cùng Đức Chúa Jêsus và là một người trong đám họ) nói rằng: 51 Luật chúng ta há bắt tội một người nào chưa tra hỏi đến, và chưa biết điều người ấy đã làm, hay sao? và cũng chính ông cùng Giô-sép Arimathê đến gặp Phi-lát để xin xác Chúa. Không một ai gặp gỡ ĐCJC mà không thay đổi cuộc đời. Qv là những người nói mình tin Chúa, biết Chúa, cuộc đời của qv thay đổi thế nào?
N. bắt đầu cuộc đối thoại với mấy điều đáng chú ý: 1) Đại từ chúng tôi thay vì tôi, 2) sự kính trọng với Chúa, gọi là thầy, 3) lời khẳng định chúng tôi biết thầy là người đến từ ĐCT.
Khi thấy Chúa làm phép lạ thì ông tin nhưng một số người Pharisi khác khi thấy ĐCJC đuổi quỉ thì bảo Jesus nhờ chúa quỉ (thay vì ĐCT) mà đuổi được quỉ (Mathiơ 12:24). Cả hai đều chứng kiến phép lạ nhưng phản ứng, thái độ của họ hoàn toàn khác nhau.
Có người nói: khi ĐCT làm phép lạ thì tôi tin. Với một số người điều này đúng như N. Một số khác dù có thấy phép lạ nhưng một số vẫn không tin cho là khoa học sẽ giải thích [Câu chuyện dân Y-sơ-ra-ên vượt biển đỏ - giải thích rằng chỉ vì họ đi bộ qua khúc biển cạn; nếu vậy thì việc cả đoàn quân Ai-cập chết thật là một phép lạ lớn hơn!] Lại một số khác nữa nhận được phép lạ tin Chúa nhưng sau đó rồi sự quyến rũ của đời sống khiến họ quên đi phép lạ, quên cả Chúa.
N. đến gặp Chúa với sự kính nể. Ông gọi ĐCJC là giáo sư từ ĐCT đến. Lý do? vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được. Những lời này cho chúng ta thấy một phần ý nghĩ của N. về cách thức thế nào để có thể đến với ĐCT: 1) Qua lời dạy đạo đức để có thể biết mà làm theo; 2) Nhận được phép lạ từ ĐCT như một bằng chứng về cuộc sống đẹp lòng Chúa. Suy nghĩ này cũng chính là quan điểm phổ thông nhất trong vòng người VN chúng ta.
SỰ QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TÁI SANH
v. 3: Thay vì đính chính với N. về Ngài, ĐCJC nói về sự cần thiết của sự tái sinh để được vào nước Trời. v.7 Ngươi phải được tái sanh. Từ phải nói lên một sự việc cần thiết, không thể không làm.
Câu trả lời của ĐCJC hoàn toàn không liên quan gì đến lời xác quyết của N. Chúa nói với N. và tất cả chúng ta một điều kiện hết sức quan trọng để được vào nước Trời: phải được sinh lại (tái sinh – born again). Chính vì câu KT này mà người ta gọi những người tín đồ thật sự là born again Christian! Từ quả thật lập lại hai lần là từ Amen - chắc chắn như vậy, thật như vậy.
thấy được nước Đức Chúa Trời là một mơ ước lớn nhất của người Pha-ri-si và người Do Thái. Nhưng lời dạy để có thể thấy được nước Trời, phải được tái sanh là một ngạc nhiên lớn với N. Vì N., cũng như hầu hết mọi người đều tin rằng để thấy nước Trời, họ phải vâng giữ mọi điều răn, mọi luật pháp, phải có một đời sống đạo đức hoàn toàn gương mẫu. Nói cách khác họ phải cố gắng hết sức, cố gắng cả đời mới có thể hy vọng, chỉ hy vọng, thấy được nước Trời.
Một người trẻ tuổi giàu có hỏi ĐCJC câu hỏi mà hầu hết chúng ta có lần, hoặc tự hỏi, hoặc đã nghe:
Nầy, có một người đến hỏi Ngài rằng: Thưa thầy, tôi phải làm việc lành chi cho được sự sống đời đời? (Ma-thi-ơ 19:16) Chúa trả lời: Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Sao ngươi hỏi ta về việc lành? Chỉ có một Đấng lành mà thôi. Nếu ngươi muốn vào sự sống, thì phải giữ các điều răn. 18 Người hỏi: Những điều răn gì? Đức Chúa Jêsus phán rằng: Những điều răn nầy: Đừng giết người; đừng phạm tội tà dâm; đừng ăn trộm cắp; đừng làm chứng dối; 19 Hãy thảo kính cha mẹ; và: Hãy yêu kẻ lân cận như mình. 20Người trẻ đó thưa rằng: Tôi đã giữ đủ các điều nầy; còn thiếu chi cho tôi nữa? 21 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi bán hết gia tài mà bố thí cho kẻ nghèo nàn, thì ngươi sẽ có của quí ở trên trời; rồi hãy đến mà theo ta. 22 Nhưng khi người trẻ nghe xong lời nầy, thì đi, bộ buồn bực; vì chàng có của cải nhiều lắm.
Khi nghe về từ tái sinh, sinh lại người ta có thể nghĩ đến một sáo ngữ hay về một người tội lỗi, hết thuốc chửa cần phải được thay đổi cuộc đời. Nhưng N.? Một người như N. gương mẫu, đạo đức, phẩm hạnh, chức vị, được mọi người kính trọng thì cần gì phải đổi đời? Như tôi? Tôi không cần ba thứ lẫm cẫm này: tôi có kiến thức, biết khoa học, quyết định không theo cảm xúc nhưng theo lý lẽ.
Tôi không biết khi nghe từ này thì người VN chúng ta nghĩ gì, nhưng vì sống tại HK nên tôi hiểu được phần nào phản ứng của người HK, đặc biệt các giáo sư, sinh viên trong đại học, những người trí thức sống tại những thành phố lớn như Los Angelos, NY, Boston, DC… Họ nghĩ về những người có một quá khứ không tốt, nghiện ngập, ly dị, rượu chè, hành hung trong gia đình… mà vớ lấy niềm tin vào sự tái sanh này như một cái phao cho đời họ.
Nhưng đối với người VN chúng ta từ tái sanh đây có thể được nghĩ tương tự như luân hồi. Sinh lại trong kiếp sau. Chắc chắn đây không phải là ý của ĐCJC vì KT không hề dạy về sự luân hồi nhưng dạy rằng con người chỉ sống một lần rồi chết, rồi sẽ chịu sự phán xét.
Từ lại trong sanh lại là anothen. Từ này có thể dùng cho 3 nghĩa: 1) một lần nữa, lần thứ hai; 2) từ trên cao (3:31 - Đấng từ trên cao đến là trên hết mọi loài, hay như khi tấm màng trong nơi chí thánh của đền thờ bị xé từ trên xuống khi ĐCJC chết trên thập giá (Mác 15:38); 3) trở lại từ đầu, Lu-ca 1:3 viết Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, 2 theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta.
Theo học giả FF Bruce thì có lẽ N. hiểu lầm lời này của ĐCJC nên mới hỏi làm sao một người lớn tuổi có thể trở vào lòng mẹ mà sinh lại. Nhưng từ sanh lại đây cùng một ý là sanh bởi nước và Thánh Linh (3:5) và rõ hơn hết là như Giăng đã giải thích trong đoạn 1:12-13: Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, 13 là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.
Vậy từ tái sanh thật sự có nghĩa là sanh bởi ĐCT. Có nghĩa là sự sống mới này đến từ chính ĐCT chứ không phải bởi công sức hay cố gắng của con người.
Qua lời dạy của ĐCJC để được thấy nước Trời, vào nước Trời, mọi người đều phải được sinh lại bởi ĐCT, chứ không phải bởi vì làm theo những lời dạy đạo đức, làm theo luật pháp. Được cứu không phải là sự nối tiếp của truyền thống, tăng thêm đạo đức, tôn giáo nhưng là một thay đổi hoàn toàn từ ĐCT. Được cứu không phải đến từ trong ra ngoài, nhưng từ ngoài, từ ĐCT.
Gần đây tôi có xem một cuốn phim tựa là Dancing Across Borders, về một câu chuyện có thật. vào năm 2000, bà Anne Bass, vợ của một tỉ phú Texas đến Cambodia và thăm viếng Angkor Wat, một kỳ quan nổi tiếng thế giới. Tại đó bà thấy một nhóm vũ thiếu niên trong đó có một em bé trai tuổi độ 16 tên Sokvannar “Sy (See)” Sar vũ múa với vẻ mặt tươi tắn và vũ điệu thật thu hút. Sau khi trở về HK bà vẫn không quên được em bé trai này. Sau đó bà sắp xếp để đem em bé đó sang HK vào trường ballet nổi tiếng tại NY là School of American Ballet. Sau khi bị từ chối bởi trường vì hoàn toàn không có khả năng ballet và không biết Anh ngữ, bà mướn một giáo sư ballet nổi tiếng, Olga Kostritsky để dạy riêng cho cậu bé này trong vòng 2 năm trời. Sau đó Sy trở nên một người vũ ballet nổi tiếng và hiện solo cho đoàn ballet Carolina Ballet Theater. Có thể nói một cách nôm na, cuộc đời của cậu bé trai này được sinh lại lần thứ hai. Nhưng không phải từ trên cao như lời dạy của ĐCJC!
Hầu hết mọi người đều muốn có cơ hội như Sy. Sanh lại về học thức, về sắc đẹp, về công việc làm. Và tùy theo điều gì chúng ta coi trọng, chúng ta sẽ tôn thờ điều đó với ước vọng được sanh lại.
Chín năm trước đây trong buổi lễ ra trường đại học Kenyon, diễn giả là một tác giả trẻ, 43 tuổi tên David Foster Wallace. Trong bài nói chuyện cùng các sinh viên ra trường, ông có những lời như sau: Mọi người đều thờ phượng. Sự chọn lựa duy nhất là chúng ta sẽ thờ phượng điều gì. Và một lý do hấp dẫn khi chọn một thần nào đó để thờ phượng… là bởi vì mọi thứ khác trên đời này rồi sẽ nuốt sống bạn. Nếu bạn thờ phượng tiền và vật, nếu đó là điều bạn tìm ý nghĩa cho cuộc sống, thì bạn sẽ không bao giờ có đủ, không bao cảm thấy đủ. Đó là sự thật. Thờ phượng thể xác này và sắc đẹp và thu hút tình dục, rồi bạn sẽ luôn thấy xấu xí. Và khi đến khi thời gian và tuổi tác bắt đầu làm bạn già đi, bạn sẽ chết một cái chết triệu lần trước khi người thân chôn bạn. Thờ phượng quyền lực, rồi bạn sẽ cảm thấy yếu đuối và sợ hãi, và sẽ tiếp tục cần quyền lực để làm tê dại nỗi sợ hãi… Sự gian dối, xảo quyệt của những sự thờ phượng này không phải là tự nó độc ác hay tội lỗi; nhưng bởi vì đó là điều tự nhiên ẩn trong tiềm thức mỗi người.
Dù là một người không tôn giáo nhưng tác giả tài ba trẻ tuổi này cũng ý thức rõ rằng mỗi người đều thờ phượng, mỗi người đặt niềm tin vào một điều gì đó cho sự cứu rỗi, mỗi người đều dựa cuộc đời mình vào điều gì đó cần có niềm tin. Và chỉ 3 năm sau đó ông tự kết liễu cuộc đời mình. Không có Chúa!
Không tranh cải khi nói về TL hay giải thích về sự sanh lại từ ĐCT
Khi làm chứng chúng ta không nên tranh luận hay cải vả về những vấn đề không quan trọng, chủ yếu. Có người hay hỏi tại sao ĐCT là Đấng yêu thương mà lại để cho bao nhiêu người không có cơ hội nghe lời Chúa. Người khác hỏi về sự sáng tạo vũ trụ, loài người của ĐCT trong STK và khoa học. Người khác lại hỏi về đạo đức giả của tín đồ hội thánh: đi nhà thờ mà sống như trong vũng bùn. Chúng ta cầu nguyện cho họ, xin ĐTL của Chúa mở lòng họ để ánh sáng chân lý có thể vào tâm hồn, cố gắng trả lời ngắn gọn rồi tiếp tục tập trung về điều quan trọng nhất, bước đầu quan trọng nhất để được vào nước Trời: sự tái sinh.
Ý NGHĨA CỦA SỰ TÁI SANH
v. 4: N. không hiểu lời dạy của ĐCJC. Nhiều người VN chúng ta tin vào sự luân hồi. Tức là sẽ được đầu thai, sanh lại trong kiếp tới. KT rõ ràng phủ nhận ý nghĩ, lời dạy này. Trước khi tin nhận Chúa thì tâm linh một người thuộc về bóng tối, ở trong bóng tối thuộc quyền lực ma quỉ. Sự tái sinh có nghĩa là mời ĐCJC vào ngự vào làm chủ tâm linh tối tăm trước đó. Khi nhận Chúa thì ánh sáng của Ngài sẽ giúp chúng ta ý thức rõ hơn về con người tội lỗi của chính mình và ban cho một đời sống mới.
PL giải thích rõ hơn về sự sanh lại trong thư Tít như sau: Nhưng khi Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi chúng ta bày tỏ lòng nhân từ bác ái đối với mọi người, 5 thì Ngài cứu chúng ta không phải vì những việc công đức của chúng ta làm nhưng căn cứ theo lòng thương xót của Ngài. Chúa cứu chúng ta bằng sự tái sinh, thanh tẩy và đổi mới của Đức Thánh Linh, 6 Ngài đổ Thánh Linh trên chúng ta cách dồi dào qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, là Chúa Cứu Thế chúng ta, 7 để sau khi được xưng là công chính do ân sủng Ngài chúng ta có thể trở thành con kế tự trong niềm hy vọng được sống vĩnh cửu. (Tít 3:4-7 - BDM)
Tái sinh có nghĩa là bắt đầu lại tất cả, chứ không phải thêm vào những điều đang có. Nói cách khác những điều trước đó đã có không kể. Đây là một điều vô cùng khó cho chúng ta chấp nhận.
Hôm nay đường Central gần khu war zone (Wyoming, Lousiana, phía nam Central) vào ban đêm không còn như trước đầy những người bán thuốc cấm, những phụ nữ bán thân, người homeless, người nghiện rượu, người bạo động hay quẫn trí. Giả sử qv đi từ Tramway đến downtown trên Central ban đêm. Qv sẽ đi ngang qua khu war zone, rồi đến Nob Hill, UNM rồi đến downtown. Trên đường qv sẽ nhìn thấy những người bán thuốc cấm, những phụ nữ bán thân, người homeless, người nghiện rượu, người bạo động hay quẫn trí, người đứng tiểu ngay trên đường trong khu war zone. Đến Nob Hill thấy những người trẻ tuổi trong những quán ăn thời trang, đến UNM thấy các sinh viên trường đại học, trước khi đến khách sạn sang trọng Hyatt tại downtown.
Tất cả mọi người từ war zone, Nob Hill, đến UNM đến Hyatt, dù thuộc thành phần nào trong xã hội, tì vết thế nào trong quá khứ, đều cần phải được sanh lại bởi ĐCT qua ĐCJC. Đây là một ý nghĩ thật khó tin, khó chấp nhận cho biết bao nhiêu người đang có cuộc sống đạo đức, đầy đủ như qv tại đây.
Khoảng 30 trước đây trung tâm thành phố NY, Times Square, không an toàn như hôm nay. Đây là khu của những người nghiện ngập, không nhà, những phụ nữ bán thân… Trong thời gian đó, MS Tim Keller kể trong một năm mỗi tháng một lần ông đến câu lạc bộ Harvard tại Mahattan, NY để chia sẻ. Thường ông bắt đầu lúc trời còn tối. Trên đường đi bằng subway ông phải đến Times Square, rồi đi bộ đến Harvard Club. Trên đường ông nhìn thấy những người không nhà dơ dái nằm ngủ trên vĩa hè, những cô gái bán thân, những người bán thuốc cấm. Nhưng Harvard Club là nơi trí thức, nơi mà phòng nhóm có vách bằng gỗ, ghế bọc da, nơi mọi người đều có bằng cấp, sự sản, đây là những người có chức phận, được trọng vọng, kính nể. So sánh hai nhóm người, nhóm người nào qv nghĩ cần tái sinh?
ĐCJC nói với những người Pha-ri-si: Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi. 32 Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường dĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người. (Ma-thi-ơ 21:31-32). Kẻ thu thuế, phường đĩ điếm nghe TL, tin TL được vào nước Trời; người giữ mọi luật pháp, đạo đức nghe TL, không tin, không được vào nước Trời. Phải chăng đây là cú sóc hết sức nặng nề cho những người nghe!
v. 5: chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh có nghĩa gì? Từ thánh linh đây cùng là từ thần linh của ĐCT trong KT CU. ĐCJC dùng hình ảnh CU mà N. có thể hiểu và liên hệ được. Nước được dùng trong các lễ rửa sạch tượng trưng cho hình ảnh đổi từ ô uế, nhơ nhớp sang thanh sạch, thánh khiết; từ những người ĐCT dạy phải tránh xa sang đến người được Chúa và mọi người chấp nhận.
Nói cách khác hình ảnh nước và thánh linh (thần linh – pneuma) tượng trưng cho sự đổi mới hoàn toàn mà ĐCT đã hứa cùng dân Ngài: Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. (Ê-xê-chi-ên 36:25-26).
KẾT QUẢ CỦA SỰ TÁI SANH
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu. Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời. (Giăng 3:16-18)
để sau khi được xưng là công chính do ân sủng Ngài chúng ta có thể trở thành con kế tự trong niềm hy vọng được sống vĩnh cửu. (Tít 3:4-7 - BDM)
ĐCJC hạ sinh không phải như quan xét trong ngày cuối, nhưng là Đấng Cứu Chuộc. Hội thánh Chúa, người tin Chúa cũng nên nhớ điều này để tránh làm quan xét người bên ngoài hội thánh hay người trong hội thánh. Chúa dạy rất rõ trong thời kỳ hội thánh còn trên đất trước khi Chúa trở lại thì sẽ còn cỏ lùng mọc chung với lúa mì, cá xấu trộn chung với cá tốt (Ma-thi-ơ 12:24-30). Trách nhiệm chính của HT, của người theo Chúa không phải là tách cỏ lùng với lúa mì, hay chọn cá xấu bỏ đi. Mà là nói về tình yêu thương của ĐCJC, về sự cứu chuộc của ĐCJC. Lý do gì Giăng 3:16 lại được mọi người dù là người không tin Chúa yêu thích? Bởi vì không ai không muốn được yêu cả, đặc biệt được ĐCT yêu thương.
Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt. Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ, nên tìm cách làm cho người ta đều tin (2 Cô-rinh-tô 5:10-11). Tất cả mọi người sẽ ứng hầu trước toà án Đấng Christ. Ngài sẽ xử mọi người chứ không phải tôi hay quí vị.
Sự tái sanh đem đến một đời sống mới thay đổi: Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới. (2 Cô-rinh-tô 5:17)
Three elements of personality are involved in making a decision to become a Christian, or in making any significant decision for that matter. They are the emotions (tình cảm, cảm xúc), the intellect (tri thức, hiểu biết), and the will (ý chí)
For example, a young man meets a young woman. They are immediately attracted to one another. They both say to themselves, "Now there is someone I'd like to marry." At that point, if the emotions had their way, there would be a wedding. But the intellect intervenes, questioning the impulsive emotional response. Would we be compatible? What is she really like? Can I afford to support her? Both conclude it would be better to take some more time and answer a few questions before they proceed. So the two begin spending more time with each other. He eventually concludes that she is as beautiful on the inside as she is on the outside. Now his intellect has sided with the emotions on the idea of marriage.
But the final and heaviest vote remains to be cast -- that of the will. It stops the march toward the altar with the questions, "Am I willing to give up this lifestyle for another? What about my freedom -- is it worth the trade? Am I willing to assume the added responsibility?" The marriage will occur only when the will finally agrees with the emotions and the intellect. And so it is in coming to Christ.
Tuy nhiên dù có dùng lý trí và sự hiểu biết thì cũng không thể nào biết hết được những điều trong tương lai. Vậy chúng ta cần có đức tin.
Mỗi người chúng ta cần phải được tái sinh để vào nước thiên đàng. Bạn có thật biết mình được tái sinh hay chưa?
Sự tái sinh cần có cả cảm xúc, lý trí và ý chí. Nếu chỉ tin Chúa qua cảm xúc thì sẽ dể bỏ. Nếu chỉ có lý trí, không cảm xúc thì sẽ lạnh nhạt, thiếu nhiệt tâm, lòng nóng cháy theo Chúa, phục vụ. Thiếu ý chí thì khi gặp cảnh ngộ khó khăn sẽ giao động, thay đổi, bỏ cuộc chạy.
hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn, nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào. (1 Phi-e-rơ 2:2-3)
