Những Lời Dạy Khó của Chúa Giê-xu – Nói Phạm Đến Thánh Linh
Từ hôm nay đến tháng 12, chúng ta bắt đầu loạt bài về những lời dạy khó của ĐCJC trong các sách PA. Qv có thể hỏi thế nào là những lời dạy khó? Có 3 nghĩa về những lời dạy khó của ĐCJC.
Nghĩa thứ nhất là khó hiểu. Một ví dụ về lời dạy khó này là lời Chúa dạy về sự tái sinh với Ni-cô-đem trong Giăng 3. Dù Ni-cô-đem là thành viên của tòa công luận, tức một người rất trí thức, tài giỏi và quyền thế, ông vẫn không hiểu được lời Chúa dạy nên hỏi: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? (Giăng 3:4).
Nghĩa thứ hai của khó là khó nghe hay khó tin. Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều lời dạy của ĐCJC không phải khó hiểu, trái lại rất rõ ràng, dễ hiểu nhưng lại rất khó nghe, khó tin. Như lời Chúa dạy rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta.(Giăng 8:58). Hay lời tuyên bố rằng Chúa thấy Sa-tan từ trời xa xuống thế gian (Lu-ca 10:18), hay như lời dạy: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6).
Nghĩa thứ ba của khó là khó làm. Nhiều lời Chúa dạy dễ hiểu, có thể tin được nhưng rất khó làm theo. Đây là điều khó khăn hơn hết cho tín đồ. Như lời dạy về sự tha thứ cho nhau. Không khó hiểu, hay khó tin nhưng khó vô cùng để làm theo. Như khi Phi-e-rơ đến hỏi Chúa về sự tha thứ cho người anh em: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng?22 Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy (Ma-thi-ơ 18:21-22).
Dĩ nhiên cũng có lời dạy là tổng hợp của 3 nghĩa trên, tức vừa khó hiểu, khó tin và khó làm theo. Một ví dụ là lời ĐCJC dạy trong Ma-thi-ơ 19 với người trẻ tuổi giàu có về việc người giàu khó vào nước thiên đàng hơn lạc đà chui qua lỗ kim.
Là mục sư tôi hy vọng sẽ cắt nghĩa, giải thích để có thể giúp cho qv hiểu được lời Chúa dạy. Thuyết phục qv rằng dù có những lời Chúa dạy khó nghe, khó tin, nhưng cần thiết và quan trọng. Về những lời dạy khó làm, thì dù khi qv có thể đã hiểu rõ, đã thật sự tin tưởng, nhưng thật sự làm theo lại là một vấn đề mà chỉ có qv mới có thể giải quyết.
Thông thường thì khi chúng ta hiểu, tin, chúng ta sẽ làm theo. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy. Đây là một vấn đề lớn cho hội thánh và người tin Chúa: vì dù hiểu, tin nhưng lại không vâng phục, làm theo.
LÒNG ĐẠI TỪ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ GIÁ ĐẮT CỦA TỘI LỖI
Ai không ở với ta, thì nghịch cùng ta; ai không thâu hiệp với ta, thì tan ra. 31 Ấy vậy, ta phán cùng các ngươi, các tội lỗi và lời phạm thượng của người ta đều sẽ được tha; song lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh thì sẽ chẳng được tha đâu. 32 Nếu ai nói phạm đến Con người, thì sẽ được tha; song nếu ai nói phạm đến Đức Thánh Linh, thì dầu đời nầy hay đời sau cũng sẽ chẳng được tha. (Ma-thi-ơ 12:30-32)
Ma-thi-ơ 12:30 – Mác 9:40; Ma-thi-ơ 12:32 – Lu-ca 12:10, Mác 3:29
Khi đọc đoạn KT này, lập tức nhiều người hỏi: tội gì nặng hay ghê gớm đến nỗi ĐCT không tha thứ được, hay nói phạm đến ĐTL là gì? Thay vì tập trung chỉ vào câu hỏi này, lời ĐCJC dạy một điều vô cùng quan trọng về sự tha thứ và giới hạn của tha thứ. Khi mới nghe qua tưởng như mâu thuẫn với nhau nhưng thật là không. Lời dạy về sự tha thứ và giới hạn của tha thứ theo lời ĐCJC là gì? Dù ĐCT có thể và sẵn sàng tha thứ tất cả tội ác của con người, lòng từ bi, bác ái, tha thứ của ĐCT như vô hạn, mênh mông, con người vẫn có thể đặt mình ở một vị trí ngoài quyền năng tha thứ đó.
Trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu phần đầu của lời dạy này về sự tha thứ. Ai không ở với ta, thì nghịch cùng ta; ai không thâu hiệp với ta, thì tan ra. 31 Ấy vậy, ta phán cùng các ngươi, các tội lỗi và lời phạm thượng của người ta đều sẽ được tha… Nếu ai nói phạm đến Con người, thì sẽ được tha.
Danh xưng con người đầu tiên viết trong Đa-ni-ên 7 để nói về một Đấng chí cao, toàn năng, một vị vua cai trị mọi dân tộc, đất nước trên đất. Trong khải tượng ban đêm, tôi cũng thấy một Đấng xuất hiện, có hình dạng như Con người, ngự đến giữa các đám mây trên trời. Ngài tiến lên ngôi của Đấng Tạo Hóa, có tiền hô hậu ủng như một vị hoàng đế. 14 Ngài được Đấng Tạo Hóa trao hết uy quyền, vinh quang, vương quốc ngõ hầu tất cả các dân tộc, quốc gia ngôn ngữ đều thần phục Ngài. Uy quyền của Ngài vững lập đời đời, vương quốc Ngài chẳng bao giờ bị tiêu diệt. (Đa-ni-ên 7:13-14 - BDY)
Ngày xưa không ai có thể phạm thượng với vua chúa. Ngay hôm nay tại nhiều quốc gia dân chúng cũng không thể nói phạm đến người lãnh đạo. Tội phạm thượng là một trọng tội, có thể bị tru di tam tộc hay giết trọn cả 3 đời. Qv nhớ sách Ê-xơ-tê về vua A-suê-ru cai trị xứ Phe-rơ-sơ và Mê-đi. Không ai có thể tự ý vào gặp vua nếu không có phép: chỉ khi vua giơ cây phủ việt vàng (trượng vàng) thì mới được vào. Khi vua vào triều, mọi người phải xấp mình xuống đất và tung hô: vạn tuế, vạn vạn tuế!
Con người có uy quyền hơn vua của các xứ vì Ngài là Vua của muôn vua, Chúa của muôn chúa. Vậy đó mà vị vua chí cao, toàn năng quyền này chấp nhận tha thứ cho mọi lời nói phạm thượng cùng Ngài. Vua Giê-xu này hoàn toàn khác với các vị vua trên đất. Ngài không vội buộc tội nhưng giàu lòng nhân từ, rộng lượng tha thứ. Các tội lỗi và lời phạm thượng của người ta đều sẽ được tha. Ai nói phạm đến Con người, thì sẽ được tha.
Thật vậy người ta đối xử với Con người, với ĐCJC thế nào? Mác 3:21 Những bạn hữu Ngài nghe vậy, bèn đến để cầm giữ Ngài; vì người ta nói Ngài đã mất trí khôn. Người Pha-ri-si nói Chúa là công cụ của Sa-tan, ma quỉ. Môn đồ phản bội, bán Ngài. Quân lính đánh đập, mắng nhiếc, xỉ nhục, nhổ vào Ngài. Lính đóng đinh tay, chân Ngài. Rồi họ treo Chúa lên thập giá giữa 2 tên trộm cướp. Trên thập tự giá, trong những giờ phút đau đớn nhất, tủi nhục nhất ĐCJC van xin cùng ĐCT tha thứ cho những người lính, cho đoàn dân: xin Cha tha thứ cho họ.
Tha thứ không phải là điều tự nhiên, nhưng là điều trái với tự nhiên. Tại sao? Dù tha thứ có thể không tốn gì cho người được tha thứ không tốn kém, tổn hại rất nhiều cho người tha thứ. Nghĩ về giá ĐCJC phải trả khi Ngài tha thứ tội chúng ta. [Ví dụ: cho các bạn mượn xe đi đại hội. Xe bị hư hại hoàn toàn. Chính tôi phải chịu mất mát số tiền mua xe hay sửa lại xe]
Câu 32 cho thấy lòng đại từ của ĐCT, lòng sẵn sàng tha thứ mênh mông, vô lượng, vô biên, vô tận, vô hạn của ĐCJC. Không một tội nào, dù là tội sĩ nhục, giết chết con Trời lại không được tha! Đây cũng chính là lý do chúng ta cần lấy phần thứ hai của câu 32 về tội cùng ĐTL làm trọng.
Dù ĐCT sẵn sàng tha thứ tất cả tội ác của con người, dù lòng từ bi, bác ái của ĐCT bao la, vô hạn, mênh mông, con người vẫn có thể đặt mình ở một vị trí ngoài quyền năng tha thứ đó.
Tôi muốn giải thích một điều quan trọng giúp qv có thể hiểu được lời Chúa dạy. Các thầy dạy ngày xưa thường nêu ra những ví dụ khi mới nghe qua tưởng như tương phản, thậm chí mâu thuẫn đối nghịch nhau để giải thích một ý tưởng, nhấn mạnh một lời dạy, một nguyên tắc.
Câu 30, ĐCJC nói: Ai không ở với ta, thì nghịch cùng ta; ai không thâu hiệp với ta, thì tan ra. Nhưng trong Mác 9:40 Chúa lại dạy rằng: Hễ ai không nghịch cùng ta là thuộc về ta. Khi mới nghe qua, hai lời dạy này như tương phản với nhau. Nhưng ý chính của lời Chúa dạy không phải khi nào một người thuộc về Ngài, hay khi nào nghịch cùng Ngài mà đơn giản là: các ngươi không thể trung dung, lưỡng lự về Ta. Các người phải quyết định hoặc tin và theo Ta, hoặc không tin và không theo Ta.
Trở lại vấn đề. Có mâu thuẫn hay không khi tôi nói dù ĐCT sẵn lòng tha thứ cho mọi tội lỗi, nhưng một người vẫn có thể đặt họ ngoài sự tha thứ đó? Trước hết, không phải bởi Chúa là ĐCT nên Ngài có thể làm tất cả mọi việc. Có nhiều điều mà chính ĐCT cũng không thể làm.
Có người mai mĩa: ĐCT không thể tạo nên một hòn đá lớn đến độ chính Ngài cũng không khiên nỗi!
Sau đây là vài điều KT dạy ĐCT không thể làm: 1) Chúa không thể nói dối (Hê-bơ-rơ 6:18, Tít 1:2); 2) ĐCT không thể phạm tội hay chấp nhận tội (2 Tim 2:13, Gia-cơ 1:13); 3) ĐCT không thể phá bỏ lời hứa (TT 89:34). Nói tóm lại ĐCT không thể làm những điều tương phản, trái nghịch với chính phẩm tính và bản chất Ngài.
ĐCJC muốn dạy đoàn dân và người Pha-ri-si điều gì? Hai điều.
Thứ nhất: lời nhắc nhở, cảnh giác. Chúa nói: các ngươi chớ khinh dễ hay xem thường sự thánh khiết và lòng nhân từ của Ta. Không phải vì Ta sẵn sàng tha thứ mọi việc nên ngươi có thể xem như điều đó là một giấy phép để phạm tội. Khi phạm tội, chỉ cần chìa giấy phép đó ra là mọi tội đều được xóa. Khi làm vậy, người xem thường, coi rẽ lòng yêu thương, nhân từ Ta.
Voltaire, triết gia nổi tiếng Pháp, là người vô thần, chống đối, chế diêu ĐCJC và đạo Chúa. Trong những giờ phút cuối đời trên giường trước khi trút hơi cuối, có người hỏi ông có sợ khi phải đối diện với ĐCT, khi chịu sự phán xét. Voltaire trả lời: ĐCT phải tha tội tôi vì đó là bổn phận, trách nhiệm Ngài!
Điều thứ hai: ĐCT không thể làm trái lại với bản chất và phẩm tính Ngài. Nếu ĐCT đã ban cho con người sự tự do lựa chọn thì khi một người đã chọn từ chối sự tha thứ, sự cứu rỗi, ĐCT không thể buộc họ phải chấp nhận. Dù ĐCT sẵn sàng tha thứ cho mọi tội, nhưng ĐCT không thể tha thứ cho những người từ chối chấp nhận sự tha thứ của Ngài. Dù qv có lòng cho đi nhưng nếu người ta không muốn nhận thì họ không thể nhận được điều qv muốn cho đi.
Đây cũng là ý mà nhiều lần tôi nhắc trong các bài giảng: Đến cuối, chỉ có hai loại người. Một loại người sẽ nói với ĐCT: Ý Cha được nên. Một loại người Chúa sẽ nói với họ: ý ngươi được nên.
Phần đầu của hai câu KT 31 & 32: Ấy vậy, ta phán cùng các ngươi, các tội lỗi và lời phạm thượng của người ta đều sẽ được tha… 32 Nếu ai nói phạm đến Con người, thì sẽ được tha nói lên lòng đại từ của ĐCT cho loài người. Tuy nhiên hễ sự tha thứ càng to lớn, lòng từ bi, bác ái của ĐCT càng mênh mông, bao la, sâu thẩm bấy nhiêu thì giá trả, tốn kém càng to lớn bấy nhiêu.
Chính vì chúng ta thường nghĩ sự tha thứ chẳng tốn kém gì nên mới có thể mau chóng đòi hỏi sự tha thứ hay xem nhẹ sự tha thứ. Khi một người càng hiểu rõ về giá đắt của sự tha thứ bao nhiêu, thì họ càng biết quí trọng sự tha thứ và kết quả của tha thứ bấy nhiêu.
Mục sư David Martyn Lloyd-Jones trong một bài giảng về sự tha thứ giải thích ý này như sau: Tôi nói trong sự tôn kính rằng sự tha thứ là một nan đề cho cả ĐCT. Thật vậy, tôi phải nói rằng sự tha thứ là vấn đề khó khăn nhất trong vũ trụ. Vì trong STK 1, ĐCT phán: hãy có sự sáng, thì ngay lập tức câu kế cho biết đã có sự sáng. Nhưng trong STK 3, ĐCT phán: hãy có sự cứu rỗi và tha thứ, nhưng cả đến bao nhiêu thế kỷ sau đó mới có sự cứu rỗi và tha thứ [qua ĐCJC]”
ĐCT không thể phán hãy có sự cứu rỗi, hãy có sự tha thứ thì lập tức hai điều này sẽ xảy ra. Chương trình cứu rỗi bắt đầu từ lời phán của ĐCT cùng A-đam, E-va và con rắn: Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người. (STK 3:15). Nhiều ngàn năm sau đó, qua biết bao nhiêu sự kiện lịch sử từ Nô-e cho đến Áp-ra-ham, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít, rồi từ Đa-vít cho đến khi ĐCJC giáng sinh, chương trình cứu rỗi mới được ứng nghiệm. Với một giá tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại: chính Ngôi Hai ĐCT phải giáng thế làm người, chịu chết cách đau đớn, tủi nhục để cứu tội loài người.
Sự tha thứ hoàn toàn trái với tự nhiên và luôn luôn với giá đắt cho người tha thứ. Qv theo dõi tin tức trong xã hội HK hôm nay có thể nhận xét một điều. Mọi người nói rằng sự thật tương đối, không gì có là sự thật tuyệt đối, có nghĩa là anh chị tin gì mặc anh chị, tôi tin gì mặc tôi. Tuy nhiên càng ngày người càng dễ bị xúc phạm, tổn thương hơn bao giờ hết. Dùng một danh xưng sai cũng bị buộc tội. Đội banh football phải đổi tên từ Red Skin sang một tên khác. Và dù sau khi phạm lỗi, xin lỗi, người phạm lỗi vẫn bị lên án, buộc tội, ruồng bỏ.
Trái lại ĐCJC là hiện thân của lẽ thật tuyệt đối, nhưng Chúa sẵn sàng tha thứ dù tốn chính Ngài một giá rất tốn kém, rất đắt. Là môn đồ Đấng Christ, chúng ta cần phải học đòi gương này.
ĐIỀU KIỆN CỦA SỰ THA THỨ: ĂN NĂN
Ấy vậy, ta phán cùng các ngươi, các tội lỗi và lời phạm thượng của người ta đều sẽ được tha; song lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh thì sẽ chẳng được tha đâu. 32 Nếu ai nói phạm đến Con người, thì sẽ được tha; song nếu ai nói phạm đến Đức Thánh Linh, thì dầu đời nầy hay đời sau cũng sẽ chẳng được tha.
Lời dạy này đầu tiên xác nhận về lòng đại từ và lòng sẵn sàng tha thứ của ĐCJC. Không một tội nào Chúa không thể tha thứ. Ví dụ về tội phạm, ăn năn, tha thứ: Đa-vít phạm tội tà dâm cùng Bát-sê-ba, giết chồng bà để đoạt vợ người được tha thứ khi ăn năn. Phao-lô bắt bớ tín đồ, đồng lõa giết Ê-tiên và tín đồ. Vì cớ danh Ngài, CHÚA ôi,Xin tha thứ tội lỗi của con, vì tội con nặng lắm.11Lạy CHÚA, vì danh Ngài,xin hãy tha thứ các tội lỗi (TT 25:11 – BDM).
Tuy nhiên phần thứ 2 nêu lên điều kiện hay giới hạn của sự tha thứ. Điều kiện đó là tội nhân không thể nói phạm cùng ĐTL. Qv hỏi. Lời dạy này có mâu thuẫn, đối nghịch với nhau hay không? Tại sao ĐCT có thể tha thứ cho mọi tội lại không thể tha thứ cho tội nói phạm cùng ĐTL?
Đây là cách giúp chúng ta hiểu rõ lời dạy của ĐCJC trong đoạn KT khó này. Phần đầu của câu 31, 32 nói về những việc làm bên ngoài. Phần 2 của câu 31, 32 về việc ai nói phạm cùng ĐTL sẽ không được tha thứ nói về thái độ, niềm tin nội tâm, trong lòng dạ, ý tưởng, tâm linh một người.
Mọi tội phạm bên ngoài của một người, dù là trọng tội cùng ĐCJC gồm cả lời xỉ nhục, mắng nhiếc cũng được tha thứ. Nhưng không một tội nào, dù nhỏ đến mấy nếu trong lòng, người phạm tội không hề ăn năn, hối hận về tội phạm của mình. Nói cách khác điều kiện của sự tha thứ là ăn năn. Không ăn năn thì không có sự tha thứ.
Nếu một người cứng đầu, ngoan cố từ chối lắng nghe tiếng của ĐTL, tiếp tục phủ nhận sự nhắc nhở, dạy dỗ, sửa trị của ĐTL thì không một tội nào có thể được tha. Tại sao? Vì kẻ phạm tội không muốn được tha hay không cần được tha thứ. Tôi không cần ĐCT tha thứ cho tôi!
Bối cảnh: Bấy giờ có kẻ đem đến cho Đức Chúa Jêsus một người mắc quỉ ám, đui và câm; Ngài chữa cho, đến nỗi người câm nói và thấy được. 23 Chúng lấy làm lạ, mà nói rằng: Có phải người đó là con cháu vua Đa-vít chăng? 24 Song những người Pha-ri-si nghe vậy, thì nói rằng: Người nầy chỉ nhờ Bê-ên-xê-bun là chúa quỉ mà trừ quỉ đó thôi. (Ma-thi-ơ 12:22-24) Tương phản giữa đoàn dân và Pha-ri-si: người đó là con cháu vua Đa-vít vs người này chỉ nhờ Bê-ên-xê-bun, chúa ma quỉ.
Có các thầy thông giáo ở thành Giê-ru-sa-lem xuống, nói rằng: Người bị quỉ Bê-ên-xê-bun ám, và nhờ phép chúa quỉ mà trừ quỉ. (Mác 3:22)
Nói phạm cùng ĐTL: Dù khi thấy rõ quyền năng ĐCT thể hiện qua những phép lạ, qua lời ĐCJC dạy về nước trời, người Pha-ri-si và các thầy thôn giáo vẫn cứng lòng không chấp nhận. Hơn thế nữa lại còn buộc tội ĐCJC là tai sai của Sa-tan, là người của ma quỉ, công cụ Sa-tan xử dụng. Lòng kiêu hảnh, tự phụ của họ, tự ái vì dân chúng lắng nghe, kính trọng một người thợ mộc từ Na-xa-rét khiến họ từ chối tin nhận ĐCJC là Con Người. Và khi họ buộc tội ĐCJC họ thật sự đã buộc tội, lên án ĐTL.
Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ, thì phán rằng: Một nước mà chia xé nhau thì bị phá hoang; một thành hay là một nhà mà chia xé nhau thì không còn được. 26 Nếu quỉ Sa-tan trừ quỉ Sa-tan, ấy là tự nó chia xé nhau; thì nước nó làm sao còn được ư? 27 Và nếu ta nhờ Bê-ên-xê-bun mà trừ quỉ, thì con các ngươi nhờ ai mà trừ quỉ ư? Bởi đó, chính chúng nó sẽ xử đoán các ngươi vậy. 28 Mà nếu ta cậy Thánh Linh của Đức Chúa Trời để trừ quỉ, thì nước Đức Chúa Trời đã đến tận các ngươi. (12:25-28)
Nếu ĐCJC cậy ĐTL của ĐCT để trừ quỉ, làm phép lạ thì cũng có nghĩa là nước ĐCT đã đến với thế gian. Nói phạm cùng ĐTL tức là từ khước, không nhận, không tin nước ĐCT đã đến qua ĐCJC. Trái lại họ nghĩ rằng những phép lạ Chúa thực hiện là từ quyền năng của Sa-tan, của ma quỉ. Họ xem Sa-tan, quyền năng của Sa-tan trọng hơn ĐCT, hơn quyền năng của ĐCT.
Một chức năng quan trọng của ĐTL trong thế gian là để nhắc dạy, cáo trách con người về tội lôi, công bình và sự phán xét: Dầu vậy, ta nói thật cùng các ngươi: Ta đi là ích lợi cho các ngươi; vì nếu ta không đi, Đấng Yên ủi sẽ không đến cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến. 8 Khi Ngài đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. (Giăng 16:7-8)
Nói phạm cùng ĐCT: không nhận tội lỗi, không chấp nhận lời cáo tội của ĐTL rằng tôi là người có tội. Không tin về sự công bình và phán xét của ĐCT.
Điều này cũng thống nhất với điều tôi đã chia sẻ trong phần trước rằng ĐCT không thể hành động tương phản với chính bản thể và phẩm tính của Ngài: Nếu ĐCT đã ban cho con người sự tự do lựa chọn thì khi một người đã chọn từ chối sự tha thứ, sự cứu rỗi, ĐCT không thể buộc họ phải chấp nhận. Dù ĐCT sẵn sàng tha thứ cho mọi tội, nhưng ĐCT không thể tha thứ cho những người từ chối chấp nhận sự tha thứ của Ngài. Dù qv có lòng cho đi nhưng nếu người ta không muốn nhận thì họ không thể nhận được điều qv muốn cho đi.
Lời dạy của sứ đồ Giăng giải thích rõ ý này: Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta. 9 Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác. 10 Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta. (1 Giăng 1:8-10)
Câu 8: Để được tha tội, trước hết chúng ta phải ý thức rằng hành động, lời nói, thái độ, cách cư xử, động cơ của tôi là sai, là tội. Vì nếu chúng ta không nhận điều đó thì cần gì đến sự tha thứ. Và nếu chúng ta nói tôi không có tội, tức là ĐTL của ĐCT đã nói dối vì Ngài bảo rằng mọi người đều phạm tội. Nói phạm cùng ĐTL là nói rằng tôi không có tội gì cả, mọi việc tôi làm không có gì sai cả, là nói rằng tôi không cần sự cứu rỗi của ĐCT.
Câu 9: nhưng khi tôi và qv xưng tội mình, thì ĐCT sẽ tha thứ và làm sạch tất cả (mọi) điều gian ác.
Câu 10: một lần nữa Giăng nhấn mạnh về sự nói phạm cùng ĐTL: nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta.
Chúng ta không thể đối với ĐTL như với một người bán đồ. Khi nghe tiếng gõ cửa, chúng ta bảo chờ tôi đọc cho xong quyển sách hay làm xong việc này rồi sẽ ra mở cửa. Khi mở cửa, người đó đã bỏ đi mất rồi. ĐCJC nhắc dạy HT Lao-đi-xê: Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi. 20 Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta. (KH 3:19-20). Đó chính là tiếng gõ cửa lòng của ĐTL. Hãy lắng nghe, trả lời để Ngài có thể vào nhà mà tương giao với chúng ta. Đừng làm ngơ, chối từ hay thụ động.
Bài học: người tin Chúa cần nhạy cảm với tội mình đã phạm và mau ăn năn xin Chúa và người mình vi phạm tha tội.
NGUY HIỂM CỦA LÒNG CỨNG CÕI
Lời dạy của ĐCJC nói về tội phạm cùng ĐTL khi chúng ta từ chối ăn năn. Nhưng chú ý đến đối tượng, người Chúa nói những lời này. Họ là ai? Nếu đọc trong Mác 3, Lu-ca 12 và Ma-thi-ơ 12 chúng ta thấy rõ ĐCJC nói những lời này với ai. Là những người Pha-ri-si và thông giáo. Là những người am tường luật pháp Mô-se, những người tuân giữ hoàn toàn mỗi nét, mỗi chữ trong luật pháp, những người được dân chúng nể trọng, kính phục. Những người đạo đức, mẫu mực bên ngoài. Những người nhịn ăn, cầu nguyện, dâng hiến. Nhưng lại không tin ĐCJC cứu tội cho họ.
Những người từng được soi sáng, từng nếm ân tứ thiên thượng, từng dự phần về Thánh Linh, 5 từng kinh nghiệm lời tốt lành của Đức Chúa Trời cũng như các quyền năng của đời tương lai. 6 Nếu họ sa ngã thì không thể nào phục hồi để ăn năn trở lại; họ đã tự mình đóng đinh Con Đức Chúa Trời một lần nữa và công khai sỉ nhục Ngài. (Hê-bơ-rơ 6:4-6 – BDM)
Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? 23 Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta! (Ma-thi-ơ 7:22-23)
Trong các sách PA thường có các câu chuyện kể liên quan đến 2 nhân vật hoàn toàn tương phản với nhau. Một người đạo đức, danh giá dưới mắt người đời. Một người bị xã hội xem thường ruồng bỏ, xa lánh. Như Giăng 3 về câu chuyện ĐCJC gặp gở Ni-cô-đem trong đêm tối. Giăng 3 về cuộc gặp gở với người đàn bà Sa-ma-ri 5 đời chồng. Lu-ca 15 về hai người con trai. Cuối cùng đứa con hoang đàng là người được cứu nhưng người anh ở nhà lại không.
Theo lời KT thế giới này không phải gồm 2 loại người, tốt và xấu hay tội lỗi hay thánh khiết Vì mọi người đều phạm tội. Nhưng 2 loại người là khiêm nhường và kiêu hảnh. Khiêm nhường nhận tội, ăn năn xin Chúa tha tội. Hay kiêu hảnh cho rằng tôi là người tốt, thánh sạch không cần Chúa cứu.
Tôn giáo là tôi làm điều thiện, giữ luật lệ để ĐCT ban phước cho tôi. Tin lành là ĐCT qua ĐCJC ban cho tôi một chiếc áo công chính. Chúa đã đến để sống một cuộc đời tôi phải sống và chết cái chết tôi phải chịu.
Nan đề là những người nghĩ mình đạo đức, nghĩ mình biết và tin Chúa nhưng chưa bao giờ thật sự thay đổi bởi ĐTL là theo thời gian, không ai có thể giải thích hay thuyết phục họ. Họ luôn luôn tin rằng họ hoàn toàn không cần ăn năn, thay đổi. Đến lúc đó, không phải họ sẽ không được cứu, nhưng là không thể ăn năn, thay đổi, hối hận về tội mình.
