Một Ân Điển Lạ Lùng (Diệu Kỳ) – Mẹ: Món Quà Vô Giá
Một món quà vô giá ĐCT ban cho mỗi chúng ta là người mẹ trong đời. Chín tháng dài mẹ nuôi con trong thân thể mình. Cho con ăn bằng chính sức lực, bổ dưỡng trong thân. Từ trước khi chào đời, giọng nói, tiếng cười và cả tiếng khóc là những tiếng đầu tiên con nghe. Khi ra đời, dù mắt chưa mở con đã nhận ra tiếng mẹ và cả hơi của mẹ. Những tháng ngày con nhỏ, mẹ thức đêm cho bú. Khi bệnh mẹ ngày đêm chăm sóc, vỗ về. Con là niềm vui to lớn nhất và cũng là hy vọng của đời mẹ.
Tháng 4, 2014 có một tin tức mới nghe tưởng như chuyện đặt. Một em bé trai 15 tuổi đã leo theo bánh xe của chiếc máy bay Boeing 767 lúc cất cánh từ phi trường San Francisco bay đến Hawaii. Em sống sót sau 5 tiếng đồng hồ bay trên độ cao 35K feet nơi nhiệt độ thấp đến đông đá và thiếu dưỡng khí. Tại sao em bé trai này làm điều dại dội này? Chỉ để đi tìm mẹ mình. Khi lớn lên ba em bảo mẹ đã mất nhưng sau này khám phá ra mẹ còn sống ở xứ Ethiopia nên dù lớn lên ở CA, em quyết định núp trên máy bay để đi tìm mẹ. Tiếng gọi của tình mẹ, sợi dây tình cảm mẹ con dù vô hình nhưng thiêng liêng, mạnh mẽ đến như vậy. Dù là một cậu bé 15 hay tuổi ngoài 50 thì người ta vẫn nhớ mẹ.
Nếu tìm trên mạng tuyến internet qv có thể tìm thấy hằng ngàn câu trích dẫn về mẹ từ những tài tử, minh tinh, những thể tháo gia nổi tiếng nhất, những người viết nhạc, viết văn thành công nhất, từ những người lãnh đạo, ngay cả đến chính trị gia. Bên cạnh đó còn có biết bao nhiêu câu nói về mẹ từ những người ẩn danh. Tôi chỉ muốn nêu một vài câu trích dẫn: Đây là lời hứa của mẹ với các con. Mẹ không phải là bạn con. Mẹ là mẹ con. Mẹ sẽ rình rập con, theo dõi con, giảng thuyết con, làm cho con nổi điên, là giấc mơ hãi hùng của con, và sẽ săn đuổi con cho đến khi tìm được khi cần bởi vì Mẹ yêu thương con! Đến khi con hiểu được điều này, thì mẹ biết con đã trưởng thành.
Cảm động hơn là lời của tổng thống Abraham Lincoln về mẹ ông: Không người nào nghèo khi có một người mẹ thương mình. All that I am or ever hope to be, I owe to my angel mother. Tôi nhớ những lời cầu nguyện của mẹ tôi và những lời cầu nguyện này luôn theo tôi. Những lời cầu nguyện này không rời tôi trong suốt cả cuộc đời.
Sẽ có nhiều lúc mẹ cảm thấy như thất bại. Nhưng trong mắt, trong tim, trong trí của các con, mẹ là người mẹ thượng đẳng (số 1, siêu việt)
Trong tất cả những tặng phẩm của cuộc đời, tặng phẩm lớn nhất là một người mẹ yêu thương.
Nhưng đây là kết luận: Làm mẹ không dễ, nếu dễ thì mấy ông cha đã làm việc này rồi.
Cũng chính vì tiếng gọi, sự thu hút, chính vì tình yêu mẫu tử vô giá đó mà chúng ta kỷ niệm hằng năm ngày lễ Mẹ. Cũng chính vì lý do này mà hằng năm toàn quốc HK tiêu 2.6 tỉ cho hoa, 68 triệu cho thiệp gởi, theo Hallmark thì có khoảng 133 triệu tấm thiệp gởi cho các bà mẹ.
Một hảng làm thiệp cho tù nhân thiệp để gởi cho mẹ miễn phí trong ngày lễ Mẹ. Gần như mọi tù nhân đều xắp hàng để lấy thiệp, viết gởi mẹ, ngay cả những phạm nhân nam giới nhìn dữ tợn, hung hăn nhất. Vì thấy thành công nên hảng đề nghị làm giống vậy trong ngày lễ Cha. Nhưng trong ngày đó không mấy tù nhân chờ nhận thiệp. Ngay cả với người tù tội, phạm pháp thì mẹ vẫn là hình ảnh của sự yên ủi, yêu thương. Như bóng mát giữa trời nắng cháy da. Như nước ngọt ngào khi khát. Như nơi núp ẩn trong những cơn bão tố của đời.
Một bài viết phổ thành bài hát về một đứa con trai nhỏ và mẹ có lời như sau: Tối nay đứa con trai nhỏ của tôi vào nhà bếp khi tôi đang nấu ăn. Bé đưa cho tôi một tờ giấy với dòng chữ viết vụng về. Lời của tờ giấy viết như sau: Tự mình làm giường $1.00; Chơi với em khi mẹ đi chợ $0.50; Đem rác ra ngoài $1.00; Học điểm tốt $5.00; Quét sân $2.00. Tổng số mẹ nợ là $10.50. Tôi nhìn con đứng đó chờ mà muôn ngàn kỷ niệm trở về trong trí. Tôi lấy viết, lật tờ giấy lại và viết: “9 tháng dài mẹ cưu mang con, không tính. Chăm sóc, cầu nguyện cho con khi đau ốm, bệnh hoạn, không tính. Về những tháng ngày dài chăm sóc, bao nhiêu nước mắt, và tốn kém bao năm, không tính. Tổng cộng tình thương của mẹ cho con, no charge, không tính. Cho những đêm dài thao thức, những nỗi lo lắng vì con, không tính. Cho những lời khuyên và kiến thức, và phí tổn con đi học, không tính. Cho những đồ chơi, quần áo, thức ăn, không tính. Cho cả những lần mẹ lau mũi, chùi mặt cho con, không tính. Khi con cộng hết, thì giá của tình mẹ cho con, không tính. Sau khi con tôi đọc hết những lời này, mắt bé doanh tròng đổ lệ. Bé nhìn lên tôi và nói: “Mẹ, con thương mẹ lắm! Mama, I sure do love you!” Rồi bé lấy viết và viết chữ thật to trên tờ giấy: Đã trả hết. Khi con cộng hết thì giá của tình thương mẹ với con, không tính.
Bài giảng sáng nay là về một người phụ nữ vô cùng đặc biệt, một người vợ, người mẹ, một nhân vật trong KT tên Ra-háp. Đây cũng là câu chuyện về một ân điển diệu kỳ. Câu chuyện về bà đầu tiên được kể trong sách Giô-suê 2, 6.
CHUYỆN VỀ RA-HÁP
Trước khi dân sự Chúa vào đất hứa thì Giô-suê, tướng lãnh đạo của cả quân đội, gửi 2 thám tử để dọ thám xem tình hình trong đất thế nào. Giô-suê căn dặn 2 thám tử này đặc biệt chú ý đến thành phố Giê-ri-cô, vì đây là nơi đầu tiên phải đi ngang qua khi vào đất hứa: Giô-suê, con trai Nun bí mật sai hai thám tử ra đi từ Si-tim, ông bảo họ: "Hãy đi trinh sát đất đai, nhất là thành Giê-ri-cô." Vậy, hai thám tử đi đến nhà của một gái mãi dâm (kỵ nữ) tên là Ra-háp và trọ tại đó.
Nhưng khi đến thành thì tung tích của 2 người dọ thám này bị tiết lộ bởi dân trong thành. Dân đến báo cáo với vua Giê-ri-cô và cho vua biết rằng nơi 2 người dọ thám này đang núp là tại nhà Ra-háp: Người ta tâu với vua Giê-ri-cô rằng: "Kìa, đêm nay có người Y-sơ-ra-ên đến trinh sát đất nước chúng ta." 3 Vua Giê-ri-cô sai người ra lệnh cho Ra-háp: "Hãy đem hai người đã vào nhà ngươi ra ngoài, vì họ đến để trinh sát đất nước chúng ta." (Jos 2:2-3). Thay vì làm theo lịnh vua thì Ra-háp dấu 2 thám tử này trong nhà: Nhưng nàng đem hai người ấy giấu đi, rồi nói, “Ðúng vậy, mấy người ấy có đến với tôi, nhưng tôi không biết họ từ đâu đến. 5 Vào lúc trời sắp tối, trước khi cổng thành đóng lại, họ đã ra đi. Tôi không biết họ đã đi đâu. Hãy lập tức đuổi theo, biết đâu các ông sẽ đuổi kịp.” 6 Tuy nhiên nàng đã đem hai thám tử ấy lên sân thượng và giấu họ dưới đống cây gai mà nàng đã chất sẵn ở đó. (2:4-6 – BD2011). Cây gai đây thật là một loại cây được dùng để làm vải, hay để ép ra dầu mà đến hôm nay vẫn còn là loại cây quan trọng cho nền kinh tế của các nước Trung Quốc, Nga Sô và Canada.
Khi các lính theo đuổi vừa ra thì cổng thành đóng lại để 2 người dọ thám không thể thoát ra được. Đêm đến, Ra-háp lên nóc nhà để xem 2 người dọ thám bà đã dấu dưới đống cây gai. Bà nói với họ rằng bà biết ĐCT đã ban xứ này cho dân Ngài và cả dân trong thành đều khiếp sợ khi nghe tin dân sự sắp tấn công. Chúng tôi có hay điều đó, lòng bèn tan ra như nước, chẳng ai trong chúng tôi còn can đảm chống lại các ông nữa, vì CHÚA, Đức Chúa Trời các ông là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia và ở dưới đất thấp này. 12 Vậy, bây giờ vì tôi đối xử nhân hậu với hai ông, xin hai ông cũng phải đối xử nhân hậu lại cho nhà cha tôi. Hãy chỉ CHÚA mà thề cùng tôi và cho một dấu hiệu quả quyết 13 là các ông sẽ để cha mẹ, anh em, chị em tôi và tất cả bà con của họ đều được sống, cũng cứu chúng tôi khỏi chết." (11-13)
2 người dọ thám hứa với bà sẽ cứu cả gia đình bà. Rồi vào ban đêm Rahab thả họ từ cửa sổ nhà bà sát bên tường thành để thoát. Sau khi dân sự Chúa chiếm thành Giê-ri-cô thì cả nhà của bà Rahab đều được cứu: Vậy, Giô-suê bảo tồn sự sống của Ra-háp là kỵ nữ, luôn nội nhà của cha nàng, và mọi vật chi thuộc về nàng; nàng ở giữa Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay, vì nàng có giấu sử giả mà Giô-suê đã sai do thám Giê-ri-cô. (6:25).
ÂN ĐIỂN DIỆU KỲ (LẠ LÙNG)
Rahab không chỉ sinh sống trong vòng dân Ỵ nhưng sau đó bà lập gia đình với một người tên Sanh-môn. Tên Sanh-môn còn được gọi là Sanh-ma. Theo 1 Sử Ký 2 thì Sanh-môn hay Sanh-ma là con của một vị quan trưởng người Giu-đa: Ram sanh ra A-mi-na-đáp, A-mi-na-đáp sanh Na-ha-sôn, làm quan trưởng của người Giu-đa. 11 Na-ha-sôn sanh Sanh-ma, 12 Sanh-ma sanh Bô-ô, Bô-ô sanh Ô-bết (1 SK 2:10-12).
Chồng của bà Ra-háp, một kỵ nữ là con của một quan trưởng, tức thuộc con nhà danh giá, chức phận. Có người cho rằng Sanh-môn (Sanh-ma) này là một trong 2 thám tử đã được bà giấu và được thoát mạng. Một tác giả viết: Lòng biết ơn của Sanh-môn đối với Ra-háp khi chín mùi sinh ra lòng yêu thương. Và khi ân điển đã xóa đi hết những nhục nhã của cuôc đời trước đó, Sanh-môn lấy nàng làm vợ mình. Qua cặp mắt ân điển, qua tình yêu thương, Sanh-môn - con một quan trưởng chức phận, tiếng tâm, con nhà danh giá, có thể là một anh hùng can đảm vì là người đi dọ thám – nhìn thấy Ra-háp xuyên qua cuộc đời ô nhơ trước đó, nhìn xuyên qua người phụ nữ bán thân kiếm sống, xuyên qua cả chủng tộc giữa 2 dân Ỵ và A-ma-rít. Đây thật là một chuyện tình có một không hai, phải không qv! Đây thật là ân điển diệu kỳ!
Cũng theo lời KT, Rahab sinh ra một con trai tên là Bô-ô. Ông là người lập gia đình cùng bà Ru-tơ và là ông bà cố của vua Đa-vít. Vậy kỵ nữ Rahab là bà cố cố của vua Đa-vít! Và từ dòng Đa-vít sinh ra ĐCJC, là Đấng Cứu Tinh nhân loại. Ra-háp là một trong 4 phụ nữ trong KTCU được liệt ra trong gia phổ của ĐCJC ghi lại trong Ma-thi-ơ 1: Na-ách-son sanh Sanh-môn. 5 Sanh-môn bởi Ra-háp sanh Bô-ô. Bô-ô bởi Ru-tơ sanh Ô-bết. Ô-bết sanh Gie-sê; 6 Gie-sê sanh vua Đa-vít. (1:4-5). Tôi có giải thích ý nghĩa về 4 phụ nữ này trong gia phổ ĐCJC trong một bài giảng trước đây. Một kỵ nữ ngoại tộc lập gia đình với con một quan chức dân tuyển và từ đó sinh ra Đấng Cứu Tinh nhân loại. Đây thật là ân điển lạ lùng!
Ngoài PA Ma-thi-ơ trong gia phổ ĐCJC, tên của người phụ nữ này cũng được nêu lên 2 lần trong 2 sách khác nhau. KTTU không hề che đậy một sự thật là Rahab là một kỵ nữ, như viết trong Hê-bơ-rơ và Gia-cơ. Hai lần đều gọi bà là kỵ nữ Ra-háp. Nhưng trong cả 2 lần, KT đều xem bà như một tấm gương đáng học làm theo. Trong sách Hê-bơ-rơ, Rahab có tên trong số các anh hùng, liệt nữ đức tin. Bà được liệt tên cùng với Nô-a, Abraham, Moses. KT viết: Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp không chết với kẻ chẳng tin, vì nàng đã lấy ý tốt tiếp rước các kẻ do thám. (11:31). Rahab là một tấm gương về đức tin. Lần nữa là trong thư của Gia-cơ: Đồng một thể ấy, kỵ nữ Ra-háp tiếp rước các sứ giả và khiến họ noi đường khác mà đi, người há chẳng phải cậy việc làm mà được xưng công bình sao? (2:25) Rahab không chỉ là tấm gương về đức tin nhưng còn là tấm gương về đức tin thể hiện qua việc làm. Một điều hết sức ngạc nhiên và lạ lùng là trong số bao nhiêu nhân vật đầy đức tin như viết trong Hê-bơ-rơ thì Gia-cơ chỉ nêu lên 2 gương thể hiện đức tin qua việc làm: Hai gương đó là Abraham và Rahab.
Bởi ân điển lạ lùng ĐCT ban cho những người như Rahab – những người bị xã hội, thậm chí gia đình lên án, khinh dễ, tránh xa – cơ hội mới, cuộc đời mới. Như ĐCJC cũng bởi ân điển lạ lùng mà tha thứ cho người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội tà dâm, xém đã bị dân chúng ném đá cho đến chết, hay một người phụ nữ xấu nết khóc dưới chân Ngài, một cơ hội mới, cuộc đời mới. Bởi ân điển lạ lùng mà ĐCT đã dùng một người kỵ nữ như Rahab trong chương trình cứu rỗi của Ngài đã định từ trước muôn đời.
ĐCJC nói ai được chủ tha thứ nhiều thì yêu mến chủ nhiều, ai được tha thứ ít, thì yêu mến ít. ĐCT đã tha thứ Ra-háp quá nhiều và ban quá nhiều ơn phước cho đời bà. Từ một kỵ nữ Rahab lập gia đình với một người quyền thế, giàu có. Từ một kỵ nữ, Rahab trở nên tổ mẫu của vua Đa-vít và của ĐCJC. Thiết nghĩ bao nhiêu lần, bao nhiều ngày Rahab nghĩ về ân điển lạ lùng đó mà lấy lòng biết ơn Chúa biết bao nhiêu. Còn qv là những người được Chúa ban nhiều ơn phước thì có lòng biết ơn hay không?
Có thể một số người làm mẹ hiện diện tại đây khi nghĩ về những lầm lỗi mình đã phạm, những thiếu sót với gia đình, với con cái, thì lòng cảm thấy nặng nề, đau xót. Có thể tự trách mình vì con cái đang đi trong con đường sai quấy, thậm chí sống trong tội lỗi. Hãy nhớ đến ân điển lạ lùng mà ĐCT hứa ban cho những người thuộc về Ngài để được hy vọng, yêu thương, tha thứ.
Nếu ĐCT đã dùng Rahab cho chương trình đã định thì Chúa cũng có chương trình, dự tính tốt đẹp cho những người mẹ đang có lòng đau khổ, nặng nề vì con, vì cháu. CHÚA phán: "Vì chính Ta biết rõ chương trình Ta hoạch định cho các ngươi. Ta có chương trình bình an thịnh vượng cho các ngươi, chứ không phải tai họa. Ta sẽ ban cho các ngươi một tương lai đầy hy vọng (Giê-rê-mi 29:11-BDM)
Hay như lời hứa sẽ hồi phục lại những năm tháng mất mát, khổ đau vì con cháu: Ta sẽ đền bù cho các ngươi về mấy năm đã bị cắn phá bởi cào cào, sâu lột vỏ, sâu keo, và châu chấu, là đạo binh lớn mà ta đã sai đến giữa các ngươi. 26 Các ngươi sẽ đủ ăn và được no nê. Các ngươi sẽ ngợi khen danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã xử với các ngươi cách lạ lùng. Rồi dân ta sẽ không hề bị xấu hổ nữa (Giô-ên 2:25-26). Các bà mẹ có thể thay vào phần mấy năm đã bị cắn phá bởi cào cào, sâu lột vỏ, sâu keo, và châu chấu với những năm tháng dài mòn mõi vì con, chua xót, đau khổ vì chồng, vì hôn nhân không hạnh phúc, về những tháng ngày sầu khổ không biết tỏ cùng ai. Chúa hứa sẽ bồi trả lại những ngày tháng chua xót, khổ đau, mất mát đó.
CHỚ KHINH DỄ MẸ
Theo câu chuyện KT kể thì Ra-háp hoặc sống chung với cha mẹ, anh chị em, hoặc sống riêng một mình. Tôi nghĩ có lẽ bà sống một mình vì là gái bán thân. Không gia đình nào, cha mẹ nào, thậm chí anh chị em nào muốn nhận một người con gái, người chị, người em làm nghề xấu xa này cả. Mọi người đều muốn tránh càng xa càng tốt; đều muốn xem như người đó không có trong gia đình, hay đã chết rồi. Vậy đó mà bà vẫn nhớ đến gia đình và xin cho họ được cứu. Không chỉ cha mẹ, anh chị em mà còn tất cả bà con của họ, tức là anh rễ, chị dâu, các cháu, là cô chú bác bên cha hoặc mẹ.
Đây là người mà dù gia đình phụ bỏ nhưng không phụ bỏ gia đình. Người làm mẹ cũng vậy. Có khi bị gia đình phụ bỏ nhưng không hề phụ bỏ gia đình; chồng con phụ bỏ nhưng không phụ bỏ chồng con. Đây là một phẩm giá, tính hạnh đáng kính, đáng trọng mà chúng ta cần học làm theo. Đây cũng là điều như đã viết trong Giăng về ĐCJC Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng (Giăng 13:1)
Bao nhiêu người con khi đã được danh vọng, chức phận, khi đã thành công, giàu có thì lại chối bỏ cha mẹ, gia đình vì thuộc thành phần thấp hèn, vì nghèo khó hay thất học. Vì vậy mà sách CN nhắc nhở nhiều lần các con chớ khinh dễ mẹ mình khi người già yếu: Hãy nghe lời cha đã sanh ra con, Chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu (23:22). Từ khinh bỉ, khinh dễ này cũng có nghĩa là xem thường, xem như không ra gì. KT dạy rõ rằng dù khi thành công đến mấy, dù khi giàu có đến mấy, cũng chớ bao giờ xem thường mẹ mình. Xem thường là gì? Là coi rẽ những lời nhắc nhở, khuyên bảo như không giá trị, nghĩa lý gì vì bả biết gì mà nói; làm sao bả có thể hiểu vấn đề kỷ thuật này hay xã hội ngày nay… Xem thường là gì? Là để người khác nặng nhẹ mẹ mình mà không hề binh vực, chống đối.
Một số con cái khi dễ, xem thường mẹ mình vì nghĩ rằng tuổi thơ của mình không được bằng người ta, khi có sự cay đắng trong lòng về những thiếu xót của mẹ mình mà tuổi thơ không trọn vẹn. Con người trong xã hội hôm nay đều đổi họ sang họ Đổ vì họ đổ lỗi cho người này, người nọ, nhất là đổ lỗi cho cha mẹ về mọi điều xấu, mọi thất bại trong đời. Thay vì nhận trách nhiệm, lỗi lầm của chính mình rồi xin tha thứ, xin được thay đổi.
Tôi có lời này từ KT cho các anh chị em thanh niên, cho những người đến nay vẫn còn xem thường, vẫn còn cay đắng với mẹ mình: Con mắt chế nhạo cha, Khinh bỉ việc vâng lời mẹ, Sẽ bị quạ nơi thung lũng móc mắt đi, Và diều hâu ăn thịt. (CN 30:17) ĐCT sẽ trừng phạt những đứa con chế nhạo, khinh bỉ, xem rẽ cha mẹ mình. Bởi vì điều răn thứ năm trong 10 điều răn là: Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho. (XEDTK 20:12). PL giải thích thêm đây là điều răn duy nhất có lời hứa nối theo.
THẤY DẦM MẮT NGƯỜI, QUÊN CỘT MẮT MÌNH
Xã hội khinh khi những người thiếu nữ, phụ nữ bán thân để sống. Nhưng qv có biết rằng trong thế kỷ 21 này hơn bao giờ hết trong lịch sử con người, người ta buôn bán những em bé gái, những thiếu nữ như những món hàng để thỏa mãn dục tính của đàn ông. Buộc họ phải bán thân để kiếm tiền cho chủ. Ước tính có đến 20-30 triệu người bị bán làm nô lệ trên thế giới hôm nay.
Theo Bộ Ngoại Giao HK thì hằng năm từ 600K đến 800K người bị bán từ nước này sang nước khác, trong đó 80% là nữ giới và 50% là trẻ em. Tuổi trung bình của các thiếu nữ bị bán để mãi dâm là 12-14. Lý do gì có những trẻ em, thiếu nữ bị bắt cóc, bị bắt làm nô lệ? Bởi vì dục vọng của đàn ông! Khi ăn chơi với những cô gái bán thân thì những người này đã trực tiếp giúp cho những bọn buôn người. Tội họ không phải chỉ là về tội tà dâm, nhưng còn là tội thông đồng với phường buôn bán người không còn lương tâm con người.
Chúng ta cám ơn Chúa vì dù KT lên án tội tà dâm nhưng luôn có lòng thương người phạm tội, như kỵ nữ Rahab, nhưng người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội tà dâm ĐCJC tha thứ, như những tín đồ HT Cô-rinh-tô sống luôn tuồn. Đây chính thật là ân điển lạ lùng.
Tôi xin có câu hỏi này cho hội thánh Chúa: Khi qv thấy một người mẹ mất con vì đi sai đường lạc lối, qv sẽ làm gì? Sẽ nói Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà là đúng lắm! Hay chê bai người không biết dạy con? Hay nói: bà này có tướng sát chồng, sát tử! Hay nói: chắc bả có tội gì đó nên Chúa mới phạt như vậy! Lắm khi tín hữu trong hội thánh lại có những lời phán xét hết sức nặng nề, thậm chí độc ác vô cùng.
Một câu chuyện có thật xãy ra tại một hội thánh: một thiếu nữ lỡ dại có thai; một vài người trong hội thánh đến nói với cô và mẹ cô không hiểu tại sao là người tin Chúa mà lại có thể làm những chuyện như vậy. Bộ không biết xấu hổ hay sao mà còn chường mặt đến nhà thờ?
Cho đến khi nào tôi còn được Chúa cho là mục sư hội thánh, tôi nói với qv rằng hội thánh này sẽ không đối xử, nói năng, hành động như vậy. Mẹ đã đau khổ biết bao khi mất con mình. Mẹ đã bao nhiêu lần tự trách mình (dù có khi không phải lỗi mình) khi con lạc mất. Mẹ đã nghe đủ lời xì xầm, trách mắng, thị phi từ bao nhiêu người bên ngoài khi mất con mình.
HT phải là nơi an toàn, nơi có tình yêu thương, nơi mở rộng vòng tay trong tình yêu thương mà đón cả mẹ và con, dù là những đứa con hoang đàng đang đi lầm đường lạc lối. Qv có nhớ câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể về người con trai hoang đàng hay không?
Tôi xin kết thúc với một bài viết rất cảm động trích từ một tác phẩm của người Ý tên Edmond de Amicis được học giả Hà Mai Anh dịch thuật Tâm Hồn Cao Thượng, Hà Mai Anh. Bài viết có tựa là Mẹ Tôi. Thể viết là thơ của một người cha gởi cho con mình:
Sáng nay cô giáo Đencati lại chơi, cha tôi nhận thấy tôi đã nói một câu vô lễ với mẹ tôi. Vì thế cha tôi răn tôi bằng lá thơ sau này, đọc rất cảm động.
" Trước mặt cô giáo của em con, con đã tỏ ra vô lễ với mẹ con. Enricô ơi ! Lần sau không được thế nữa ! Thái độ hỗn hào của con đã xuyên thấu trái tim cha như một mũi dao. Cha còn nhớ mấy năm trước đây, mẹ con đã thức suốt đêm ở cạnh giường con, nghe hơi con thở, mẹ con đã lo lắng võ người và mỗi khi nghĩ đến nỗi phải "bỏ" con thì lại sụt sùi. Con ơi ! Con nên nghĩ đến những lúc ấy và không nên tệ với mẹ con, một người mẹ sẽ sẵn lòng đem một năm hạnh phúc của mình để chuộc một giờ đau đớn cho con, một người mẹ sẽ vui lòng đi ăn xin để nuôi con và sẵn lòng hy sinh tính mệnh để cứu con sống ! Con ơi ! Trong đời con, con sẽ có những ngày buồn rầu, thảm đạm, nhưng cái ngày buồn thảm nhất, chính là ngày con mất mẹ con.
Rồi đây, con sẽ trưởng thành, những cuộc phấn đấu sẽ rèn con nên người mạnh mẽ. Con sẽ không bao giờ quên được hình ảnh mẹ con và con sẽ ước gì lại được nghe thấy tiếng êm ái và trông thấy nét mặt hiền từ của mẹ con, ví dù lớn đến mực nào, khoẻ đến mực nào, con vẫn thấy là một đứa trẻ chơ vơ và yếu đuối. Con sẽ hồi tưởng lại những lúc đã làm cho mẹ con phải mếch lòng mà con buồn. Lòng hối hận sẽ cắn rứt con. Hình ảnh dịu dàng và từ ái của mẹ con sẽ làm cho con thêm rầu rĩ. Con nên nhớ rằng lòng hiếu thảo là một bổn phận thiêng liêng của con người. Kẻ nào giày xéo lên chữ hiếu là kẻ khốn nạn. Quân giết người nếu biết tôn kính cha mẹ, cũng còn một điểm thành thực trong tâm ; con người dù sang trọng tuyệt vời, nếu làm rầu lòng mẹ, xúc phạm đến mẹ, cũng là kẻ không có nhân cách.
Enricô ơi ! Con van mẹ con đi, để mẹ con hôn con cho cái hôn ấy xoá sách vết vô ơn ở trên trán con. Con ơi ! Lòng cha vẫn yêu con, vì con là mối hy vọng quý báu nhất đời của cha, nhưng cha thà không con còn hơn là có đứa con ở bạc với mẹ !"
Cha con.
