Không Chỗ Trong Nhà Quán
Trong câu chuyện giáng sinh theo sách Phúc Âm Lu-ca thì khi Jesus sinh ra thì cả làng Bết-lê-hem cũng không có chỗ trong nhà quán nào cho Ngài. KT viết: Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến. 7 Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở (Lu-ca 2:6-7). Một lý do chúng ta có thể đoán biết về nhà quán không đủ chỗ ở là vì số người đến ngôi làng này để ghi sổ cho việc kiểm tra dân số.
Qv có nghĩ phải chăng đây là một việc ngẫu nhiên hay tình cờ không? Dù dưới mắt con người thì có thể như vậy. Nhưng với ĐCT thì dĩ nhiên đây không phải là sự việc tình cờ hay ngẫu nhiên. Nếu sự giáng sinh của hài nhi Jesus đã được tiên tri trước đó hằng 700 năm trời trước đó với những chi tiết hết sức cụ thể như làng nào Chúa sinh ra thì việc nhà quán có chỗ hay không cho Chúa khi Ngài sinh ra chắc chắn không phải là sự việc ngẫu nhiên. Trái lại đó là chương trình và dự tính từ trước của ĐCT.
Nghe vậy, một số người lại hỏi. Tại sao ĐCT lại có dự tính, chương trình gì lạ vậy. Khi Con Trời xuống thế làm người thì lại được sinh ra trong một chuồng chiên tối tăm, dơ bẩn, hôi hám, và phải nằm trong máng cỏ của loài súc vật? 2 ý nghĩa: 1) Để cho thấy thế giới này, con người trong thế giới này cũng không có chỗ cho Chúa trong đời sống họ; 2) Lòng người cũng đen tối, nhơ nhớp như chuồng chiên xưa nơi ĐCJC hạ sinh.
Như đã được viết trong sách Giăng: Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. 5 Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng. (1:6) Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài. 11 Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. (1:10-11). Nhưng thế nào là không có chỗ cho Chúa trong lòng mình?
TÂM LINH KHÔNG CHỖ CHO CHÚA
Dù không biết KT nhưng hầu hết người VN chúng ta đều đồng ý với KT rằng con người gồm có 2 phần: thể xác (thân thể) và tâm linh (linh hồn, thần linh). Thể xác thấy được nhưng tâm linh không ai thấy được. Không có một máy y khoa nào, từ X quan, cho đến ultrasound hay cả MRI có thể thấy được tâm linh một người. Có lẽ vì không thấy được nên người ta ít bao giờ nghĩ đến tâm linh mình, như người VN chúng ta có câu: Xa mặt, cách lòng. Nhưng lý do chính yếu làm cho hầu hết mọi người chú ý về thể xác hơn tâm linh là bởi vì sự đòi hỏi của thể xác. Có những đòi hỏi thể xác mà chúng ta không thể làm ngơ: đói khát mà không ăn uống thì sẽ chết, khi mệt thì phải nghĩ ngơi, đau bệnh thì phải được điều trị.
Tuy nhiên đòi hỏi của thể xác chúng ta như một chiếc xe chạy với bộ thắng rất mỏng, thắng không ăn, hay không có thắng. Có nghĩa là những đòi hỏi của thể xác hoặc ít giới hạn, ít sự kềm hãm hay không có giới hạn, không cần kềm hãm. Đòi hỏi của thể xác không ngừng, không giới hạn, muốn có ngay bây giờ, không thể chờ, luôn luôn thêm, chứ không giảm lại. Mục đích chính yếu của giải trí (phim ảnh, games), social media, của kỷ thuật máy móc trong xã hội hôm nay là nhằm để thỏa mãn những đòi hỏi của thể xác. Không những để thỏa mãn, nhưng ngày càng làm tăng thêm, bởi vì khi đòi hỏi tăng thêm, thì các công ty mới có thể thêm lợi tức.
Đòi hỏi thể xác như chiếc xe đầu tiên thắng mòn không ăn, rồi dần dà đến xe không thắng, như một hảng xưởng làm 24/24, không bao nghĩ. Chính vì phải thỏa mãn những đòi hỏi không ngừng và không giới hạn nên con người sống trong xã hội HK, thậm chí cả tại các thành phố lớn tại VN, không hề nghĩ đến phần tâm linh. Cũng chính vì những đòi hỏi không ngừng, không giới hạn của thể xác mà những thói quen của con tim đều về thể xác: làm sao để phục vụ, thỏa mãn những đòi hỏi của thể xác.
Theo thời gian thể xác trở nên chủ của cả cuộc đời một người. Thói quen của thể xác thay thế thói quen con tim, tâm linh và làm chủ đời sống con người hôm nay. Cuộc đời chúng ta đầy ắp những đòi hỏi thể xác, không còn chỗ cho ĐCT. Vật chất trở nên trung tâm điểm, điều quan trọng nhất, choán hết chỗ của tâm linh.
Đây cũng chính là ý nghĩa của sự cám dỗ của ma quỉ cùng ĐCJC trong đồng vắng: Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá nầy trở nên bánh đi.(Ma-thi-ơ 4:3). Ma quỉ nói gì? Bánh cho thể xác là điều quan trọng hơn hết cho đời sống. ĐCJC trả lời nó: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời. (Ma-thi-ơ 4:4). Chúa nói gì? Dù con người cần bánh để sống, nhưng bánh không phải điều quan trọng, chính yếu, là chủ của đời sống; con người cần có lời của ĐCT để nuôi dưỡng tâm linh: đây mới là điều trọng yếu nhất cho đời sống.
Qv nhớ lời Chúa dạy trong bài giảng trên núi: Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy; 20 nhưng phải chứa của cải ở trên trời, là nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy. 21 Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó. (Ma-thi-ơ 6:19-21). Hay về 2 con đường: Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14 Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít. (7:13-14).
Đến nỗi Chúa còn dạy nếu giữa linh hồn và thể xác, phải chọn linh hồn dù có mất tất cả những điều thỏa mãn thể xác: Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại? (16:26) Làm sao có thể được những thói quen con tim chú tâm về tâm linh, linh hồn, thần linh nếu chỉ suy nghĩ, thỏa mãn, ưu tiên cho thể xác?
Có người lấy hình ảnh của thể xác và tâm linh như 2 con chó đen (thể xác) và trắng (tâm linh). Nếu mỗi ngày chúng ta cho chó đen ăn mà bỏ lơ chó trắng thì chó đen ngày sẽ càng to mạnh hơn. Trái lại nếu chúng ta chủ ý cho chó trắng ăn và làm ngơ với chó đen, thì chó trắng ngày sẽ mạnh mẽ hơn. Không những thể xác, đòi hỏi của thể xác thay đổi thói quen con tim, làm chủ đời sống, nhưng ma quỉ sẽ dùng đòi hỏi của thể xác để biến chủ trở nên chúa tể của đời sống, đến nỗi phải xấp mình thờ lạy nó.
Trong buổi lễ ra trường đại học Kenyon năm 2005, diễn giả là một tác giả trẻ, 43 tuổi tên David Foster Wallace. Người ta gọi Wallace là một trong những nhà văn sáng tạo và nổi bật nhất trong 20 năm nay. Trong bài nói chuyện cùng các sinh viên ra trường, ông có những lời như sau: Mọi người đều thờ phượng. Sự chọn lựa duy nhất là chúng ta sẽ thờ phượng điều gì. Và một lý do hợp lẽ hơn khi chọn một thần nào đó để thờ phượng… là bởi vì mọi thứ khác trên đời này rồi sẽ nuốt sống qv. Nếu thờ phượng tiền của và vật chất, nếu đó là điều qv tìm ý nghĩa cho cuộc sống, thì qv sẽ không bao giờ có đủ, không bao cảm thấy đủ. Đó là sự thật. Thờ phượng thể xác này và sắc đẹp và thu hút tình dục, rồi qv sẽ luôn thấy xấu xí. Và khi thời gian và tuổi tác bắt đầu làm qv già đi, qv sẽ chết triệu lần trước khi người thân chôn qv. Thờ phượng quyền lực, rồi qv sẽ cảm thấy yếu đuối và sợ hãi, và sẽ tiếp tục cần quyền lực để làm tê dại nỗi sợ hãi… Sự gian dối, xảo quyệt của những sự thờ phượng này không phải là tự nó độc ác hay tội lỗi; nhưng bởi vì đó là điều tự nhiên ẩn trong tiềm thức mỗi người.
ĐCT tạo dựng con người với một khoảng trống trong tâm hồn mà chỉ có chính Chúa mới có thể lấp đầy. Hầu hết mọi người đều ý thức tâm linh mình có một khoảng trống. Nhưng lại tìm đủ mọi phương cách để lấp đầy bằng những thỏa mãn về vật chất, thể xác. Wallace là nạn nhân của chính lời khuyên của ông vì không có chỗ cho Chúa trong tâm linh. 3 năm sau bài nói chuyện này, ông tự tử, đúng như ông đã nói: mọi thứ khác trên đời này rồi sẽ nuốt sống chính ông.
Làm thế nào để có chỗ cho Chúa trong đời sống tâm linh? 1) Phải khiêm nhường; 2) Phải lắng nghe; 3) Phải hy sinh
ĐỂ CÓ CHỖ CHO CHÚA, PHẢI KHIÊM NHƯỜNG
Một cách tổn thương (offend) con người sống trong thời đại văn minh này là so sánh tấm lòng của chúng ta với nơi tối tăm, nhơ nhớp, hôi hám vì tội lỗi. Hầu hết, nếu không nói tất cả đều nghĩ mình là người tốt, lòng mình chân thật, trong sạch. Nhưng KT dạy rằng Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? (Giê-rê-mi 17:9)
Trong các thiệp giáng sinh, chuồng chiên máng cỏ như có vẻ thơ mộng với những con thú rất dễ thương. Nhưng đây chỉ là một hình ảnh thi vị hoá bởi những người vẽ thiệp. Chuồng chiên máng cỏ là nơi dành cho súc vật; nơi tối tăm, ẩm thắp, hôi hám, hèn hạ. Chẳng có gì là thơ mộng, cũng không có gì là đẹp đẻ, dễ thương cả! Không một người mẹ nào lại muốn sinh con mình ra trong nơi máng cỏ, chuồng chiên, đặc biệt là con trai đầu lòng. Vậy đó mà Con Trời đã hạ sinh giữa vòng loài người chúng ta trong nơi thấp hèn như vậy. Nếu có một từ để diển tả thì đó là từ khiêm nhường.
Chúa muốn nhắc chúng ta rằng Ngài đến thế gian một cách khiêm nhượng và cho những ai có tấm lòng khiêm nhường. Đây là những người ý thức rằng tấm lòng, tâm hồn của họ cũng như chuồng chiên xưa kia tưởng như sạch sẻ nhưng thật sự chỉ là nơi tối tăm, cần được dọn rửa! Cũng vậy, chuồng chiên máng cỏ là nơi bần hèn nhất lại được chưng bày mỗi mùa lễ Giáng Sinh để nhắc loài người về phẩm hạnh khiêm nhường của Đức Chúa Jê-sus Christ, về tình yêu thương vô bờ bến của Thượng Đế đối với những người sống nơi tối tăm nhất, bần hàn nhất của xã hội.
Khi đến với Chúa tất cả chúng ta phải đến như người thu thuế tội lỗi đứng xa đền thờ, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà khóc: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! (Lu-ca 18:13), hay như người phụ nữ xấu nết tìm ĐCJC trong nhà của một người Pha-ri-si: đứng đằng sau, nơi chân Đức Chúa Jêsus, khóc, sa nước mắt trên chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà chùi; lại hôn chân Ngài, và xức dầu thơm cho. Với người thu thuế không dám ngước mắt lên trời xưng mình có tội, Chúa nói: Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. (Lu-ca 18:14).
ĐỂ CÓ CHỖ CHO CHÚA, PHẢI LẮNG NGHE
Khi Jê-sus sinh ra, vợ chồng Ma-ri và Giô-sép phải rời làng Nazarét là nơi đang sinh sống để đến làng Bết-lê-hem gần thành Jêrusalem, bởi vì đại đế La Mã ra lệnh kiểm tra dân số cho cả xứ. Khi đại đế ra lệnh thì mọi người đều phải vâng phục. Dân sự bấy giờ bận rộn về việc kiểm tra dân số theo lệnh của đại đế La Mã. Lệnh của đại đế phán ra, có ai dám làm trái lại; đây là một việc khẩn cấp. Mọi người đều phải dừng tất cả để về quê hương của cha ông mà lập lại sổ dân. Ngay thiên hạ bận rộn về sự việc khẩn cấp, về lệnh của đại đế thì Con Trời âm thầm giáng sinh. Đây không phải là một ngẫu nhiên nhưng là một sứ điệp cho thiên hạ: rằng chúng ta đừng quá bận rộn, lo lắng về những đòi hỏi của loài người mà quên đi nước Trời.
Tiếng ra lệnh của đại đế Xê-xa át cả mọi thứ tiếng khác trong đời sống. Lịnh đại đế cũng thay đổi cả mọi chương trình, dự tính của dân chúng. Nhưng còn tiếng Đức Chúa Trời thì sao? “Nầy ta đứng ngoài cửa mà gõ…..”
Đời sống hôm nay cũng có rất nhiều tiếng gọi. Như tiếng gọi ái tình, tình yêu. Nói đến tiếng này thì người ta thường ví như tiếng sét ái tình. Sét đánh vào ai thì cháy cả người! Qv có nhớ câu chuyện công chúa Mỵ Châu và cái nỏ thần trong thời vua An Dương Vương. Vì tiếng sét ái tình mà Mỵ Châu lừa cả cha mình để lấy cây nỏ thần cho chồng Trọng Thủy, là con trai của Triệu Đà, kẻ địch cùng vua An Dương Vương. Khi được nỏ thần, Trọng Thủy nói dối với vợ là mình phải về nước thăm cha. Trước khi đi, chàng và nàng trao đổi những lời theo tiếng sét ái tình: "Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm thấy nhau?". Mị Châu nói: "Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu. Mất nỏ thần nên vua An Dương Vương thua trận cùng Triệu Đà, phải bỏ chạy. Khi bỏ thành chạy vua để My Châu sau lưng mình trên lưng ngựa. Cũng vì tiếng sét ái tình mà Mị Châu rút lông ngỗng trên tấm áo của mình mà rải dài trên đường. Tuần tới tôi sẽ cho qv biết kết thúc của câu chuyện ái tình này!
Tiếng gọi tình yêu hay tiếng sét ái tình dữ dội đến như vậy nên bao nhiêu người bỏ tất cả để chạy theo. Nhưng còn biết bao nhiêu tiếng gọi khác hấp dan, thu hút không kém. Như tiếng gọi tiền tài, tiếng gọi danh vọng, tiếng gọi chức quyền. Tất cả những tiếng gọi này có thể tóm gọn thành 2 loại: tiếng gọi vật chất, và tiếng gọi xác thịt.
Jê-sus Christ hạ sinh nơi chuồng chiên thấp hèn vì nhà quán không có chỗ cho Ngài. Nếu chuồng chiên tượng trưng cho tấm lòng của những người khiêm nhượng biết mình có tội dơ, thì hình ảnh nhà quán tượng trưng cho những cuộc đời quá đầy đủ, bận rộn với đời sống đến nỗi không còn chỗ cho Đức Chúa Trời.
Hai tiếng gọi về vật chất và xác thịt này át đi tiếng gọi của ĐCT: Chúa đã đến trong nước Ngài mà dân Ngài không nghênh tiếp, nhưng những ai tiếp nhận Ngài, nghĩa là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở nên con Đức Chúa Trời. Đây là những người không sinh ra theo huyết thống, ý phàm hay ý người, nhưng do chính Đức Chúa Trời sinh thành. (Giăng 1:11-13 - BDM)
ĐỂ CÓ CHỖ CHO CHÚA, PHẢI CHẤP NHẬN HY SINH
Vì lệnh kiễm tra dân số của đại đến Au-gút-tơ nên Ma-ri và Giô-sép phải đi từ làng Na-xa-rét, nơi họ đang sinh sống để đến làng Bết-lê-hem. Hai làng Bết-lê-hem và Na-xa-rét cách nhau độ 80 miles. Hôm nay chạy bằng xe trên đường xa lộ chỉ tốn độ gần hai tiếng đồng hồ. Nhưng ngày xưa khi phải đi bộ, bằng lừa thì phải mất hai hay ba ngày đường, đặc biệt khi Ma-ri đang mang thai và sắp đến ngày sanh nở. Khi đến Bết-lê-hem, thì ngôi làng nhỏ này không còn đủ phòng quán cho những người từ phương xa trở về theo lệnh kiểm tra dân số. Ma-ri không có thì giờ để dưỡng sức sau mấy ngày vất vả trên đường trước khi sanh con.
Cũng khó mà tin rằng khi Ma-ri sinh nở thì Giô-sép đứng cạnh vợ mình mà động viên, an ủi. Việc sinh con ở vùng Trung Đông cũng giống như Á Châu ta là một kinh nghiệm khó nhọc và cô đơn cho các bà. Ngày xưa, các bà đến ngày sanh nở phải tự kêu xe taxi, xe xích-lô đến nhà rồi tự mình đi sanh con. Người Việt ta có câu: Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình là như vậy.
Khi sanh Jê-sus, Mari không có được một phòng riêng nơi nhà trọ, mà phải sanh con đầu lòng nơi chuồng chiên, máng cỏ. Đau về thể xác đã đành nhưng chắc rằng Ma-ri còn mang một nỗi đau khác nữa trong lòng vì tủi hổ cho thân mình, chua xót cho con mình. Cũng có thể bà tự hỏi rằng tại sao thiên sứ báo tin con trẻ này là Con Trời, là Đấng Cứu Rỗi cho nhân loại mà lại phải hạ sinh nơi chuồng chiên, máng cỏ thấp hèn này?
Dù trãi qua bao nhiêu nhọc nhằn, mất mát, dù có biết bao nhiêu câu hỏi không có câu trả lời, nhưng Ma-ri vẫn quyết định làm theo lời Chúa phán cùng bà để cưu mang, sanh đẻ rồi nuôi dưỡng Jesus. Ưu tiên trong cuộc đời Ma-ri và Giô-sép lúc bấy giờ là làm theo lời Chúa bởi vì họ có chỗ cho Ngài trong đời sống của họ. Còn qv thì sao?
Nếu có dịp xem lại các thiệp giáng sinh đã nhận năm nay hay nhiều năm qua, quý vị sẽ nhận thấy cảnh của Mari, Giô-sép, các mục đồng, ba vua quây quần chung quanh hài nhi Jêsus nằm trong máng cỏ. Hay cảnh các thiên sứ với hào quang sáng rực trên trời cao, hay trên máng cỏ. Cảnh nào cũng như cảnh ấy, đều có vẻ êm đềm, bình an. Gương mặt của Mari, Giô-sép trên các thiệp, các hình này đều phản ánh một sự bình thản, vui thoả, không hề có một chút kinh ngạc, lo âu, buồn phiền hay sợ hãi. Tuy nhiên, nếu chúng ta đọc về câu chuyện Giáng Sinh thì sự việc không xảy ra như trong các thiệp giáng sinh.
Tất cả các nhân vật trong câu chuyện giáng sinh đều có sự lo âu, sợ hãi ngay khi họ nghe được tiếng phán của Thượng Đế. Giô-sép lo lắng về việc Ma-ri chịu thai bởi Đức Thánh Linh trước ngày cưới, về tiếng chê cười của gia đình khi lấy một cô gái không còn trinh tiết làm vợ. Đến nỗi thiên sứ của Đức Chúa Trời phải hiện ra và bảo với ông đừng lo sợ mà hãy lấy Ma-ri làm vợ. Ma-ri lo sợ về bầu thai mình đang mang; không biết tiếng đồn thị phị, lời xì xầm dị nghị từ bà con, làng xóm thế nào về mình, về chồng, về tương lai của con trẻ đang cưu mang. Ngay cả những người chăn chiên ngoài đồng đang thức đêm canh giữ bầy chiên khi được thiên sứ báo tin về Jê-sus hạ sinh thì Kinh Thánh qua lời của một bác sĩ tên Lu-ca cho biết rằng họ rất sợ hãi. Và lời đầu tiên thiên sứ phán cùng họ là “đừng sợ chi”. Qv có biết trong KT bản cũ có đến 586 câu KT có chữ sợ hay không?
Chúa không đòi hỏi chúng ta phải có đức tin cao như núi, rộng như sông khi đến với Ngài. Chúa biết tình cảnh, tâm trạng của quý vị ngay giờ phút này. Chúa biết mọi nỗi lo lắng, tâm trang hoang mang của quý vị như Chúa biết và cảm thông với nỗi lòng của Mari, Giô-sép, với những người chăn chiên nghèo khó khi Con Trời hạ sinh. Ngài phán với tất cả chúng ta qua lời thiên sứ: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành. Với những ai có tâm trạng hoan mang, lo sợ, Chúa gọi quý vị đến để nhận tin vui mừng, tin hy vọng về sự giáng sinh của Jêsus Christ.
DÀNH CHỖ CHO CHÚA
Những tiếng gọi của vật chất, của thế gian chiếm hết thì giờ trong ngày, trong tuần. Đòi hỏi của xác thịt át đi cả tiếng gọi của ĐCT. Ngày này qua ngày nọ, năm này qua năm khác, chạy đuổi theo nhu cầu, đòi hỏi của cuộc sống mỗi ngày, chúng ta quên dần đi nhu cầu về đời sống tâm linh, về sự cần thiết của Thượng Đế trong cuộc sống. Không ai còn có chỗ cho Đức Chúa Trời trong đời sống.
Chỉ có vài người có chỗ cho Đức Chúa Trời khi Jê-sus giáng sinh. Ma-ri có chỗ cho Đức Chúa Trời. Bà cam chịu mọi tiếng đồn đãi, thị phi, mọi nhọc nhằn để cưu mang con trẻ cho đến ngày sinh nở. Giô-sép có chỗ cho Chúa bởi vì ông tin lời phán dạy của thiên sứ lấy Ma-ri làm vợ dù biết hôn thê mình đang mang thai. Rồi chấp nhận con trẻ Jê-sus như chính con trai mình, nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Những người mục đồng có chỗ cho Đức Chúa Trời. Dù đang phải chăn chiên ngoài đồng vào lúc giữa đêm lạnh lẽo, họ tin lời thiên sứ, tạm ngừng công việc để vào làng Bết-lê-hem mà tôn thờ Con Trời vừa mới hạ sinh. Các bác sĩ từ đông phương có chỗ cho Chúa. Họ không ngại đường xá xa xôi từ phương xa đem theo những của vật quý báu đến tìm nơi con trẻ mới sinh để thờ lạy.
Đối với những người này ĐCT có một vị trí quan trọng trong đời sống, trong tâm hồn của họ. Không phải họ không thực tế, bỏ quên công việc hằng ngày hay chỉ sống trong mộng tưởng, nhưng đây là người ý thức về giá trị của đời sống tâm linh. Như Phao Lô viết: Những gì thấy được chỉ là tạm bợ, những gì không thấy được mới là vĩnh viễn. Người có chỗ cho Thiên Chúa trong đời sống hiểu rằng bên cạnh đời sống vật chất hữu hình, tạm bợ này còn có một đời sống tâm linh đời đời dù vô hình nhưng rất thật. Vì niềm tin đó, họ bỏ thời gian, công sức để chăm sóc, nuôi dưỡng đời sống tâm linh.
Quý vị có chỗ trong đời sống mình cho Thượng Đế hay không? Hay quá bận rộn, bôn ba với công việc, với những đòi hỏi của vật chất trước mắt mà không còn một chỗ nào cho Chúa. Nếu cuộc đời của chúng ta có thể ví như một căn nhà với nhiều phòng, có phòng nào quý vị dành cho Thượng Đế. Hay như trong đêm Jê-sus Christ giáng sinh, tất cả nhà quán đều không còn phòng trống, nhà của quý vị cũng có bản cắm trước sân: không còn chỗ cho Chúa, tất cả phòng đều đầy, hãy đến nhà khác.
Quý vị cũng có thể hỏi: có chỗ cho Chúa trong đời sống có nghĩa gì? Với một số quý vị, có chỗ cho Chúa là chân thành tin nhận Đức Chúa Jê-sus Christ là cứu Chúa của cuộc đời mình. Hãy để Ngài giáng sinh trong tâm hồn của quý vị. Ý thức rằng đời sống tâm linh của tôi cũng tăm tối như chuồng chiên máng cỏ cần được ánh sáng Trời chiếu dọi vào.
Với một số khác cần sự ăn năn, thay đổi; đây là những người dù đã có lần tin nhận Chúa nhưng vẫn còn đang để cho đời sống vật chất, tiếng gọi của xác thịt cai trị đời sống mình. Hãy mời Chúa đến làm chủ đời sống; hãy mở tất cả các cửa phòng, ngõ ngách để Đức Thánh Linh có thể xem xét rồi giúp dọn dẹp những rơm rác, bụi bậm. Có thể đó là một căn phòng cố ý khóa kín vì có những bí mật đen tối mà quý vị không muốn cho ai biết; hay là một căn phòng mà mỗi lần bước vào thì lại thấy đau buồn vì những kỷ niệm hay mất mát ngày xưa mà như mới hôm qua. Hãy để Chúa ngự và làm chủ nhà, quý vị sẽ kinh nghiệm được sự thay đổi kỳ diệu trong cuộc đời mình.
Chúa không ép buộc chúng ta phải có chỗ cho Ngài trong cuộc sống. Kinh Thánh viết rằng Đức Chúa Jê-sus đang đứng ngoài cửa lòng của chúng ta mà gõ, nếu ai nghe tiếng Ngài mà mở cửa nhà thì Ngài sẽ vào và cùng ăn tối với chúng ta. Mỗi người phải tự nguyện mở cửa lòng mình để Thiên Chúa ngự vào. Ngài không ngại chuồng chiên, máng cỏ thấp hèn, chỉ e rằng nhà quán không có chỗ cho Ngài.
Có người viết những lời hết sức ý nghĩa: Bản lề của nhân loại nằm nơi cửa chuồng chiên Jê-sus hạ sinh. Quả thật vậy, sự giáng sinh của Jê-sus Christ thay đổi cả lịch sử của nhân loại. Nhưng Ngài không chỉ đến để thay đổi lịch sử nhân loại mà để thay đổi cuộc đời của mỗi người tin nhận với Ngài. Chúng ta có thể hát mừng Chúa giáng sinh, nhưng bài hát đó có ý nghĩa gì nếu cá nhân chúng ta không biết Chúa là ai và tại sao Ngài lại đến thế gian? Chúng ta có thể tặng quà cho nhau, nhưng nếu quên rằng món quà lớn nhất, quan trọng nhất, giá trị nhất trong mùa lễ là sự giáng thế của con Trời, thì quà tặng cũng không trọn vẹn ý nghĩa. Quả như lời thiên sứ đã phán cùng các mục đồng: Vì này ta báo cho các người một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa.
Mỗi con tim, tấm lòng đều có những bí mật của nó. Tòa án con người, quan sát nhận xét của con người cũng vẫn có thể lầm vì con tim đầy những ngõ ngách, bí mật, mà chính tôi cũng không biết hết được! Có thể là những hành vi trong quá khứ không muốn ai biết. Có thể là những nỗi đau buồn không muốn nhắc đến. KT viết: Lòng nhìn biết sự cay đắng của lòng; Một người ngoại không chia vui với nó được (CN 14:10) và Dầu trong lúc cười cợt lòng vẫn buồn thảm; Và cuối cùng sự vui, ấy là điều sầu não. (CN 14:13). Bình luận về CN 14:10, một tác giả viết: Có quá nhiều điểm đen, quá nhiều đau buồn mà ngay người bạn thân nhất cũng không biết được; bộ xương khô đã được dấu trong tủ kín, và không ai có chìa khóa ngoài trừ chính chúng ta… Như một câu tục ngữ rất đơn giản nói: Không ai biết được chỗ nào giày cấn làm đau rõ hơn là người mang nó (There is many a dark spot, many a grief, of which our best friend knows nothing; the skeleton is locked in the cupboard, and no one has the key but ourselves… A homely proverb says, "No one knows where the shoe pinches so well as he that wears it )
Có bao giờ qv kinh nghiệm được cảm xúc này: ngay trong lúc đông người ồn ào vui vẻ, bỗng nhiên qv cảm thấy như sao lạc lõng vô cùng vì biết rằng dù có đông người như vậy nhưng qv vẫn không thể chia sẻ cùng ai về những nỗi buồn, niềm vui, những lo lắng, sự thiếu đức tin mà không bị phán xét, đánh giá, sẽ bị chê cười.
Tôi muốn chia sẻ điều này với qv dựa theo lời KT dạy: qv có thể đến với ĐCJC và trình dâng cho Ngài tất cả những bí mật của con tim của mình, dù là những bộ xương dấu trong tủ kín, dù đó là những điểm đen nhất, nơi nào chân đau nhất, Chúa sẽ lắng nghe, cảm thông. Ngài sẽ tha thứ và ban cho qv một con tim mới, một tấm lòng mới. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi mình thì Ngài vốn là Đấng trung tín và công chính sẽ tha thứ tội lỗi chúng ta và thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính. (1 Giăng 1:9) Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên. (Ê-sai 1:18)
Tôi cũng muốn chia sẻ điều này với qv dựa theo lời KT dạy: Bởi vì mỗi chúng ta đều có những bộ xương khô dấu kín trong tủ nhưng được Chúa tha thứ, thì hãy có lòng khiêm nhường, nhân từ với người quanh mình. Đừng như người Pha-ri-si, tự hào về đạo đức của mình. Quan trọng hơn hết đừng, đừng, đừng bao giờ tìm cách để lôi kéo những điểm đen, những bộ xương khô của anh chị em trong Chúa, của vợ chồng, người thân yêu khi hờn giận, cay đắng với họ. Ai làm điều đó ĐCT cũng sẽ phơi bày những bí mật của con tim họ ra ánh sáng cho mọi người nhìn thấy.
Dưới chân thập tự giá của Đấng Christ, đất bằng phẳng. Qv có biết tại sao không? Bởi vì tất cả chúng ta đều là người có tội, thiếu mất sự vinh hiển của ĐCT. Tất cả đều có những điểm đen, những bộ xương khô dấu kín trong tim nhưng Chúa tha thứ. Không chỉ tha thứ mà Chúa sẽ thực hiện lời Ngài hứa cho những ai thật sự nhận ĐCJC là Chủ của đời sống mình, là ban cho họ một tấm lòng mới, một con tim mới, một tâm linh mới: Ta sẽ ban cho các ngươi một tấm lòng mới và đặt một thần linh mới trong các ngươi; ta sẽ bỏ đi tấm lòng bằng đá khỏi xác thịt các ngươi và ban cho các ngươi tấm lòng bằng thịt. (Ê-xê-chi-ên 36:26 - BDM)
