Khi Vào Nhà Chúa – Giữ Lời Hứa
Đây là bài giảng cuối cùng theo TĐ 5:1-7 về lời dạy của vua S. khi vào nhà Chúa.
Hãy cẩn trọng khi vào nhà Đức Chúa Trời. Hãy đến gần cung kính lắng nghe hơn là dâng sinh tế như kẻ ngu muội, là kẻ không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm. 2 Đừng nhạy miệng, Và con cũng đừng hấp tấp, Thốt lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời; Vì Đức Chúa Trời ở trên trời, Còn con ở dưới đất; Vậy con hãy cân nhắc từng lời nói. 3 Vì nhiều suy tư sinh ra mộng tưởng, Nhiều lời sinh ra dại khờ. 4 Khi con khấn nguyện với Đức Chúa Trời, hãy vội vã làm trọn điều khấn nguyện, vì kẻ dại không làm vui lòng Ngài. Hãy làm trọn điều con khấn nguyện. 5 Thà đừng khấn nguyện, hơn là khấn hứa mà không làm trọn. 6 Đừng để miệng con gây cho con phạm tội. Đừng nói với thầy tế lễ "Tôi lầm lỡ khấn nguyện." Sao con làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời khấn nguyện của con đến nỗi Ngài hủy diệt công trình tay con làm? 7 Ở đâu có nhiều mộng mị, đó có nhiều điều hư không, và nhiều lời. Phần con, phải kính sợ Đức Chúa Trời. (5:1-7 – BDM)
Ba điều Sô-lô-môn cảnh giác chúng ta cần giữ khi vào nhà Chúa: 1) Giữ tâm trí, tấm lòng; 2) Giữ lời nói,; 3) Giữ lời hứa.
Trong đoạn KT này S. dùng 3 từ cụ thể khi nhắc người đến nhà Chúa phải giữ: chân đi, lời nói, lời hứa. Tại sao S. lại dùng 3 hình ảnh này?
1) Bởi vì đây là những biểu hiện cụ thể nhất, rõ nhất của những suy nghĩ trong lòng. Chân đi, lời nói, lời hứa là sự bày tỏ của suy nghĩ, cảm giác bên trong như chân đi là thể hiện của hành động bên ngoài. Như chúng ta thấy chân đi thì biết được ý muốn, khi nghe lời người nói, lời người hứa chúng ta biết được, hiểu được lòng dạ bên trong (dù chỉ một phần).
2) Không ai, ngoại trừ ĐCT, hiểu hết được, thật sự biết rõ được tấm lòng, tâm trí của người qua 3 điều này. Bởi vì 3 điều này chỉ là thể hiện của những gì trong lòng dạ, suy nghĩ.
3) Đây là cách thức, phương tiện để gây ấn tượng hay lừa dối người. Người thường lừa dối người là qua việc nghĩ một đàng làm một nẽo. Chân đi với mình nhưng lòng lại đi đường khác; miệng nói lời ngọt ngào, nhưng ai biết lòng dạ thế nào; hứa nguyện những điều đáng nể trọng nhưng ai biết rõ động cơ của lời hứa đó là gì? Chúng ta thường muốn cho người khác kính nể mình vì đạo đức bề ngoài khi vào nhà Chúa, qua cung cách, qua lời cầu nguyện, lời nói bên ngoài, qua lời hứa nguyện.
Vào ngày 30 tháng 9, 1938 Thủ Tướng Anh Quốc Neville Chamberlain khi bước xuống phi cơ, tay cầm và phất vẩy một tờ giấy hiệp ước giữa Anh & Đức Quốc sau hội nghị tại thành phố Berlin. Đứng trước tòa nhà của bộ thủ tướng, TT tuyên bố với dân chúng Các bạn thân mến, đây là lần thứ hai trong lịch sử quốc gia chúng ta, Thủ Tướng Anh Quốc trở về từ Đức Quốc với hiệp ước hòa bình trong danh dự. Tôi tin rằng đây là hòa bình trong thời chúng ta… Hãy về nhà và ngủ một giấc êm đềm. Tờ hiệp ước trong tay của TT Chamberlain là thỏa thuận giữa Anh & Đức có những lời như sau: Chúng tôi, Quốc trưởng của Đức và Thủ Tướng, đã có thêm buổi họp hôm nay và đồng ý xác nhận câu hỏi về quan hệ Anh-Đức là điều quan trọng hơn hết cho hai quốc gia chúng ta và cho cả Âu Châu. Chúng tôi xem thỏa thuận đã ký đêm qua và kế ước giữa Hải quân Anh-Đức như biểu tượng của nguyện ước của hai dân tộc rằng sẽ không bao giờ có chiến tranh với nhau… Chúng tôi quyết tâm tiếp tục nổ lực để loại bỏ những khác biệt (giữa 2 qg) và như vậy đóng góp và sự bảo đảm cho nền hòa bình Âu Châu "We, the German Führer and Chancellor, and the British Prime Minister, have had a further meeting today and are agreed in recognizing that the question of Anglo-German relations is of the first importance for our two countries and for Europe. We regard the agreement signed last night and the Anglo-German Naval Agreement as symbolic of the desire of our two peoples never to go to war with one another again… We are determined to continue our efforts to remove possible sources of difference, and thus to contribute to assure the peace of Europe."
TT Chamberlain không biết rằng Hitler không hề có ý định giữ hiệp ước này. Một năm sau đó, hắn chế diễu hiệp ước này chỉ như một tấm giấy vụn và tấn công xứ Ba-lan vào ngày 1/9/1939 và bắt đầu thế chiến thứ hai. Vào tháng 05, 1940 TT Chamberlain bị buộc phải từ chức và bầu ông Winston Churchill làm TT Anh Quốc vào ngày 13/05/1940. Khi nhậm chức, TT Churchill đọc một bài diễn văn trước Hạ Viện AQ chỉ trong vòng 5 phút, mà đến hôm nay các sử gia xem là một trong những bài diễn văn quan trọng và hay nhất bằng Anh ngữ, được gọi là Blood, Toil, Tears, and Sweat (Máu Huyết, Gian khổ, Nước mắt, và Mồ Hôi). Đây là những lời của TT Churchill trước Hạ viện: Tôi nói với Hạ Nghị Viện như tôi đã nói với những bộ trưởng trong nội các, tôi không có gì để dâng ngoại trừ máu huyết, gian khổ, nước mắt và mồ hôi. Trước mắt chúng ta là rất nhiều, rất nhiều những tháng dài gian khổ và mất mát. Chỉ có vài người vỗ tay; nhiều người trong đảng của ông phàn nàn. Nhưng đây là những lời hứa thật với đất nước. Lời hứa về hòa bình trong thời chúng ta (peace in our time) của TT Chamberlain chỉ là ảo tưởng.
Tuy vậy, con người thích nghe những lời hứa ngon ngọt dù là ảo tưởng hơn là những lời hứa thật tế. Khỏi nhìn đâu xa cứ nghe các ứng cử viên tổng thống cho năm tới 2020 thì biết được điều này. Một ứng viên tổng thống tuyên bố ông sẽ giải quyết nan đề trầm trọng nhất trong lịch sử nhân loại là biến đổi khí hậu toàn cầu. Các ứng viên khác hứa sẽ bảo đảm tất cả công dân HK có bảo hiểm sức khỏe miễn phí, học đại học miễn phí, bảo đảm công việc với mức lương cao… Hay như khi nghe một số người giảng trên TV rằng nếu có đức tin, nếu dâng hiến thì Chúa sẽ ban cho điều này, điều nọ. Khi nghe những lời hứa hẹn, bảm đảm này tôi nhớ đến lời dạy của S. Thà đừng khấn nguyện, hơn là khấn hứa mà không làm trọn. 6 Đừng để miệng con gây cho con phạm tội.
Câu 2: Đừng nhạy miệng, Và con cũng đừng hấp tấp, Thốt lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời; Vì Đức Chúa Trời ở trên trời, Còn con ở dưới đất; Vậy con hãy cân nhắc từng lời nói. Thật ra trong câu không có chữ lời thề nguyện như trong BDM, nhưng chỉ là lời suy nghĩ trong lòng, vội vã nói ra những điều suy nghĩ trong lòng. Đến câu 4 mới có từ khấn nguyện hay hứa nguyện, lời hứa. Trong 7 câu này, 3 lần S. dùng từ kẻ dại, kẻ ngu muội, ngu dại (BTT): 1) Kẻ ngu muội, kẻ dại là kẻ khi đến nhà Chúa không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm; 2) kẻ ngu muội là người khi đến nhà Chúa nói nhiều, nói hấp tấp; kẻ ngu dại là người khi đến nhà Chúa vội vã trong lời hứa nhưng lại không giữ lời hứa. Cũng chú ý câu 4: vì kẻ dại không làm vui lòng Ngài, tức là người phạm 3 điều trên
Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có bao lần là kẻ dại, người ngu muội, hoặc vì có lỗi, có tội mà không biết, không nghĩ rằng mình làm gì sai cả; hoặc nói nhiều, nói dai, nói vội; hoặc mau hứa nhưng không có ý làm theo hay sau đó thấy sự khó khăn, giá của lời hứa cao quá nên không giữ điều mình đã hứa. Tương phản với kẻ dại là người khôn. Người khôn là người khi đến nhà Chúa biết giữ tâm trí, lòng dạ để lắng nghe, là người biết lỗi, biết tội mình phạm, là người giữ lời nói, nói ít, nói lời ân hậu, xây dựng, là người suy nghĩ cẩn thận về giá của lời hứa nguyện, chứ không hấp tấp, hồ đồ; là người kính sợ ĐCT.
LỜI HỨA CHẮC CHẮN, KHÔNG THAY ĐỔI CỦA ĐCT
KT dạy chúng ta nên chậm nói, ít nói để có thể nghe! KT cũng dạy chúng ta nên chậm hứa để khỏi tự mắc bẫy do chính mình đặt cho mình như lời dạy trong CN: Kẻ hấp tấp khấn hứa, “Con xin biệt riêng vật nầy ra thánh.” Sau khi hứa rồi mới thấy là tự gài bẫy để bắt mình. (CN 20:25). Tôi muốn nói rõ điều này để không ai hiểu lầm: KT không dạy rằng chúng ta không hứa nguyện, cũng như không dạy đừng nên nói, hãy luôn im lặng vì im lặng là vàng, không hứa là khôn! Nhưng là chậm nói, suy nghĩ trước khi nói, nói để động viên, xây dựng, khích lệ, nâng đở, nói có lợi cho người nghe, chứ không chỉ để nghe tiếng mình, lý luận mình, hay để bày tỏ sự khôn ngoan, kiến thức mình. Cũng vậy chậm hứa, suy nghĩ trước khi hứa và khi đã hứa phải giữ trọn lời hứa.
Chẳng phải KTCU là tiên tri về chương trình cứu rỗi mà ĐCT đã hứa ban cho nhân loại qua ĐCJC hay sao? Câu chuyện về cuộc đời của Áp-ra-ham ghi lại trong STK chẳng phải là lời hứa của ĐCT qua một người trung tín mà hậu tự ông là dân tộc Do Thái sẽ được đông như sao trên trời, cát dưới biển, được nhận đất hứa đượm sữa và mật hay sao? Đoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy. 6 Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người. (STK 15:5-6) Và hơn hết chẳng phải từ hậu tự Ạ, từ dân DT sẽ sinh ra một Đấng Cứu Tinh cho cả nhân loại, là ĐCJC hay sao?
Trong một bài giảng tôi cũng đã giải thích về lời hứa đơn phương (một chiều, không điều kiện) của ĐCT cùng Ạ ghi lại trong STK 15. Thời đó lời hứa nguyện không phải chỉ dễ dàng bằng chữ ký, nhưng qua hình ảnh của một sinh vật bị cắt làm đôi nếu không giữ lời hứa. Người thề hứa là người sẽ đi ngang qua giữa hai phần của con vật. Có nghĩa là nếu tôi không giữ giao ước cũng sẽ bị cắt làm hai như các con vật bị cắt làm hai để mỗi bên đối với nhau. Thì chính thân thể tôi sẽ nằm trên đất như một xác chết vì đã không giữ lời giao ước. Xác tôi sẽ làm thức ăn cho chim trên trời, cho sâu bọ dưới đất, cho thú dữ ngoài đồng. Không một cách thề hứa nào tượng hình, rõ ràng và đáng sợ như cách thức này.
Trong thời đó khi một vị vua chinh phục các quốc gia và bắt họ sẽ làm nước chư hầu, như ngày xưa xứ VN chúng ta là nước chư hầu cho TQ, thì vị vua chiến thắng sẽ bắt các vua của những nước bại trận là người đi giữa các thú vật bị cắt làm hai. Để nói rằng nếu các ngươi không giữ lời thề làm nước chư hầu, nếu các ngươi nổi loạn thì chính thân thể của các ngươi cũng sẽ như những xác thú vật bị cắt làm hai này. Vậy người thua trận, người vai vế thấp kém hơn, hèn mọn hơn sẽ là người đi giữa các xác chết thú vật bị cắt làm đôi.
Nhưng một điều hết sức kinh ngạc, lạ lùng là chính ĐCT qua hình ảnh của lò lớn khói và ngọn lửa cháy phừng đi ngang qua các xác thịt đã mổ. BDM viết như sau: Khi mặt trời đã lặn hẳn và bóng tối phủ xuống, bỗng có một lò lửa bốc khói và một ngọn lửa cháy phừng đi qua giữa các sinh tế bị phân đôi. (15:17) Chúa hứa với A về hậu tự và về đất đai rồi chính Ngài lại đi ngang qua những sinh tế bị cắt làm hai. Lẽ ra chính A phải là người đi ngang qua các vật chết bị cắt đôi đó như các nước chư hầu đi qua trước sự chứng kiến của vua chiến thắng.
Hình ảnh ĐCT đi ngang qua các sinh tế cắt làm hai có nghĩa thế nào. Chính ĐCT hứa với A rằng chính Ta sẽ ban cho ngươi hậu tự, đất đai làm sản nghiệp nhưng nếu Ta không làm trọn lời hứa này thì chính Ta sẽ bị phân thây, sẽ bị chết, sẽ bị diệt. Khi ĐCT qua hình lò lửa bốc khói và ngọn lửa cháy phừng đi qua các sinh tế bị cắt làm hai thì không những Chúa nói Ta sẽ chịu chết nếu không giữ những lời này, nhưng quan trọng hơn là Ta sẽ chịu chết nếu ngươi, A và hậu tự ngươi không giữ tròn phần các ngươi. Nếu Ta không giữ lời hứa, Ta sẽ bị dứt bỏ. Nhưng nếu A và hậu tự, con cháu A không giữ tròn lời hứa, thì chính Ta cũng vì các ngươi mà bị dứt bỏ.
Nếu ĐCT không thể không giữ lời hứa và lời thề, thì ai là người bội bạc lời hứa và lời thề? Hậu tự của A, tôi và qv. Vài ngàn năm sau lời giao ước lạ thường này được ứng nghiệm: Ngôi Hai ĐCT là ĐCJC phải chịu chết vì hậu tự A không giữ tròn lời giao ước. Dù giá của lời hứa của ĐCT cùng Ạ rất đắt, đắt đến nỗi ngôi Hai là ĐCJC phải xuống thế gian, chịu chết đau đớn cho tội lỗi chúng ta, thì một khi đã hứa Chúa làm trọn lời hứa đó.
Hơn thế nữa PL viết thế này về lời hứa chúng ta có trong Đấng Christ: Vì Con Đức Chúa Trời, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng mà chúng tôi, tức là tôi, Sinh-vanh và Ti-mô-thê, đã truyền giảng cho anh chị em không phải là Đấng vừa "phải" vừa "không" nhưng trong Ngài chỉ toàn là "phải." 20 Vì bất luận bao nhiêu lời hứa của Đức Chúa Trời đều thành tựu trong Ngài và cũng bởi Ngài mà chúng ta nói"a-men" tôn vinh Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 1:19-20 – BDM)
Vì ĐCT là Đấng giữ lời hứa nên người tin và theo Ngài cũng phải là những người giữ lời hứa.
Giữ Lời Hứa
Giữ tâm trí, giữ lời nói, giữ tâm hồn khi vào nhà Chúa. Nhưng chúng ta còn phải giữ lời hứa nữa như Sô-lô-môn dạy, "khi khấn hứa sự gì với Đức Chúa Trời, chớ chậm mà hoàn nguyện". Niềm tin có giá trị gì nếu không có sự hứa nguyện. Trong việc buôn bán, hợp đồng, giao kèo, khế ước là thể hiện của lời cam kết, hứa hẹn giữa hai bên. Khi yêu nhau, nam nữ thề ước trèo non, lội suối để tìm nhau khi phải chia ly, xa cách, và hứa hẹn cùng nhau trong hôn nhân sẽ sống đời cho đến ngày răng long tóc bạc. Người tin Chúa có bổn phận và trách nhiệm chu toàn những lời hứa nguyện của mình với người và với Chúa.
Chú ý lời nhắc dạy của Sô-lô-môn về lời hứa. Đây là lời hứa tự nguyện chứ không phải vì cưỡng ép, bắt buộc, khi khấn hứa điều gì với Đức Chúa Trời... Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả. Dù là tự nguyện, nhưng một khi đã hứa nguyện thì phải "khá trả cho điều gì ngươi hứa". Nếu không giữ tròn sẽ có một hậu quả, "sao làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời nói và làm cho hư công việc của tay ngươi?"
KT có những câu chuyện về lời hứa nguyện ngu xuẩn, dại khờ. Sau-lơ là vua của xứ Do Thái. Khi đang chiến tranh cùng quân Phi-lít-tin thì vì sự căm giận, tức tối, vua Sau-lơ thề với Đức Chúa Trời rằng hễ người nào ăn uống trước chiều tối, trước khi vua thắng được giặc thì sẽ bị xử chết. Con vua là hoàng tử Giô-na-than đói nên ăn mật ong. Vậy đó mà vua đòi chém chết nếu triều thần không can gián. Một lời thề hứa dạy khờ đem lại một hậu quả khó lường (1 Sa-mu-ên 14).
Một câu chuyện khác kể về lời hứa hồ đồ, thiếu suy nghĩ của một nhân vật trong thời các quan xét tên Giép-thê. KT viết trước khi ra trận tranh chiến với quân thù, Giép-thê khẩn nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay tôi, khi tôi thắng chúng nó trở về, 31 hễ chi ở cửa nhà tôi đi ra đầu hết đặng đón rước tôi, thì nấy sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu. (QX 11:3-31). Khi thắng trận G. trở về nhà, qv nghĩ điều gì từ nhà đi ra đầu tiên đón ông? Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-ba; kìa, con gái người ra đón-rước người, có cầm trống nhỏ và nhảy múa. Nàng là con một của người, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác hơn. (11:34)
Vậy chớ hồ đồ khi chúng ta hứa nguyện với người và với Chúa. Lời của Mô-se dạy dân sự như sau: Nếu anh chị em hứa nguyện với CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em một điều gì thì đừng chậm trễ nhưng phải làm xong lời hứa nguyện mình, vì chắc chắn CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em sẽ đòi hỏi anh chị em thực hiện điều đã hứa nguyện, nếu không giữ lời hứa nguyện, anh chị em sẽ phải mang tội. 22 Nhưng nếu anh chị em tự kiềm hãm và không hứa nguyện thì không phải mang tội. 23 Bất kỳ điều gì anh chị em nói ra thì phải nhất quyết làm cho xong, vì chính miệng anh chị em đã tự hứa nguyện với CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em. (PT 23:21-23 – BDM)
Có người hỏi lời hứa và lời thề giống nhau hay khác nhau? Câu trả lời là cả hai. Giống nhau là cả hai lời hứa và lời thề chỉ có ý nghĩa khi chủ ý, tự nguyện, và bày tỏ lòng cam kết sẽ thực hiện một điều gì đó. Điều khác nhau là lời thề là một lời hứa nguyện về điều hệ trọng và được chứng giám bởi một người thứ ba hay một Đấng cao cả hơn mình. Cha mẹ hứa dẫn con đi sở thú, xem hát chứ không bao giờ thề cả. Nhưng khi nhậm các chức vụ quan trọng như tổng thống, thủ tướng, dân biểu, mọi người đều đặt tay lên KT mà hứa nguyện, có nghĩa là thề. Khi nam nữ lập gia đình, hai người không chỉ hứa nguyện với nhau nhưng còn với ĐCT nên có thể gọi lời hứa nguyện đó là lời thề.
Sách Hê-bơ-rơ giải thích như sau: Khi Đức Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham, và vì không thể chỉ Đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người rằng: 14 Chắc ta sẽ ban phước cho ngươi nhiều, và khiến hậu tự ngươi sanh sản đông thêm. 15 Ấy, Áp-ra-ham đã nhịn nhục đợi chờ như vậy, rồi mới được điều đã hứa. 16 Người ta thường mượn danh một Đấng lớn hơn mình mà thề, phàm có cãi lẫy điều gì, thì lấy lời thề mà định. 17 Đức Chúa Trời cũng vậy, muốn càng tỏ ra cho những kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi, thì dùng lời thề. (Hê 6:13-17)
Hai từ hứa và thề trong đoạn KT này khác nhau. Hứa là tuyên bố, cho biết sẽ làm việc gì đó; thề là hứa về một điều hết sức hệ trọng với sự chứng giám của một người thứ ba. Vì không thể chỉ Đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người.
Nếu ĐCT cũng đã hứa và thề cùng Ạ thì tại sao ĐCJC dạy chúng ta không nên thề: Các ngươi còn có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ thề dối, nhưng đối với Chúa, phải giữ vẹn lời thề mình. 34 Song ta phán cùng các ngươi rằng đừng thề chi hết: đừng chỉ trời mà thề, vì là ngôi của Đức Chúa Trời; 35 đừng chỉ đất mà thề, vì là bệ chân của Đức Chúa Trời; đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề, vì là thành của Vua lớn. 36 Lại cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì tự ngươi không thể làm cho một sợi tóc nên trắng hay là đen được. 37Song ngươi phải nói rằng: phải, phải; không, không. Còn điều người ta nói thêm đó, bởi nơi quỉ dữ mà ra. (Ma-thi-ơ 5:33-37)
Hay như Gia-cơ dạy: Hỡi Anh em, trước hết chớ có thề, chớ chỉ trời, chỉ đất, cũng chớ chỉ vật khác mà thề; nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, hầu cho khỏi bị xét đoán. (Gia-cơ 5:12)?
Lời của ĐCJC và Gia-cơ không phải cấm người tin Chúa không bao giờ được thề nhưng đừng vội thề thốt về bất cứ điều gì. Chính PL cũng đã có lời thề nguyện với ĐCT và bày tỏ qua việc cạo đầu: Phao-lô ở lại thành Cô-rinh-tô ít lâu nữa, rồi từ giã anh em, xuống thuyền đi với Bê-rít-sin và A-qui-la qua xứ Sy-ri, sau khi đã chịu cạo đầu tại thành Sen-cơ-rê, vì người có lời thề nguyện. (CV 18:18).
Hay như lời thề của thiên sứ trước ĐCT: Thiên sứ tôi thấy đang đứng trên biển và đất đưa tay phải lên trời, 6 nhân danh Đấng Hằng Sống đời đời, là Đấng sáng tạo bầu trời và mọi vật trên trời, đất và muôn vật trên đất, biển và mọi vật dưới biển, mà thề rằng: "Đã hết thời hạn rồi…” (KH 10:5-6 – BDM)
Không phải khi nhận lễ báp-tem chúng ta không chỉ hứa nguyện nhưng còn bày tỏ sự thề nguyện trước hội thánh là nhân chứng rằng từ này sẽ bước đi trọn đời với Chúa hay sao?
Lời ĐCJC và Gia-cơ dạy rằng chớ đụng việc gì cũng thề thốt bởi vì không phải việc gì cũng hệ trọng đến nỗi cần ĐCT hay một ai đó chứng giám. Người hay thề thốt về những việc không đáng là người thường muốn người mình hứa xem lời hứa đó là hệ trọng và chắc chắn. Nhưng nếu biết mình sẽ giữ lời thì cần gì phải thề? Chỉ bày tỏ lời hứa là đủ rồi. Vì vậy Chúa dạy: chớ thề, có nói có, không nói không.
Lời Chúa cũng nhắc chúng ta một điều vô cùng quan trọng: chớ coi thường lời hứa nguyện trước sự chứng giám của ĐCT, hay coi thường danh của Chúa. Và đây cũng là lời dạy của S. 2 Đừng nhạy miệng, Và con cũng đừng hấp tấp, Thốt lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời; Vì Đức Chúa Trời ở trên trời, Còn con ở dưới đất; Vậy con hãy cân nhắc từng lời nói. 3 Vì nhiều suy tư sinh ra mộng tưởng, Nhiều lời sinh ra dại khờ. 4 Khi con khấn nguyện với Đức Chúa Trời, hãy vội vã làm trọn điều khấn nguyện, vì kẻ dại không làm vui lòng Ngài. Hãy làm trọn điều con khấn nguyện. 5 Thà đừng khấn nguyện, hơn là khấn hứa mà không làm trọn. 6 Đừng để miệng con gây cho con phạm tội. Đừng nói với thầy tế lễ "Tôi lầm lỡ khấn nguyện." Sao con làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời khấn nguyện của con đến nỗi Ngài hủy diệt công trình tay con làm? 7 Ở đâu có nhiều mộng mị, đó có nhiều điều hư không, và nhiều lời. Phần con, phải kính sợ Đức Chúa Trời.
Khi vào nhà Chúa chúng ta nhớ giữ tâm trí để ý thức rõ rằng đây là nơi thiêng liêng, nơi thờ phượng Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng cần giữ gìn lời nói, đừng nghĩ rằng nhiều lời mà đẹp lòng Chúa. Trái lại, nói ít nghe nhiều. Dọn giữ tâm hồn để nghe tiếng phán dạy, tiếng an ủi động viên của Chúa. Và chúng ta cũng cần giữ trọn lời hứa nguyện với người và với Chúa chúng ta. Ba điều này sẽ giúp chúng ta thật sự thờ phượng thông công, học hỏi, và được động viên khi chúng ta vào nhà của Chúa.
