Ngước Mắt Lên Chúa
Tôi ngước mắt lên trên núi: Sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va, Là Đấng đã dựng nên trời và đất. (Thi Thiên 121:1-2)
NƯƠNG VÀO AI TRONG ĐỜI SỐNG?
Ngày hôm qua chúng tôi dọn dẹp nhà cửa, đem cây giáng sinh ra bỏ, cất đi những vòng hoa trang trí, những đèn màu của mùa lễ đã qua. Đây là dấu của một giáng sinh, một năm cũ đã qua đi, một năm mới sắp đến. Mọi điều trong đời sống đều có sự khởi đầu và chấm dứt. Và sự chấm dứt của một điều trong đời sống lại là một khởi đầu mới của một điều khác.
Năm cũ qua, năm mới đến. Con trẻ sinh ra, chấm dứt cuộc đời vợ chồng không con, bắt đầu trách nhiệm mới của người làm cha mẹ. Bắt đầu đi học, chấm dứt thời gian chỉ biết cha mẹ, gia đình để quen thuộc với thầy cô, bè bạn, kỷ luật học đường. Có người mừng vì sự việc cũ đã kết thúc. Có người lại lo lắng vì sự việc mới sắp đến.
Tuy nhiên dù cảm xúc, tình cảm, ý nghĩ chúng ta có khác nhau trước việc cũ hay mới, việc đã qua hay việc sắp đến, thì mọi người đều mong rằng quan hệ với người chung quanh vẫn sẽ tiếp tục bền vững, không đổi thay. Thử nghĩ xem nếu mỗi năm chúng ta đều phải chấm dứt với một số bạn, rồi lại bắt đầu với số mới thì thật đau lòng. Tất cả đều mong có những người thân yêu gia đình như vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, hay bạn hữu tín cẩn, chân thật. Khi vui mừng có người chia xẻ, khi hữu sự có người san sớt và giúp đở.
Lý do rất đơn giản: vì không ai trong chúng ta là một ốc đảo sống cô lập, lẽ loi một mình, không liên hệ gì đến ai, cũng không ai liên hệ đến mình. Mọi người đều có và cần quan hệ cho đời sống. Cho dù chúng ta không biết chắc điều gì sẽ xảy ra trong năm mới này nhưng nếu biết chắc rằng chúng ta sẽ có người thân yêu luôn bên cạnh, sẽ có anh chị em trong hội thánh, bè bạn nơi làm việc trong mọi cảnh ngộ thì chắc cũng thấy yên ủi lắm.
Tục ngữ Thụy Điển có câu, "Niềm vui chung hưởng tăng gấp hai lần, nỗi buồn san sớt vơi phân nữa".
Tác giả Truyền Đạo, vua Sô-lô-môn, dạy rất rõ về sự quan trọng của quan hệ trong đời sống: Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình. Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên! Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được? Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thế chống cự nó; một sợi dây đánh ba tao lấy làm khó đứt. (4:9-12)
Mấy câu KT này nêu lên 3 giá trị quan trọng của quan hệ.
Giá trị thứ nhất là khi có bầu bạn, quan hệ thân thiết thì chúng ta sẽ được nâng đở, an ủi khi sa ngã, vấp phạm. Có ai tự hào mình không hề sa ngã hay vấp phạm? Sa ngã vì chính lỗi lầm của mình, hay vì sự yếu đuối, mềm lòng trong một giây phút dại dột, nông nổi nhất thời. Cũng có thể đó là một vấp phạm mà đến giờ khi nghĩ lại vẫn còn thấy tủi hổ. Có ai dám tự hào rằng mình chưa bao giờ và sẽ không bao giờ sa ngã, phạm lỗi lầm? Nhưng người có quan hệ với Đức Chúa Trời và với thân quyến sau khi thú tội, ăn năn sẽ được tha thứ, động viên, nâng đỡ để đứng lên. Còn người cô độc thì thật đau khổ như lời Kinh Thánh viết, "khốn thay cho kẻ ở một mình (hay kẻ cô độc) mà sa ngã không có ai đỡ mình lên!" Chúng ta có thể thay vào từ "khốn thay" bằng từ đau khổ thay, bất hạnh thay, đáng thương thay. Ai sẽ đở chúng ta đứng lên khi vấp ngã? Ai sẽ yêu thương, tha thứ khi phạm những lỗi lầm trong đời sống?
Giá trị thứ hai là được khích lệ, động viên khi nản lòng, thất chí, mất đi sức sống, hăng hái phấn khởi như ngày nào. Vua Sô-lô-môn dùng hình ảnh của hai người ngủ chung thì ấm. Ấm đây cũng hàm ý đến lòng nhiệt thành, lòng nóng cháy trong công việc, trong quan hệ, trong sự hầu việc Chúa. Lắm khi lòng chúng ta nguội lạnh và cần có người trò chuyện, động viên để hâm nóng lại sự nóng cháy đó.
Khi bắt đầu một công việc mới, mở một cửa tiệm mới, hay vừa mới lập gia đình, chúng ta vui vẻ lắm, thích thú, nôn nả lắm. Đêm ngủ chỉ mong trời sáng để ra tiệm, để đến hảng xưởng. Mới cưới nhau, trai gái cả ngày bồn chồn chỉ mong về nhà để gặp người vợ, người chồng của mình. Nhưng với thời gian, công việc trở nên nhàm chán. Hôn nhân cũng mất đi ngọn lửa ái tình của thưở ban đầu. Lòng chúng ta trở nên nguội lạnh, dững dưng, rồi dần dà nản lòng, thất chí. Tôi chắc rằng quý thính giả đều kinh nghiệm được điều này. Lúc ấy ai sẽ là người giúp quý vị khơi lại ngọn lửa nhiệt thành ban đầu? Có ai bên cạnh quý vị để động viên, khích lệ? Có ai đó làm ấm lại lòng của quý vị trước cuộc đời đều đặn đến độ tẽ nhạt, buồn chán hằng ngày?
Giá trị thứ ba của quan hệ theo lời dạy Sô-lô-môn là sự bảo vệ. Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thể chống cự nó. Vua Sô-lô-môn nhắc rằng tất cả chúng ta rồi cũng sẽ bị chỉ trích, tấn công, thậm chí hãm hại. Bị chỉ trích dù khi biết mình làm sai đã là một điều không dễ chấp nhận, nhưng bị người tấn công vô cớ, bị người hãm hại cách oan uổng thì thật đáng giận lắm. Có những người hiền hòa, nhân từ hết sức, vui vẻ, tử tế với mọi người mà vẫn bị người ta dèm pha, nói xấu, thậm chí hãm hại. Những lúc đó, ai cũng mong được có người bên cạnh để che chở, bảo vệ, thậm chí để chống trả lại.
Tuy nhiên có rất nhiều hoàn cảnh, nan đề trong đời sống mà dù người thân yêu, anh chị em trong Chúa hay bạn hữu cũng không thể giúp chúng ta giải quyết. Lúc đó nhiều người trong chúng ta chạy tìm những chuyên gia, người cố vấn hay sách vở. Lại cũng có những suy nghĩ rằng người mạnh mẽ phải là người tự mình vượt thắng mọi thử thách, khó khăn trong đời sống mà không cần ai giúp cả. Người Mỹ gọi những người này là self-made men, self-made women. Như một bài thơ họ tự xưng là captain of my fate, master of my soul¸ chỉ huy của vận mạng tôi, chủ của linh hồn tôi.
Bao nhiêu cảnh ngộ, tình huống khó khăn trong đời sống như bức tường dầy kín, kiên cố không ai có thể lay chuyển, huống chi đến đục lỗ để chui qua!
Cũng có biết bao nhiêu nỗi khổ, niềm đau trong đời sống mà chúng ta không thể chia xẻ cùng ai, dù là những người gần gủi, thân thương nhất. [Tôi nhớ đến mẹ tôi bao đêm khuya ngồi khóc một mình trước bàn thờ ba tôi]
Đối với người tin Chúa, bên cạnh những quan hệ gần gũi mật thiết của người thân yêu, anh chị em tín hữu hội thánh, bè bạn, bên cạnh nổ lực, phấn đấu cá nhân, chúng ta ý thức rằng trong cuộc sống này chúng ta cũng còn cần đến Đức Chúa Trời.
Đa-vít ý thức rất rõ điều này khi ông viết những lời thở than về tình người như sau: Tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; Tôi mong-nhờ người an ủi, song nào có gặp. Chúng nó ban mật đắng làm vật thực tôi, Và cho tôi uống giấm trong khi khát. (TT 69:20-21). Có bao giờ quý vị kinh nghiệm như Đa-vít trong lúc hoạn nạn?
NGƯỚC MẮT LÊN CHÚA – NƯƠNG VÀO CÁNH CHÚA
TT 121 có lời đề tựa là bài ca đi lên từ bực (song of ascents) (TT 120-134 là những bài ca đi lên từ bực). Đây là những bài hát mà những người hành hương từ phương xa đến đền thờ thành Jerusalem để thờ phượng ĐGHV.
TT 121 bắt đầu với câu Tôi ngước mắt lên trên núi: Sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Từ núi đây là đồi (hills), những ngọn đồi chung quanh thành Jerusalem. Đồi là hình ảnh tượng trưng cho sự vững chắc, trường cửu tự ngàn xưa và sẽ vẫn còn cho đến ngàn năm. Như ĐCT là Đấng bền vững, muôn đời không thay đổi dù hoàn cảnh, lịch sử, con người có đổi thay.
Trong hoàn cảnh khó khăn, chúng ta ngước mắt nhìn nơi đâu? Gia đình, thân quyến, bạn hữu hay chính sức lực mình? Và chúng ta hỏi sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ nói lên hai điều: 1) Tôi cần được giúp đở vì tôi không thể tự cứu mình hay tự vượt qua trên hoàn cảnh khó khăn này, 2) Sự tiếp trợ đó đến từ bên ngoài, chứ không trong khả năng chính tôi.
Phải chăng chúng ta quá kiêu hảnh hay tự phụ để thú nhận: tôi cần Chúa, tôi cần sự trợ giúp từ nơi Chúa vì ngoài Ngài không ai có thể giúp tôi trong cảnh ngộ này.
Nhiều tín đồ hỏi giữa Judas Iscariot và Peter có sự khác biệt gì? Một người bán Chúa, một người chối Chúa. Thậm chí Phao-lô, người bắt bớ Chúa. Sự khác biệt dẫn đến hai kết thúc hoàn toàn khác nhau: Giu-đa thay vì trở lại cùng ĐCJC để xin Ngài tha tội thì lại tự vẫn. Nhưng Phi-e-rơ và Phao-lô ăn năn, nhìn lên Chúa mà xưng tội lỗi mình và xin được tha thứ, hồi phục.
Người tin Chúa có thể tạm chia làm mấy nhóm sau đây:
1. Nhóm thứ nhất như chiên quyết định nhìn và theo sát người chăn. Họ nghe tiếng Ngài và quyết tâm theo Ngài nơi nào Chúa dẫn đưa. Đây là những người có quan hệ mật thiết với Chúa trong bất kỳ cảnh ngộ nào của đời sống. Với họ, Chúa xác nhận: Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta. 28 Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta. (Giăng 10:27-28)
2. Nhóm thứ hai là những người hoàn toàn không muốn gì với người chăn chiên. Họ sống, hành động, làm việc, ăn ở, sinh hoạt theo ý muốn, sở thích riêng của họ. Họ nghe tiếng người Chăn Chiên nhưng mặc kệ.
3. Nhóm thứ ba là những người muốn theo Chúa nhưng sợ. Sợ theo Chúa thì khổ, sợ mất vui với bè bạn, sợ mất tiếng nơi làm việc. Họ phân vân, lưỡng lự. Lúc muốn nhất quyết theo Chúa, nhưng có lúc lưỡng lự, phân vân. Đây là người như một bài thơ: Bâng khuân đứng giữa hai dòng nước. Chọn một dòng hay để nước trôi luôn.
Nên nhớ khi không quyết định là chúng ta cũng đã quyết định rồi! Chính vì quyết định lúc gần, lúc xa nên họ không được sự quan phòng, bảo vệ của người chăn chiên hiền lành là Jêsus Christ.
Khi chúng ta ngước mắt lên ĐCT trong năm tới này không phải là thể hiện của sự yếu đuối hay của một niềm tin mù quáng. Không, đây là hình ảnh của một người tin tưởng nơi ĐCT và ý thức rằng Ngài mới chính thật là nguồn trợ giúp duy nhất và toàn vẹn nhất trong cuộc đời này.
Bài TT này có một từ lập lại nhiều lần là từ giữ (keep – shamar) trong câu 3, 4, 5, 7, 8. Giữ hay dõi xem, trông chừng cách cẩn thận, không để hư hại, mất mát. Như PL đã cả quyết cùng tín hữu hội thánh Phi-líp: tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết [gìn giữ] cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ. (1:6). ĐCT gìn giữ chúng ta không phải vì đó là bổn phận hay nhiệm vụ của Ngài nhưng bởi vì tình yêu thương, lòng nhân từ với con dân Ngài. Sự gìn giữ này có tính cách tự nguyện như cha mẹ tự nguyện gìn giữ, trông xem các con mình, sẵn sàng hy sinh cho con khi hữu sự.
Ai? Tác giả TT nhấn mạnh Đấng gìn giữ, tiếp trợ chúng ta là Đấng đã dựng nên trời và đất. Người đời thường khoe khoang, hãnh diện về những người quen, người bạn có quyền chức, thế vị. Quen với tổng thống, bộ trưởng hay chủ tịch hãng Intel, Google thì hãnh diện lắm! Nhưng Đấng trợ giúp chúng ta là Đấng sáng tạo cả trời đất, vũ trụ.
Giữ thế nào? Không để cho chơn ngươi xiêu tó (trượt vấp); không hề buồn ngủ. Một cách để nhấn mạnh sự quan trọng trong văn thơ KT là lập lại ý đó với nhiều cách: Đấng gìn giữ ngươi không hề buồn ngủ. Đấng gìn giữ Y-sơ-ra-ên Không hề nhắp mắt, cũng không buồn ngủ (3-4) Hình ảnh này nói lên sự liên tục, không gián đoạn, không chi phối của sự quan phòng ĐCT với con dân Ngài. Người mẹ nào dù thương con đến mấy khi thức đêm canh bệnh cũng có lúc mệt mỏi phải ngủ quên. Nhưng sự quan phòng của ĐCT không bao giờ bị gián đoạn vì trong suốt mọi thời điểm của đời sống chúng ta, Chúa đều dõi trông. Ngay trong những thời điểm mà chúng ta tưởng như Ngài vắng mặt.
[Câu chuyện Dấu chân trên cát]. Chúa giữ chúng ta cách cẩn thận không để chơn ngươi xiêu tó, trượt vấp. Cả ngày lẫn đêm mặt trời không giọi lúc ban ngày, mặt trăng lúc ban đêm. Bất cứ nơi nào khi ra khi vào. Cả thể xác lẫn linh hồn gìn giữ khỏi mọi tai họa, gìn giữ linh hồn ngươi.
Chú ý TT là thơ nhạc nên thường dùng cách phóng đại hóa để nói lên một ý tưởng quan trọng. Như những bài thơ, bài nhạc VN. Như trong Truyện Kiều khi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du viết Vầng trăng ai xẻ làm đôi. Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. Hay như trong bài nhạc Áo Lụa Hà Đông: Nắng Sài Gòn anh đi mà chợn mát. Bởi vì em mặt áo lụa hà đông. Hay như trong một bài thơ phổ nhạc: Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh anh mến lá sân trường. Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu thương. Anh pha mực cho vừa màu luyến thương.
Vậy khi tác giả TT viết mặt trời sẽ không dọi ngươi… gìn giữ ngươi khỏi mọi tai họa, thì tác giả không có ý là tất cả mọi tai họa hay mặt trời không chiếu dọi vào người tin Chúa nhưng hàm ý rằng sự gìn giữ và quan phòng của ĐCT liên tục và không điều gì xảy ra trong đời chúng ta mà Chúa lại không biết cả.
The early American Indians had a unique practice of training young braves. On the night of a boy's thirteenth birthday, after learning hunting, scouting, and fishing skills, he was put to one final test. He was placed in a dense forest to spend the entire night alone. Until then, he had never been away from the security of the family and the tribe. But on this night, he was blindfolded and taken several miles away. When he took off the blindfold, he was in the middle of a thick woods and he was terrified! Every time a twig snapped, he visualized a wild animal ready to pounce. After what seemed like an eternity, dawn broke and the first rays of sunlight entered the interior of the forest. Looking around, the boy saw flowers, trees, and the outline of the path. Then, to his utter astonishment, he beheld the figure of a man standing just a few feet away, armed with a bow and arrow. It was his father. He had been there all night long.
