Nghịch Lý Về Thập Giá
Đến lúc này, ĐCJC độ khoảng 33 tuổi. Jesus còn được gọi là Jesus Nazareth, một người thợ mộc, con trai của một người thợ mộc lớn lên tại một làng quê nhỏ bé, xấu danh, “có gì tốt từ Nazereth?” Trong khoảng 3 năm trời, Jesus đi đến các làng xóm, các thành xứ Giu-đa (Do Thái) để giảng về nước Trời với một thẩm quyền chưa từng thấy. Ngài làm nhiều phép lạ mầu nhiệm khiến người què được đi, người câm được nói, người mù được thấy, người phung cùi được lành. Ngài còn khiến người chết sống lại!
Dân chúng đổ theo Ngài bất cứ nơi nào Chúa đến. Chính vì lý do này các nhà cầm quyền DT lo sợ. Họ ganh ghét Jesus vì dân chúng theo Ngài; họ sợ quyền phép Chúa thực hiện; họ nghi ngờ về động cơ và mục đích của công việc Ngài. Nên họ tìm mọi cách để bắt, rồi giết Jesus. Họ mua được Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, 1 trong 12 môn đồ, với giá 30 miếng bạc để bán thầy. Cuối cùng họ đem quân lính La-mã đến vườn Ghết-sê-ma-nê để bắt Jesus lúc giữa khuya.
Trong đêm đó, từ khuya đến tờ mờ sáng, họ giải Ngài qua 3 tòa xử người Giu-đa. Cuối cùng không có bằng chứng gì để buộc tội, họ phải đặt ra cớ để buộc tội chết. Vì không có thẩm quyền để giết Jesus, họ phải đến gặp chính quyền La-mã để xin giết Ngài. Sau 3 phiên tòa xử, cuối cùng họ áp lực tổng trấn Phi-lát của La-mã đồng ý để đóng đinh Jesus trên thập giá. Họ muốn dân chúng cả thành Giê-ru-sa-lem đều biết, đều thấy Jesus bị treo trên thập tự giá cho đến chết.
Đoạn KT tôi vừa đọc về những diễn tiến trong vài tiếng đồng hồ cuối cùng trong đời ĐCJC. Tôi muốn cùng qv suy nghĩ về 3 nghịch lý về thập giá Ma-thi-ơ chủ ý viết trong đoạn KT này.
Người bị nhạo bán, chế diễu là vua dân Giu-đa chính thật là vua
Người hoàn toàn bất lực trên thập giá chính là Đấng toàn năng, toàn quyền
Người không tự cứu được mình chính là Đấng cứu tội cho muôn người.
NGƯỜI BỊ NHẠO BÁN LÀ VUA CHÍNH THẬT LÀ VUA
Lính của quan tổng đốc bèn đem Đức Chúa Jêsus vào công đường, và nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài. 28 Họ cởi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài. 29 Đoạn, họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa! 30 Họ nhổ trên Ngài và lấy cây sậy đánh đầu Ngài. 31 Khi đã nhạo báng Ngài rồi, thì họ cởi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự. (Ma-thi-ơ 27:27-31)
Khi các lính mặc áo điều (đỏ tía), đội mão gai, đưa sậy cho Jesus, rõ ràng họ muốn nhạo báng, chế diễu, muốn làm nhục Jesus. “Tên này tự nhận là vua. Chúng ta sẽ cho nó biết thật giả thế nào” Họ không chỉ nhạo báng mà còn nhổ vào người, đập đánh liên tục vào đầu, hết cây này đến cây khác. Trò đùa trở nên một giải trí man rợ của bọn lính với Jesus. Khi chúng quì lại, tung hô Lạy vua dân Giu-đa, dĩ nhiên đó là lời mai mĩa, nhục mạ. Bọn lính không hề biết rằng người tử tội đang kiệt sức vì sự tra tấn đó, người tử tội sắp bị đóng đinh trên thập giá đến chết chính thật là vua. Không chỉ là vua dân Giu-đa (Do Thái) nhưng là Vua của muôn dân trên thế gian, là Vua của muôn vua, Chúa của muôn chúa.
Khi Jesus sanh ra, các bác sĩ từ phương Đông lặn lội đường xa theo ánh sao sáng để đến thành Giê-ru-sa-lem. Khi đến họ hỏi vua Hê-rốt và các thầy tế lễ cả, cùng các thầy thông giáo: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài.” (Ma-thi-ơ 2:2). Chính Phi-lát trong phiên xử Jesus cũng hỏi Ngài: Có phải ngươi là Vua của dân Giu-đa không? ĐCJC trả lời: thật như lời ông nói đó!
Một nghịch lý về điều này là lời viết trên tấm bản treo trên thập giá của ĐCJC. Phi-lát ra lệnh cho lính làm một tấm bản có dòng chữ Jesus Nazareth, Vua dân Giu-đa (Do Thái). Bản viết bằng cả 3 thứ tiếng: Hê-bơ-rơ (tiếng của người DT), Hy-lạp và La-tin, 2 ngôn ngữ phổ thông và chính thức của chính quyền La-mã. Điều này khiến các lãnh đạo DT tức giận nên yêu cầu Phi-lát đổi lại dòng chữ viết: Hắn tự nhận mình là vua Giu-đa nhưng Phi-lát từ chối để thay đổi.
Phi-lát có ý nhạo báng, chế diễu. Nhưng ĐCJC chính thật sự là vua muôn vua, chúa muôn chúa. Có khác chăng vương quốc của Ngài không như vương quốc của vua chúa đời này. Thay vì dùng vũ lực, Jesus dùng tình yêu thương. Thay vì cưỡng bức với bạo lực, Jesus làm gương qua sự phục vụ. Các ngươi biết rằng các vua dân ngoại thì ép dân phải phục mình, còn các quan lớn thì lấy quyền thế mà trị dân. 26 Trong các ngươi thì không như vậy; trái lại, trong các ngươi, kẻ nào muốn làm lớn, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi; 27 còn kẻ nào muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi các ngươi. 28 Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người. (Ma-thi-ơ 20:25-28)
Trong 3 thế kỷ đầu tiên của đạo Chúa, HT có câu nói vô cùng nghịch lý: ĐCJC cai trị từ thập giá! Vua Jesus không cai trị HT Ngài từ ngôi cao như vua chúa đời này. Nhưng từ thập tự nơi chính Ngài đã tự hạ mình, bỏ quyền ĐCT, chịu chết để cứu tội tôi và qv.
NGƯỜI BẤT LỰC TRÊN THẬP GIÁ CHÍNH LÀ ĐẤNG TOÀN NĂNG
Sự tàn nhẫn, dã man của thập tự giá là quân lính có thể kéo dài nỗi đau đớn của tội nhân trên thập giá. Dù qv đã nghe nhiều về thập tự giá là hình phạt cho tử tội, nhưng ít người hơn biết lý do gì tội nhân lại chết trên thập giá. Không phải vì vết thương từ đinh đóng. Nhưng vì ngộp thở bởi chính sức nặng của thân thể. Để tự nhiên trọng lượng của thân sẽ khiến cho tử tội nghẹt thở vì phổi bị đè bởi sức nặng của thân. Tử tội phải cố đẩy mình lên bằng chân hay kéo cả thân lên bằng tay. Để giết tử tội trên thập giá nhanh hơn, các lính canh thường đập gẫy ống xương chân để tử tội không còn có thể đẩy mình lên.
Trước đó lính La-mã đã chủ ý đánh đập tội nhân cách tàn nhẫn để làm yếu sức và khiến mình mẫy tội nhân đầy những vết thương sâu rách thịt vì roi đánh. Da thịt đã bị rách nát với thương tích lại bị cạ xát với các dầm gỗ khi đẩy mình lên thở khiến tội nhân vô cùng đau đớn như lại bị roi đánh lần nữa. Mỗi cố gắng đẩy mình lên để thở là một trừng phạt vô cùng đau đớn.
Đám lính thi hành lệnh xử tử trên thập giá điêu luyện đến độ có thể biết phải làm gì để rút ngắn hay kéo dài sự tra tấn dã man này của tử tội trên thập giá. Cả 4 sách PA cho biết trong 3 tử tội treo trên thập giá ngày hôm đó, ĐCJC chết trước 2 người kia. Để rút ngắn thời gian lính đập gẫy ống chân của hai tên cướp đó như viết trong Giăng 19:31-33 Vì bấy giờ là ngày sắm sửa về ngày Sa-bát, mà Sa-bát nầy là rất trọng thể, nên dân Giu-đa ngại rằng những thây còn treo lại trên thập tự giá trong ngày Sa-bát chăng, bèn xin Phi-lát cho đánh gãy ống chân những người đó và cất xuống. 32 Vậy, quân lính lại, đánh gãy chân người thứ nhứt, rồi đến người kia, tức là kẻ cùng bị đóng đinh với Ngài. 33 Khi quân lính đến nơi Đức Chúa Jêsus, thấy Ngài đã chết rồi, thì không đánh gãy ống chân Ngài;
Điều này cho biết ĐCJC hoàn toàn kiệt lực khi bị treo trên thập giá. Đến nỗi trước đó Jesus không thể khiên nỗi thập giá lên đồi Gô-gô-tha 32 Khi họ đi ra, gặp một người ở thành Sy-ren tên là Si-môn; thì bắt người vác cây thập tự của Đức Chúa Jêsus. Kiệt sức, bất lực dù chính Ngài là Đấng toàn quyền, toàn năng. 33 Đã đi tới một chỗ gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ cái Sọ, 34 họ cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng; song Ngài nếm, thì không chịu uống. 35 Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, thì bắt thăm mà chia nhau áo xống của Ngài. 36 Rồi họ ngồi đó mà canh giữ Ngài. 37 Phía trên đầu Ngài họ để cái bảng đề chữ, chỉ về án Ngài, rằng: Người nầy là Jêsus, Vua dân Giu-đa.
Tôi cũng muốn nhắc đến một chi tiết quan trọng nhưng thường không đề cập đến. Trong các hình vẽ về ĐCJC trên thập giá, chúng ta thấy Ngài mặc một khố vải. Thực tế không vậy. Để làm nhục tử tội trên thập giá, tất cả tử tội bị treo lên thập giá hoàn toàn trần truồng. Thử nghĩ xem sự nhục nhã của tội nhân bị treo trên thập giá bị lột trần truồng trước bao nhiêu con mắt khinh khi, chế diễu, nhạo báng. Jesus hòa toàn bất lực trước những cặp mắt khinh khi, nhạo báng đó!
Nhiều người khác nhạo báng: 39 Những kẻ đi ngang qua đó chê cười Ngài, lắc đầu, 40 mà nói rằng: Ngươi là kẻ phá đền thờ và dựng lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự!
Để buộc tội chết, các lãnh đạo tôn giáo DT vu oan cho ĐCJC là sẽ phá đổ đền thờ. Theo luật La-mã phá đổ đền thờ, bất cứ đền thờ của tôn giáo nào, đều là một tử tội. Luật này nhằm duy trì hòa bình giữa các tôn giá, niềm tin khác nhau khi đế quốc La-mã bành trướng. Họ cũng vu oan cho Jesus là nổi loạn cùng đại đế Caesar.
Đúng là Jesus tuyên bố: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại! (Giăng 2:19). Tuy nhiên Chúa nói về thân thể mình. Đền thờ Hê-rốt xây tại thành Giê-ru-sa-lem đã mất 46 năm vẫn chưa hoàn tất. Một lý do là vì mỗi viên đá dù lớn đến mấy không thể cắt hay mài dũa tại gần nơi đền thờ. Mỗi viên đá dù lớn đến mấy phải cắt thật chính xác và chỉ được ráp vào cách im lặng khi đem đến đề thờ. Không một đền thờ nào có thể xây trong 3 ngày.
Đền thờ là nơi con người đến để gặp gỡ, thờ phượng ĐCT, để chuộc tội lỗi đã phạm, để xin được tha thứ. ĐCJC là đền thờ toàn hão nhất để con người có thể đến để được hòa giải với ĐCT. Dù đền thờ do tay người xây cất có vĩ đại, lộng lẫy, cao sang đến mấy cũng không thể thay thế đền thờ qua ĐCJC.
Con người chế nhạo ĐCJC vì Ngài hoàn toàn bất lực trên thập giá, nhưng họ không hề biết rằng chính Ngài chính là Đấng sẽ sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba. Qua sự sống lại mầu nhiệm đó, một đền thờ trường cữu được ban cho con người. KH 21:22 viết nơi trời mới, đất mới, thành Giê-ru-sa-lem mới: Ở đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành.
Chính người tưởng như hoàn toàn bất lực, kiệt quệ trên thập giá chính thật là Đấng sống lại từ cõi chết để hòa giải con người và ĐCT. Qua chính thân thể vỡ tan trên thập giá, ĐCJC trở nên ngôi đền thờ thánh khiết nhất, toàn thiện, toàn mỹ nhất đến nỗi sẽ không cần một đền thờ nào khác nơi trời mới, đất mới.
NGƯỜI KHÔNG TỰ CỨU ĐƯỢC MÌNH CHÍNH LÀ ĐẤNG CỨU TỘI MUÔN NGƯỜI
Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão cũng nhạo Ngài rằng: 42 Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Khi nghe từ cứu qv nghĩ gì trong trí, cảm thấy gì trong lòng? Đem một người từ tình cảnh khốn khó, thiếu thốn đến đầy đủ, sung túc? Đem một người từ tình cảnh hoạn nạn, gần như tử vong sang đến nơi bình an, yên ninh, từ sự chết sang sự sống?
Qv có biết tên Jesus có nghĩa là gì không? Là Giê-hô-va cứu. Jesus đồng nghĩa với Joshua (Giô-suê). Đây là lý do Chúa được đặt tên là Jesus: Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội. (Ma-thi-ơ 1:21).
Làm thế nào một người mang tên là Giê-hô-va cứu lại không được Giê-hô-va cứu khi bị nhạo báng, mạ lỵ, tra tấn, khi bị đóng đinh trên thập giá? Một nghịch lý! Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì chúng ta mới tin. 43 Nó nhờ cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ Ngài phải giải cứu cho, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời. 44 Hai tên trộm cướp bị đóng đinh trên cây thập tự với Ngài cũng nhiếc móc Ngài như vậy.
Một quyển sách có tựa là The Sunflower (Hoa hướng dương) viết bởi một tù nhân sống sót trại tàn sát Đức quốc xã tên Simon Wiesenthal. Sách kể lại một câu chuyện có thật giữa người tù Wiesenthal và một người lính Đức sắp chết. Sau khi kể cho Wiesenthal nghe về những tội ác anh đã phạm với các tù nhân DT, anh khẩn thiết xin được tha thứ để có sự bình an trước khi qua đời. Sau khi lắng nghe trong im lặng, W. quyết định bỏ đi trong im lặng. Không hề đáp lại lời van xin tha thứ của người lính Đức trẻ sắp chết.
Ông lý luận rằng: Chỉ có những người bị tổn thương mới có thể là người tha thứ. Nhưng những người tổn thương bởi người lính Đức trẻ sắp chết đã không còn; tất cả đã chết. Vậy ông là ai mà có quyền tha thứ cho những người đã mất. W. lý luận đúng. Tuy nhiên ông còn quên một điều vô cùng quan trọng: Là mỗi tội phạm giữa người và người, con người cũng phạm tội cùng ĐCT. Vì vậy sự tha thứ cần thiết và quan trọng hơn hết bên cạnh sự tha thứ của những người chúng ta phạm tội chính là sự tha thứ của ĐCT.
Khi Đa-vít phạm tội tà dâm cùng Bát-sê-ba và giết chồng bà, Đa-vít không chỉ phạm tội cùng Bát-sê-ba và U-rai nhưng còn cùng ĐCT. Khi tôi và qv phạm tội cùng những người thân yêu hay xa lạ, chúng ta cần xin được họ tha thứ nhưng quan trọng hơn hết cần được ĐCT tha thứ cho tội đã phạm.
Tại sao ĐCJC không tự cứu mình hay không được ĐGHVa cứu? Để tôi và qv được cứu. Đúng vậy, để qua sự chết đau đớn, nhục nhả, bất lực trên thập giá, ĐCJC trả giá đắt mà lẽ ra tội chúng ta phải trả khi phạm cùng ĐCT.
Lý do gì, động cơ gì khiến Chúa chấp nhận sự thương khó, sự chết trên thập giá?
Hầu hết qv đây có nghe về chuyến tàu Titanic, một chiếc tàu hiện đại, to lớn và sang trọng nhất trong thời đó. Trên đường tàu Titanic đụng vào một tản băng và chìm. Khi tàu sắp chìm, bao nhiêu hành khách trên tàu muốn được phao nổi hay được xuống các xuồng con. Trên tàu có những triệu phú, tỉ phú thời đó, như Elon Musk, Jeff Bazoz, Bill Gates ngày nay. John Jacob Astor, Bill Gates của 1912, người giàu nhất thế giới bấy giờ. Ông để vợ xuống xuồng con. Nhiều người nói với ông: Xin ông hãy xuống luôn với vợ. Ông trả lời: không, xuồng này dành cho phụ nữ và trẻ em. Rồi ông ở lại với chiếc tàu Titanic và chết. Một điều vô cùng ngạc nhiên là không một người nổi tiếng nào, triệu phú, tỉ phú nào lại dành để xuống xuồng được sống. Tất cả đều ở lại tàu và chết.
Khi nhà báo Zakaria của tờ NY Times duyệt lại phim Titanic, ông hỏi người viết phim: Tại sao đạo diễn và người viết phim lại không viết về sự thật này. Trái lại họ lại có cảnh những người đàn ông tranh dành các phao và dành xuống xuồng với phụ nữ để sống. Người viết phim trả lời: Bởi vì nếu nói sự thật này hôm nay, không ai tin cả!
Quả thật chúng ta sống trong một thời đại giàu có, đầy đủ vật chất nhưng thiếu sự can đảm, lòng tự trọng, danh dự trong cách cử xử của nam với nữ. Tại sao những người đàn ông ngày xưa trên chuyến tàu Titanic có thể cư xử cách anh hùng như vậy? Bởi vì từ khi còn nhỏ, họ đã được dạy cách cư xử này là điều phải làm, cần làm. Là điều danh dự nam cần làm cho nữ và trẻ con.
Tại sao ĐCJC lại chịu thương khó và chịu chết trên thập giá? Không phải để bảo vệ danh dự mình. Nhưng bởi vì tình yêu thương cho tội nhân không xứng đáng như tôi và qv. Đây là nghịch lý to lớn nhất của thập giá. Đấng hoàn toàn vô tội, vua của muôn vua, chúa muôn chúa, Đấng có thể gọi thiên sứ bảo vệ Ngài, Đấng đầy quyền năng tự cứu mình lại cam tâm chịu nhận mọi thương khó, mọi sĩ nhục, mọi đau đớn, thậm chí chịu chết trên thập giá để cứu những con người tội lôi, vô tâm, bội bạc như tôi. Nghịch lý lớn nhất của thập giá là ĐCT yêu thương tội nhân dù tội nhân chối bỏ Ngài.
