Ngụ Ngôn Về Địa Ngục (Lu-ca 16:19-31)
Tuần lễ này và tuần lễ tới, tôi muốn cùng qv lời ĐCJC dạy về một đề tài vô cùng quan trọng nhưng không mấy phổ thông: địa ngục. KT của bài giảng từ ngụ ngôn ĐCJC kể trong Lu-ca 16:19-31.
Trong tất cả các đề tài, địa ngục là một đề tài mọi người đều muốn tránh nói đến. Rất nhiều câu hỏi khó khi nói về địa ngục. Làm thế nào một ĐCT yêu thương, nhân từ, chậm nóng giận, mau tha thứ lại có thể buộc tội một người vào địa ngục đời đời chỉ vì họ không tin Ngài, không tin vào sự cứu rỗi từ ĐCJC? Khi phạt tội nhân vào địa ngục đời đời thì ĐCT có công bình hay không? Sự trừng phạt có quá nặng nề, thậm chí dã man, tàn bạo so với tội phạm hay không? Tại sao một người chỉ phạm tội trong vài ba mươi năm hay trăm năm mà lại bị trừng phạt đời đời nơi địa ngục, không có cơ hội để ăn năn thay đổi, chuộc lại cho tội lỗi đã phạm? Có người vẽ lên hình ảnh của ĐCT và của những người đã được cứu từ trên thiên đàng nhìn xuống địa ngục nhìn tội nhân đang oằn oại, đau đớn, khổ sở mỗi giây phút, không bao giờ chấm dứt với sự thỏa mãn. Thậm chí nếu có tội nhân từ địa ngục van xin được thoát ra thì từ ĐCT lại đẩy họ trở xuống lại địa ngục.
Đây là suy nghĩ hoàn toàn trái nghịch với KT. Tại sao tôi có thể khẳng định rằng ĐCT đau lòng, rất đau lòng khi phải nhìn thấy con người chọn để vào địa ngục (tôi sẽ giải thích điểm quan trọng này trong bài giảng hôm nay và lần tới: chính con người chọn để vào địa ngục)? Nhưng nếu kẻ dữ từ bỏ mọi tội mình đã phạm, vâng giữ mọi luật lệ Ta; nếu nó làm điều công minh, chính trực, thì nó sẽ sống chứ không chết đâu. 22Không một tội nào nó đã phạm sẽ bị nhớ lại để chống lại nó. Nó sẽ sống vì điều công chính nó đã làm. 23Chúa Giê-hô-va phán: ‘Chẳng lẽ Ta lại vui vì sự chết của kẻ dữ sao? Chẳng phải Ta vui vì nó từ bỏ đường lối mình để được sống sao? (Ê-xê-chi-ên 18:21-23 - BHĐ)
KT dạy gì về địa ngục, về tội nhân trong địa ngục, về ĐCT đối với việc xử phạt con người vào địa ngục? Nếu quí tín hữu muốn hiểu rõ cách tường tận lời dạy của KT về địa ngục, qv có thể tham gia buổi học KT tối thứ hai khi tìm hiểu về đề tài này. Qua hai bài giảng tuần này và tuần tới trọng tâm là về lời dạy của ĐCJC qua ngụ ngôn kể trong Lu-ca 16:19-31. Dù vậy tôi cũng sẽ cố gắng giải thích thêm một số điều KTTU dạy về địa ngục.
HAI LÝ DO ĐỂ LẮNG NGHE LỜI CHÚA DẠY VỀ ĐỊA NGỤC
Tôi mong qv chủ ý để lắng nghe bài giảng về địa ngục vì hai lý do sau đây. Lý do thứ nhất là chỉ khi hiểu rõ về lời KT dạy về địa ngục chúng ta mới có thể thật sự hiểu rõ về tình yêu thương bao la ĐCT dành cho tội nhân. Tôi sẽ giải thích điểm này rõ hơn trong bài giảng tuần tới.
Lý do thứ hai tôi mong qv chủ ý lắng nghe lời KT dạy về địa ngục là bởi vì Đấng dạy về niềm tin này chính là ĐCJC. Không một nhân vật nào trong KT lại dạy về địa ngục nhiều hơn ĐCJC. Qv nghe không lầm: không ai trong KT dạy về địa ngục nhiều hơn ĐCJC. Không phải PL hay Phi-e-rơ hay Đa-vít hay Đa-ni-ên hay Mô-se. Tại sao điều này là lý do khiến qv cần lắng nghe? Bởi vì ĐCJC là thể hiện cụ thể và chắc chắn nhất về tình yêu thương, sự tha thứ và cứu tội của ĐCT cho con người. ĐCJC không chỉ nói với chúng ta Ta yêu thương con, Ta muốn cho được cứu, Ta muốn con được lên thiên đàng để hễ Ta ở đâu thì các con cũng ở đó, nhưng chính Ngài đã hạ thế giáng sinh làm người, chịu thương khó, nhục nhã, chịu chết cho tội của con người. ĐCJC không chỉ dạy về tình yêu thương nhưng Ngài đã thực hiện mọi điều Ngài dạy về tình yêu thương. Chúa không chỉ nói về sự nhân từ, tha thứ nhưng chính Ngài đã bày tỏ lòng nhân từ, sự tha thứ qua cái chết trên thập giá: chính ĐCJC là sự nhân từ, tha thứ, là tình yêu thương.
Sứ đồ Giăng khi được ĐCJC gọi theo Ngài còn là một thanh niên rất trẻ tuổi. 70, 80 năm sau đó, khi đến cuối đời nhớ về Đấng đã gọi ông, Giăng viết những lời hết sức cảm động sau: Các con yêu dấu! Chúng ta hãy yêu thương lẫn nhau, vì tình yêu thương xuất phát từ Đức Chúa Trời. Ai thương yêu thì đã được Đức Chúa Trời sinh ra và nhận biết Đức Chúa Trời. 8Ai không yêu thương thì không biết Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời là tình yêu thương. 9Đây là cách Đức Chúa Trời biểu lộ tình yêu thương của Ngài giữa vòng chúng ta: Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài đến thế gian để nhờ Con ấy chúng ta được sống. 10Tình yêu thương ở trong điều này: Không phải chúng ta đã yêu kính Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con Ngài làm sinh tế hy sinh chuộc tội lỗi chúng ta (1 Giăng 4:7-10 – BDM).
Chính Đấng yêu thương đến nỗi hy sinh thân Ngài cũng là Đấng dạy các môn đồ, đoàn dân đông về địa ngục nhiều hơn tất cả mọi nhân vật trong KT. Vậy khi qv nói rằng tôi không thể tin ĐCT yêu thương có thể trừng phạt con người đau khổ trong địa ngục đời đời, ít nhất qv cũng nên nghĩ lại rằng chính Đấng đã chịu chết cho tội của qv đang khi qv vẫn còn đang phạm tội cũng đã xác nhận về địa ngục và sự khủng khiếp, ghê sợ của địa ngục. Vậy qv nên nhớ rằng chính bởi tình yêu thương mà ĐCJC răn dạy chúng ta về địa ngục. Bởi vì Chúa không muốn ai phải chịu đau khổ đời đời nơi địa ngục. Trái lại Chúa muốn mọi người có cơ hội để nghe, hiểu và tin nhận Ngài để được cứu, được hưởng phước hạnh đời đời trên thiên đàng. Vậy người Cơ Đốc, tín đồ không thể nào có thể nói: “Chúa Giê-xu, con nhân từ hơn Ngài, con văn minh hơn Ngài nên con không thể tin có địa ngục, tin vào lời Chúa dạy về địa ngục!”
BỐI CẢNH NGỤ NGÔN CHÚA KỂ
Ngụ ngôn về địa ngục trong Lu-ca 16:19-31 là ngụ ngôn duy nhất được Lu-ca ghi lại trong 4 sách PA. Lý do gì ĐCJC kể ngụ ngôn này và cho ai? Lu-ca 16 bắt đầu với một ngụ ngôn ĐCJC kể cho các môn đồ: ngụ ngôn về một người quản gia bất chính nhưng rất khôn ngoan. Chúa kết luận cho các môn đồ về bài học từ ngụ ngôn này: Ta bảo các con, hãy dùng của cải bất chính mà kết bạn để khi của ấy cạn đi, họ sẽ tiếp rước các con vào nhà vĩnh cửu. 10Ai trung tín trong việc nhỏ cũng trung tín trong việc lớn. Ai bất chính trong việc nhỏ cũng bất chính trong việc lớn… 12Nếu các con không trung tín về của cải của người khác, thì ai dám giao cho các con của cải thuộc phần các con? 13Không một đầy tớ nào có thể phục vụ hai chủ, vì sẽ ghét chủ này, thương chủ kia, hoặc trọng chủ này mà khinh chủ kia. Các con không thể phục vụ Đức Chúa Trời lẫn tiền tài. (Lu-ca 16:9-10, 12-13 - BDM).
Sau khi nghe ĐCJC dạy rằng môn đồ không thể phục vụ ĐCT lẫn tiền bạc, KT viết: Các người Pha-ri-si là những kẻ ham tiền nghe mọi lời ấy thì chê cười Ngài. 15Chúa bảo họ: “Các người là những người làm ra vẻ công chính trước mặt người ta, nhưng Đức Chúa Trời biết lòng các người; vì điều người ta đề cao lại là điều ghê tởm trước mặt Đức Chúa Trời. (16:14-15 – BDM)
Rồi Chúa kể ngụ ngôn về người giàu và La-xa-rơ để những người Pha-ri-si nghe. Vậy đối tượng của ngụ ngôn này là những người bề ngoài đạo đức, tôn giáo, biết & vâng giữ luật pháp ĐCT nhưng bên trong hoàn toàn khác. Con người thật bên trong của họ là những người tham lam tiền bạc, sống chỉ để làm giàu, sống cho đời này và hưởng được mọi sung sướng, xa hoa vật chất đời này, tàn nhẫn vô tâm với những người nghèo khổ. Hình ảnh người nhà giàu trong ngụ ngôn ĐCJC kể là tượng trưng của những người Pha-ri-si, tưởng như đạo đức, công chính bên ngoài nhưng bên trong lòng xấu xa, tham lam tiền bạc.
LA-XA-RƠ VÀ NGƯỜI GIÀU TRONG ĐỜI NÀY
Có một người giàu kia thường ăn mặc gấm vóc lụa là (áo tía và áo bằng vải gai mịn), hằng ngày tiệc tùng xa xỉ. 20 Cũng có một người nghèo khổ tên La-xa-rơ nằm trước cổng nhà người giàu ấy, mình đầy ghẻ lở. 21 La-xa-rơ mơ ước được hưởng các mảnh vụn từ bàn người giàu rớt xuống, nhưng chỉ có chó đến liếm ghẻ trên người.
Đây là ngụ ngôn duy nhất trong tất cả ngụ ngôn ĐCJC kể được ghi lại trong 4 sách PA có một nhân vật với tên. Trong ngụ ngôn này có hai nhân vật: người giàu và La-xa-rơ. Chú ý ĐCJC dụng ý dùng hai từ để nói về hai nhân vật này. Người giàu không có tên, chỉ được gọi là người gọi. Người nghèo, không chỉ nghèo mà còn cực kỳ nghèo khó và khốn khổ lại có tên là La-xa-rơ. Tên La-xa-rơ là từ ngắn của Eleazer. Eleazer là một tên ghép gồm 2 từ: El, ĐCT và azer, động từ, nghĩa là trợ giúp. Vậy Eleazer có nghĩa là người được ĐCT cứu giúp hay ĐCT là Đấng cứu giúp tôi, ĐCT là Đấng cứu rỗi của tôi.
Theo suy nghĩ, lý luận người đời này, lẽ ra người giàu phải là người có tên, còn người nghèo khó mới là vô danh. Dụng ý của ĐCJC là gì? Sự giàu có chính là tên của người giàu. Sự giàu có chính là đặc tính, bản sắc mô tả tất cả về người này. Còn với L. ĐCT là tất cả của đời ông; bởi vì ngoài Chúa ông chẳng có gì cả. Tôi giải thích cho qv về điểm quan trọng này.
Trong KT cũng như trong cuộc sống hôm nay, mỗi người đều có một tên. Tên trong KT rất quan trọng bởi vì tên là tiêu biểu cho tất cả bản sắc về người đó. Áp-ram có nghĩa là người cha cao quí; Áp-ra-ham là người cha của nhiều dân tộc. Gia-cốp là kẻ nắm gót chân, tức người lừa dối; Y-sơ-ra-ên là người vật lộn và được ĐCT chinh phục, chế ngự. Ma-na-se, con trai đầu của Giô-sép có nghĩa là ĐCT đã làm cho ta quên điều cực nhọc, và cả nhà cha ta. Ép-ra-im, con trai kế của Giô-sép có nghĩa là ĐCT làm cho ta được hưng vượng trong xứ mà ta bị khốn khổ.
Cùng với tên, chúng ta thường nhận định một người với một trợ từ: hiền hòa, dữ tợn, khôn ngoan, khờ dại, trung tín, tham lam, tử tế, tàn ác, nhân từ, bất nhẫn… Khi nghe tên Sô-lô-môn, lập tức chúng ta nghĩ đến trợ từ khôn ngoan, thông minh. Nghĩ đến Áp-ra-ham, lập tức nghĩ đến trung tín, vâng phục. Phao-lô, tận tụy, hy sinh cho Chúa.
Tên của một người mang ý nghĩa mà người đặt cho mong mỏi người đó sẽ có. Như khi chúng tôi đặt tên cháu Hannah, chúng tôi mong con nhân hậu, can đảm như bà A-ne mẹ Sa-mu-ên. Nhưng trợ từ thường được đặt bởi người chung quanh khi họ nhận xét, quan sát, đánh giá người đó. Và nhiều khi trong đời sống, trợ từ trở thành chính tên của người đó. Một người tên Hậu có nghĩa là nhân hậu, hiền hòa, phúc hậu sống đúng với ý nghĩa của tên sẽ được mọi người khen thật nhân hậu đúng như tên. Nhưng nếu không nhân hậu, hiền hòa mà lại quá hung dữ, độc ác thì sẽ được gọi là Hậu ác hay Hậu dữ. Rồi dần dần người ta cũng sẽ quên tên hậu mà chỉ còn nhớ về tính dữ, tính ác.
Tên tôi là Tấn, có nghĩa là tiến tới trước. Nhưng nếu không tiến mà chỉ dừng lại một chổ, hay lùi lại sau thì e rằng người quanh tôi sẽ gọi tôi là Ô.MS Tấn lùi!
Đây cũng là chủ ý của ĐCJC khi gọi hai nhân vật trong ngụ ngôn là người giàu và La-xa-rơ. Người giàu không có tên bởi vì qua thời gian, người chung quanh ông ta nhận biết rằng đặc tính thật sự của người này, tập trung của đời ông (dù mang tên gì đi nữa) là tài sản, sự nghiệp, đời sống vật chất giàu có. Được giàu có, thêm giàu có, hưởng sự giàu có là mục đích, chú tâm của cả cuộc đời. Người đời không còn nhớ tên của người giàu có mà chỉ nhớ về tài sản, về sự giàu có của ông.
Qv nhớ khi người Pha-ri-si nghe lời dạy của ĐCJC: 13Không một đầy tớ nào có thể phục vụ hai chủ, vì sẽ ghét chủ này, thương chủ kia, hoặc trọng chủ này mà khinh chủ kia. Các con không thể phục vụ Đức Chúa Trời lẫn tiền tài, họ làm gì? Họ chế diễu bởi vì họ tham tiền. Vậy người giàu trong ngụ ngôn tượng trưng cho những người Pha-ri-si, đạo đức bên ngoài, nhưng thật sự là những người tham lam tiền bạc. Họ không còn là người Pha-ri-si, hay mang một tên nào đó bởi vì con người thật của họ, tất cả đặc tính về cuộc đời của họ là tiền bạc, của cải, vật chất, tiền, tiền, tiền. Vì vậy ĐCJC gọi họ là người giàu.
Trái lại dù nhân vật kia trong ngụ ngôn là người thật nghèo khổ nhưng được nhớ như người có tên La-xa-rơ, bởi vì ông biết chắc rằng ĐCT là Đấng cứu giúp ông.
Hai nhân vật, hai cuộc đời hoàn toàn tương phản với nhau như trắng với đen, ngày với đêm. Người giàu được kể là người mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng (hằng ngày tiệc tùng xa xỉ - BDM). Hai trợ từ cho thấy về đời sống của người giàu này: thường và hằng ngày. Có nghĩa là đây là cuộc sống mỗi ngày chứ không phải thỉnh thoảng một lần.
Trong thời đó, màu tía (tím) là màu của vua chúa, quan chức, của người rất giàu có. Để làm được thuốc nhuộm màu tím này, thời đó người ta phải lấy một chất từ một loại ốc (xem hình) và tốn rất nhiều công phu và thời gian để sản xuất đủ số lượng để nhuộm một tấm vải. Không chỉ vậy người giàu còn mặc áo vải gai mịn làm từ loại gòn rất đắc tiền từ xứ Ai-câp, loại gòn chỉ trồng trong vùng sông Nile.
Áo tía và vải gai mịn mặc hằng ngày cho biết đây là một người vô cùng giàu có và muốn tỏ ra cho mọi người biết mình giàu có. Không chỉ về việc trang phục hằng ngày nhưng người nhà giàu này còn có tiệc tùng xa xỉ (BDM, BHĐ).
Còn La-xa-rơ, ĐCT là Đấng cứu giúp, thì sống thế nào? Cũng có một người nghèo khổ tên La-xa-rơ nằm trước cổng nhà người giàu ấy, mình đầy ghẻ lở. 21 La-xa-rơ mơ ước được hưởng các mảnh vụn từ bàn người giàu rớt xuống, nhưng chỉ có chó đến liếm ghẻ trên người. Cổng nhà người giàu cho thấy nhà của người giàu này rất to lớn không phải cánh cửa trước nhà nhưng là cổng trước khi vào khuôn viên, mẫu đất. Thân thể đầy ghẻ. Một người ăn mày nghèo khổ, dơ bẩn, hôi thối với những mụn nhọt, lỡ loét ứa máu mủ đầy người, đói khổ thèm thức ăn vụn từ bàn cho chó cũng không có. Người tật nguyền, không thể tự di chuyển phải nhờ người ta đem đến đặt trước cổng vào khuôn viên nhà to lớn hy vọng người ra vào ném chút thức ăn, vài đồng bạc lẽ.
Một học giả KTTU tên Joachim Jeremias giải thích một chi tiết về đồ ở trên bàn người giàu rớt xuống. Trong thời đó không có khăn ăn, giấy chùi tay như hôm nay nên khách các buổi tiệc lớn của những người giàu có thường dùng những mẫu bánh vụn để chùi tay vì do dùng tay khi ăn tiệc. Và sau khi chùi tay bằng những mẫu bánh vụn, họ ném những miếng bánh dơ xuống dưới bàn để chó có thể ăn.
Vậy câu Người mơ ước được hưởng các mảnh vụn từ bàn người giàu rớt xuống cũng có nghĩa như một ngụ ngôn khác ĐCJC kể trong Lu-ca 15 về người con trai hoang đàng: Nó muốn lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho. (Lu-ca 15:16). La-xa-rơ muốn được những mẫu bánh vụn chùi tay dơ bẩn của những người ăn trong bàn ném xuống cho chó ăn những cũng chẳng ai cho.
Người giàu có mặc áo tím vải mịn, ăn uống tiệc tùng dư thừa, xa xỉ hằng ngày cũng không hề để ý đến thân phận khốn khổ cho La-xa-rơ, người nằm ngay trước cổng vào khuôn viên nhà ông. Tấm lòng của người giàu này hoàn toàn không hề quan tâm, chú ý, cân nhắc đến cảnh khó khăn, nghèo khổ của người chung quanh, ngay cả khi nhìn thấy trước mắt mình. Đời sống ông hoàn toàn bị chế ngự, chiếm đoạt bởi vật chất đời này, bởi sự thỏa mãn thể xác cho mình, duy cho mình trong đời này. Ai đói, ai khổ, ai chết, ai nghèo mặc ai. Chính tấm lòng cứng cỏi, thờ ơ, dững dưng, mặc kệ với người quanh mình dẫn người giàu này đến địa ngục. Không phải sự giàu có, tài của của ông nhưng thái độ, cư xử, tâm tình, ước muốn của ông về sự giàu sang này đưa ông đến địa ngục.
Đây chính là lý do, nguyên nhân ĐCJC dạy: Các con không thể phục vụ Đức Chúa Trời lẫn tiền tài.. (Lu-ca 16:13) để cảnh cáo những người Pha-ri-si tham lam, mê đắm tiền bạc. Sứ đồ PL cũng răn dạy Ti-mô-thê: Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn. (1 Ti-mô-thê 6:10)
Hai cuộc đời, hai cảnh ngộ. Nhìn vào người giàu, ai lại không bảo rằng đây là người được phước. Nhìn vào La-xa-rơ, ai lại không bảo rằng đây là người vô ơn, bạc phước. Ai lại không muốn đời sống mình như người giàu và tìm mọi cách, mọi cách để tránh cuộc đời như La-xa-rơ.
Ngụ ngôn ĐCJC kể nói rõ một điều là sự giàu có không phải luôn luôn là bằng chứng của ơn phước từ ĐCT hay sự nghèo khổ luôn luôn là bằng chứng của sự thiếu ơn phước Chúa cho đời sống. Đây là niềm tin, giáo lý theo 3 bạn của Gióp và đặc biệt của người Pha-ri-si. ĐCJC không hề dạy điều này.
LA-XA-RƠ VÀ NGƯỜI GIÀU TRONG ĐỜI SAU
Nhưng rồi cuối cùng cả hai đều chết. Giàu có đến mấy, xa hoa đến mấy rồi người giàu cũng chết. Chú ý lời Chúa kể: 22Người nghèo chết, các thiên sứ đem đặt vào lòng Áp-ra-ham. Người giàu cũng chết và được chôn cất. 23Bị khổ hình nơi Âm Phủ, người giàu ngước mắt nhìn lên, thấy Áp-ra-ham ở đàng xa, có La-xa-rơ đang ở trong lòng. 24Người giàu kêu xin: ‘Tổ phụ Áp-ra-ham ơi, xin thương xót con, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước, thấm mát lưỡi con, vì con bị đau đớn quá trong lửa này!’ (Lu-ca 16:22-24).
La-xa-rơ chết trước, chắc chắn vì khổ sở, bệnh hoạn như vầy làm sao sống lâu như người giàu. Không hề có một đám tang cho L. Có lẽ người ta chỉ quấn xác ông bằng một tấm chiếu rách rưới, vụt bỏ rồi ném vào một thung lũng phía nam, ngoài thành Giê-ru-xa-lem tên Hinnom. Đây là nơi trong thời Cựu Ước, người ta dân con mình là của tế lễ cho thần Molech. Rồi theo thời gian, đến thời ĐCJC, dân chúng trong thành Giê-ru-xa-lem dùng thung lũng Hinnom này làm nơi ném ném bỏ xác chết các thú vật và xác của những người nghèo khó không thân nhân, xác những tên trộm cướp và thiêu đốt rác dơ.
Còn người giàu được người ta đem chôn cất tử tế. Chắc chắn nhiều người đến dự đám tang và nhiều bài diễn văn nói về ơn phước người này nhận được từ nơi ĐCT khi sống.
Nhưng sự chết không phải là hết. Sau khi La-xa-rơ chết (chú ý Chúa dụng ý dùng từ người nghèo) các thiên sứ đem đặt vào lòng Áp-ra-ham. Không phải chỉ một thiên sứ nhưng các, nhiều thiên sứ, nói lên một điều hân hạnh, vinh dự. Cũng chính chi tiết mà các học giả KT giải thích câu chuyện này thật là một ngụ ngôn. Bởi vì dù KT nói đến nhiều chức năng, công việc của thiên sứ, không một nơi nào trong suốt KTCU và TU lại nói về việc thiên sứ đem người chết đến thiên đàng. KT cho biết sau khi qua đời, thể xác của người tin Chúa sẽ được chôn vào lòng đất rồi theo thời gian sẽ trở nên bụi đất (hay thiêu đốt), còn linh hồn lập tức đến thiên đàng nơi có sự hiện diện đời đời của ĐCT.
Hình ảnh thiên sứ đem L. đặt vào lòng Áp-ra-ham nói lên 2 ý. Thứ nhất, đặt vào lòng Áp-ra-ham là cách nói rằng L. ở thiên đàng nơi Ạ đang ở sau khi chết. Người Pha-ri-si chắc chắn hiểu nơi Áp-ra-ham ở sau cái chết là thiên đàng. Ý thứ hai đặt vào lòng Áp-ra-ham còn có nghĩa ở cạnh sát bên Ạ như không tách rời. Ghế ngồi của L. ngay cạnh ghế Ạ trong bửa tiệc thịnh soạn trên thiên đàng; nhà L. ở sát cạnh nhà Ạ. Nếu trên thiên đàng có cấp bậc danh dự, chắc chắn Ạ sẽ ở hàng tối danh dự, bàn ăn của Ạ sẽ gần sát bàn ăn của ĐCT, nhà ở của ông cũng chỉ vài bước đến nơi Chúa ngự.
Qv nghĩ những người Pha-ri-si nghe ngụ ngôn này nghĩ thế nào khi nghe câu này? Tên ăn mày bẩn thỉu, hôi hám, nghèo khổ, bệnh hoạn, tật nguyền nằm trước cổng người giàu thèm một miếng bánh dơ chùi tay từ bàn ném xuống cho chó không được, mà nay ở cạnh bên, sát bên Áp-ra-ham nơi vinh dự nhất?
Sau khi người giàu chết, sau khi được chôn cất, lễ nghi chu đáo, ông chịu khổ hình nơi Âm phủ. (Tôi sẽ giải thích các từ âm phủ, địa ngục (hỏa ngục) chi tiết hơn trong bài giảng tuần tới). Ai bảo chết là hết? Ai bảo cuộc đời này chỉ là một và duy nhất? ĐCJC xác nhận với tôi và qv rằng sau cuộc đời dưới ánh mặt trời này, sau cái chết, tất cả mọi người đều tiếp tục một cuộc sống đời đời, hoặc nơi thiên đàng, hoặc nơi địa ngục. Và tại nơi đó, con người sẽ sống đời đời.
Người giàu và La-xa-rơ, hai cuộc đời trong cuộc sống dưới trời này hoàn toàn tương phản. Sau cái chết, vậnh mệnh, địa vị, ơn phước hai người lại hoàn toàn tương phản. Nói về một sự đổi đời hoàn toàn sau sự chết. [Địa vị, ơn phước, khổ đau, tủi nhục, vinh dự trước và sau khi qua đời giữa hai người]
Một người khi còn sống không hề biết khổ, chỉ toàn sung sướng, đầy đủ, phước hạnh, sống trên nhung lụa, nhà cao cửa rộng, cao lương mỹ vị dư dật, muốn gì được nấy, quyền uy trên mọi người. Một người nghèo khổ, đau đớn vì bệnh tật, dơ bẩn, xấu xí, hôi hám, đói khổ thèm được một mẫu bánh dơ người ta chùi tay ném cho chó cũng không có mà ăn.
Nhưng cái chết thay đổi hoàn toàn, tất cả. Người giàu có, sung sướng khi còn sống lại chịu khổ hình đời đời nơi địa ngục. Kẻ nghèo khó, đau khổ khi còn sống hưởng phước đời đời nơi thiên đàng tại nơi cao trọng, danh dự, vinh hiển như Áp-ra-ham, tổ phụ của đức tin, bạn của ĐCT. Người giàu khi sống có tất cả, đầy đủ, dư dật mọi điều lòng người ước ao, mong mỏi; sau khi chết không còn gì, thậm chí một giọt nước giải khát cũng không có, không được.
Ai bảo chết là hết? Ai bảo cuộc sống này là một và duy nhất? Nếu qv thật sự tin vào lời ĐCJC dạy, tôi mong qv thật sự suy nghĩ về cuộc sống đời đời bên kia cánh cửa sự chết. Tôi mong qv thật sự suy nghĩ về sự đổi đời, về vinh dự và tủi nhục, phước hạnh và đau khổ giữa hai đời sống này và đời sau. Giữa tạm bợ, ngắn ngủi và trường cữu, đời đời. Đây chính là lý do sứ đồ nhắc tín đồ HT Cô-rinh-tô: Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. 17 Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên, 18 bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:16-18)
Chúa Nhật 18 tháng 09, 2022
[Ôn lại ngụ ngôn. Người giàu không tên, bởi vì sự giàu có là tất cả bản chất, cá tính của con người, của cuộc đời ông ta. La-xa-rơ – Eleazer – ĐCT là Đấng cứu giúp tôi: ĐCT là trọng tâm của cuộc đời ông. Đối tượng ngụ ngôn là người Pha-ri-si, những người đạo đức, vâng giữ luật lệ bên ngoài nhưng thật sự là những người tham tiền: Các người Pha-ri-si là những kẻ ham tiền nghe mọi lời ấy thì chê cười Ngài. 15Chúa bảo họ: “Các người là những người làm ra vẻ công chính trước mặt người ta, nhưng Đức Chúa Trời biết lòng các người; vì điều người ta đề cao lại là điều ghê tởm trước mặt Đức Chúa Trời. (16:14-15 – BDM). Người đời nhìn và đánh giá theo bên ngoài, nhưng ĐCT biết rõ thật sự điều gì trong lòng họ. Ma-thi-ơ 23 ĐCJC ví họ như những ngôi mộ sơn trắng bên ngoài rất trang nhã, đẹp đẽ, sạch sẽ nhưng bên trong đầy những xác chết hôi thối.
Cái chết thay đổi tình huống của hai người. Ai bảo chết là hết.]
Nhưng dù tình huống, hoàn cảnh, vị trí hoàn toàn thay đổi, một điều hết sức ngạc nhiên là tính tình, cá tính, bản chất của người giàu vẫn không hề thay đổi. Ông vẫn nghĩ rằng mình có thể sai bảo tên ăn mày kia như khi còn làm chủ nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ, muốn gì được đó, sai ai thì sai: 24Người giàu kêu xin: ‘Tổ phụ Áp-ra-ham ơi, xin thương xót con, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước, thấm mát lưỡi con, vì con bị đau đớn quá trong lửa này!’
Ông van nài sự thương xót phải được đem đến cho ông qua chính người khi còn sống từ chối động lòng thương xót. Người nhà giàu vẫn còn nghĩ La-xa-rơ thấp hèn hơn, chỉ đáng để phục vụ ông. Không hề có sự hối hận, ăn năn. Không hề nghĩ lại sự thờ ơ, dững dưng, tàn nhẫn đối với La-xa-rơ và những người đau khổ như L. Không hề xin tha thứ trong sự khiêm nhường thống hối về đời sống của mình.
Sau đó ông lại nài nỉ Áp-ra-ham sai La-xa-rơ đến nhà cha ông để làm chứng cho 5 anh em của ông. Người giàu van xin: ‘Tổ phụ ơi, thế thì xin tổ sai La-xa-rơ đến nhà cha con 28—vì con còn năm anh em—để người làm chứng cho họ, kẻo họ cũng bị xuống nơi khổ hình này!’ Đây là một lời gián tiếp trách móc ĐCT đã không cho ông đủ dữ kiện để ông biết về Chúa, về địa ngục, thiên đàng, về cuộc sống đời đời nơi thiên đàng và địa ngục.
ĐỊA NGỤC LÀ GÌ?
KTCU dùng từ sheol [se-une] để nói về nơi của người chết. Thường được dịch là mồ mả. Cả người công bình hay người độc ác, người tin ĐCT hay không tin ĐCT đều đến nơi này. Vì lý do này các học giả KT giải thích sheol gồm 2 phần: phần cho kẻ ác và phần cho người công chính.
KTTU gồm 3 từ: 1) hades là tiếng Hy-lạp tương xứng với sheol tiếng Hê-bơ-rơ. Đây chính là từ dùng trong Lu-ca 16:23, BTT dịch là âm phủ. Ngoại trừ BDY dịch là hỏa ngục, các bản dịch khác đều dịch là âm phủ hay chỗ người chết (BPT); 2) gehenna có nghĩa là thung lũng Hinnom, nơi phía nam ngoài thành Giê-ru-sa-lem (giải thích phần trên); 3) tartaros, dùng chỉ một lần trong cả KTTU trong 2 Phi-e-rơ 2:4 Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét. Nơi tối tăm, khổ sở cho kẻ ác địa ngục theo ý của người Hy-lạp.
Ý nghĩ sai lầm về địa ngục theo lời KT dạy:
1) 7 tầng địa ngục, nơi ma quỉ sẽ hành hạ, tra tấn con người cách ghê gớm, kinh khiếp nhất. KT dạy rõ địa ngục cũng chính là nơi ĐCT dành cho Sa-tan và ma quỉ Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. (Khải Huyền 20:10)
2) Mục Liên, Thanh Đề, nơi người đầy phước có thể đến cứu độ cho kẻ trầm luân trong lửa địa ngục. KT dạy mọi người chỉ có một cuộc sống. Thời gian còn sống chính là cơ hội để ăn năn tội, tin nhận Chúa, nhưng khi đã qua bên kia cánh cửa của sự chết, chỉ có hoặc thiên đàng, hoặc địa ngục, không còn một cơ hội nào khác nữa. Cũng không cha mẹ, vợ chồng nào dù yêu thương đến mấy có thể cứu được người.
3) Để làm dịu lại sự đau khổ, hối hận đời đời nơi địa ngục, một số học giả KT và một vài hệ phái (như Cơ Đốc Phục Lâm) dạy rằng địa ngục không phải là một tình trạng kéo dài đời đời nhưng sự trừng phạt sẽ chấm dứt do sự hủy diệt hoàn toàn tội nhân sau một thời gian trong địa ngục. Nếu thiên đàng đời đời, thì địa ngục cũng sẽ là đời đời. Có rất nhiều câu/đoạn KT dạy về sự trừng phạt đời đời của địa ngục mà qv có thể tìm hiểu thêm trong lớp Chuẩn Bị Tấm Lòng.
Câu hỏi là KTTU mô tả địa ngục với những hình ảnh này theo nghĩa đen hay ẩn dụ? KTTU thường dùng 4 hình ảnh để mô tả về địa ngục: lửa thiêu, bóng tối, sâu bọ không hề chết và khóc lóc & nghiến răng.
Một sốt ít học giả KT cho rằng hình ảnh KTTU mô tả địa ngục và hình phạt nơi địa ngục là hoàn toàn theo nghĩa đen. Hồ lửa cháy với diêm sinh là một hồ lửa cháy đời đời thật để thiêu đốt tội nhân nơi địa ngục. Tuy nhiên phần đông tin rằng hình ảnh thường dùng trong KTTU để mô tả địa ngục chỉ là ẩn dụ để nói lên một ý nghĩa sâu xa hơn. Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm giải thích này.
Nói về nghĩa đen, một câu hỏi là nếu địa ngục là nơi thật sự theo nghĩa đen có nghiến răng thì những người đã rụng hết răng thế nào? Có một bài viết giải thích rằng bộ răng giả sẽ được cấp cho những ai rụng hết cả hai hàm răng! Nghịch lý này cho thấy cách giải thích hợp lý hơn về khóc lóc, nghiến răng là nói về sự đau khổ, chua xót và cả hối hận, nuối tiếc đời đời cho những kẻ trong địa ngục.
ĐCJC dùng nhiều ẩn dụ để dạy các môn đồ và dân chúng. Như Chúa dạy Nếu có ai đến theo ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sự sống mình nữa, thì không được làm môn đồ ta. Từ ghét không có nghĩa là thù ghét để mới có thể trở nên môn đồ. Ghét hàm ý rằng tình yêu thương đối với Chúa nhiều đến nỗi khi so sánh với tình yêu với cha mẹ như ghét. Hàm ý nói lên sự trung thành tuyệt đối.
Hay như khi Chúa dạy nếu mắt phải phạm tội thì hãy móc mắt ném bỏ vì thà mất một phần thân thể còn hơn vào địa ngục với cả thân không có nghĩa là môn đồ phải móc mắt họ khi phạm tội. Nếu thật biết bao nhiêu Cơ Đốc nhân chỉ có một mắt! Ý dạy là tội phạm nghiệm trọng đến nỗi thà mất một mắt còn hơn chịu phạt nơi địa ngục đời đời.
Hay như khi KT viết về thiên đàng với tường cao với 12 cổng (KH 21:12) với chiều dầy 200 ft (21:17). Mục đích của tường là gì? Bảo vệ. Tường tượng trưng cho sự bảo vệ. Thiên đàng cần gì đến tường để bảo vệ. Vậy tường hàm ý sự an ninh tuyệt đối nơi ĐCT ngự. Hay đường bằng vàng ròng.
Vậy 4 hình ảnh thường dùng để mô tả về địa ngục: lửa thiêu, bóng tối, sâu bọ không hề chết và khóc lóc & nghiến răng nên hiểu theo nghĩa ẩn dụ, không phải theo nghĩa đen. Chính 2 hình ảnh như tương phản về lửa và bóng tối khiến hầu hết các nhà học giả KT hôm nay tin rằng mô tả về địa ngục trong KTTU có tính ẩn dụ (metaphorical). Bởi vì nơi nào có lửa thì không thể vừa có bóng tối vì lửa đem lại ánh sáng và sự thiêu đốt. Nơi nào có lửa thiêu đốt thì sâu dòi không thể không chết.
Hình ảnh sâu bọ không hề chết (Mác 9:48), dựa theo Ê-sai 66:24: Khi dân sự ra ngoài, sẽ thấy thây của những người đã bội nghịch cùng ta; vì sâu chúng nó chẳng hề chết, lửa chúng nó chẳng hề tắt; chúng nó sẽ làm sự gớm ghiếc cho mọi xác thịt. Trong cả hai đoạn KT này, từ sâu cũng có nghĩa là dòi bọ nơi có xác chết. Sâu dòi không hề chết nói lên một linh hồn, lương tâm bị dày vò, đau khổ triền miên không bao giờ chấm dứt.
Hình ảnh này liên hệ trực tiếp đến từ gehenna, thung lũng Hinnom, nơi dân sự thành Giê-ru-sa-lem ném xác chết thú vật, xác chết tội nhân không có người nhận, xác chết những người chết không có gia đình như La-xa-rơ. Cũng là nơi người ta đốt lửa không bao giờ ngừng tắt để thiêu rụi xác chết, rác rưới dơ bẩn. Và hễ ở đâu có xác chết mục rữa, chắc chắn sẽ có dòi bọ.
Nơi có lửa không hề tắt thì không thể nào có sâu dòi chẳng hề chết. Nên đây cũng là một ẩn dụ.
Hai hình ảnh này nói lên hai ý vô cùng đáng sợ về địa ngục: lửa nói lên sự tan rã (disintegration) và bóng tối về sự cô lập, xa cách.
Địa Ngục là Nơi Hoàn Toàn Vắng Mặt ĐCT
Hơn nữa, giữa chúng ta và con, có một vực thẳm bao la, hai bên cách biệt hẳn, nên ai muốn từ đây qua đó, hoặc từ đó qua đây đều không được. (16:26). Khoảng cách, vực sâu này là giữa địa ngục và thiên đàng, giữa sự hiện diện và tể trị của ĐCT và sự hoàn toàn vắng mặt của ĐCT. Nếu thiên đàng là nơi hoàn toàn có sự hiện diện và tể trị của ĐCT thì địa ngục là nơi hoàn toàn vắng mặt ĐCT.
Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: Ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, 20 thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, 21 ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: Hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời. 22 Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ (Ga-la-ti 5:19-22
KT dạy rằng ĐCT là nguồn cội của mọi sự sống, mọi ơn phước, mọi phẩm tính tốt lành như tình yêu thương, vui mừng, bình an, nhân từ, hiền lành… Chính nhờ ân điển chung ĐCT ban cho loài người nên gia đình, xã hội, quốc gia còn có trật tự, an ninh, lề luật. Nhưng nơi nào ĐCT lấy đi ân điển thì nơi đó chỉ có sự hỗn loạn, xung đột giữa người và người, giữa nhóm người này với nhóm người khác, tội ác gia tăng.
Chính sự vắng mặt của ĐCT trong đời sống sinh ra sự tan rã trong lòng con người, trong quan hệ gia đình, bè bạn, hàng xóm láng giềng. Một lần nữa, Cơ đốc giáo khẳng định rằng mỗi cá nhân con người sẽ sống mãi mãi, và điều này phải đúng hoặc sai. Bây giờ có rất nhiều điều tốt đẹp mà sẽ không đáng bận tâm nếu tôi sẽ chỉ sống bảy mươi năm, nhưng tốt hơn hết tôi nên bận tâm về rất nghiêm túc nếu tôi sẽ sống mãi mãi. Có lẽ tính khí thất thường của tôi hoặc sự ghen tuông của tôi đang dần trở nên tồi tệ hơn — dần dần đến nỗi sự gia tăng trong bảy mươi năm sẽ không được chú ý lắm. Nhưng nó có thể là địa ngục tuyệt đối trong một triệu năm: trên thực tế, nếu Cơ đốc giáo là đúng, Địa ngục là thuật ngữ kỹ thuật chính xác cho những gì nó sẽ là. Và sự bất tử tạo ra sự khác biệt khác này, mà theo đó, có mối liên hệ với sự khác biệt giữa chế độ toàn trị và dân chủ. Nếu các cá nhân chỉ sống bảy mươi năm, thì một nhà nước, hoặc một quốc gia, hoặc một nền văn minh, có thể tồn tại trong một nghìn năm, quan trọng hơn một cá nhân. Nhưng nếu Kitô giáo là đúng, thì cá nhân không chỉ quan trọng hơn mà còn quan trọng hơn nhiều, vì anh ta là vĩnh cửu và cuộc sống của một nhà nước hoặc một nền văn minh, so với anh ta, chỉ là một khoảnh khắc.
Again, Christianity asserts that every individual human being is going to live for ever, and this must be either true or false. Now there are a good many things which would not be worth bothering about if I were going to live only seventy years, but which I had better bother about very seriously if I am going to live for ever. Perhaps my bad temper or my jealousy are gradually getting worse—so gradually that the increase in seventy years will not be very noticeable. But it might be absolute hell in a million years: in fact, if Christianity is true, Hell is the precisely correct technical term for what it would be. And immortality makes this other difference, which, by the by, has a connection with the difference between totalitarianism and democracy. If individuals live only seventy years, then a state, or a nation, or a civilisation, which may last for a thousand years, is more important than an individual. But if Christianity is true, then the individual is not only more important but incomparably more important, for he is everlasting and the life of a state or a civilisation, compared with his, is only a moment.
Đây là một chi tiết vô cùng quan trọng và ý nghĩa của ngụ ngôn này. Cá tính, bản sắc con người thật của một người ngày càng phát triển hoặc tốt hơn hoặc xấu hơn đời đời nơi thiên đàng hay địa ngục. CS Lewis giải thích về địa ngục như sau: "Địa ngục bắt đầu với một tâm trạng càu nhàu ... [Bản thân của bạn vẫn khác biệt với nó, có lẽ thậm chí chỉ trích nó, bạn có thể ăn năn và thoát ra khỏi nó một lần nữa.] Nhưng có thể sẽ đến một ngày mà các anh chị em không thể [làm điều đó] được nữa. Sau đó, sẽ không còn bạn để chỉ trích tâm trạng hoặc thậm chí tận hưởng nó, mà chỉ là chính sự càu nhàu, diễn ra [và tiếp tục] mãi mãi như một cỗ máy.
Đầu tiên, bạn là một Mary hoặc John hay càu nhàu. Sau đó, bạn trở thành John hoặc Mary người càu nhàu. Cuối cùng, bạn chỉ trở thành một người càu nhàu. Bạn gần như có thể nhìn thấy nó với một số người, ngay cả trong cuộc sống này. Đôi khi bạn nhìn thấy một đám cháy và nó không là gì ngoài tro tàn, nhưng bạn biết nếu bạn thổi bay tro tàn, bên dưới tất cả đều có một số than nóng và bạn có thể khiến ngọn lửa tiếp tục hoạt động. Với một số người bạn chỉ cần thổi và không có gì ngoài tro tàn còn lại. Không còn gì ngoài một tiếng càu nhàu. Không còn gì ngoài sự cay đắng còn lại. Không còn gì ngoài sự đố kị. Không còn gì ngoài sự tự thương hại bản thân. Tội lỗi là lửa. Tội lỗi là sự tan rã. Địa ngục không là gì hơn ngoài sự phóng chiếu của điều đó. Khi một chiếc xe được tổng cộng, nó sẽ không ngừng tồn tại. Nó có nghĩa là nó đã bị ngắt kết nối với chính nó. Các bộ phận đã bị ngắt kết nối, vì vậy nó không thể hoạt động như một chiếc xe hơi.
