Khi Được Chúa Hồi Phục
Câu chuyện xảy ra trên bờ biển Ti-bê-ri-át, còn gọi là biển Ga-li-lê (Lu-ca 5 gọi là hồ Ghê-nê-xa-rét) vào một buổi sáng sớm. Câu 2 cho biết cùng với Si-môn Phi-e-rơ còn có ít nhất 6 sứ đồ khác: Thô-ma gọi là Đi-đim, Na-tha-na-ên nguyên ở thành Ca-na trong xứ Ga-li-lê, hai con trai của Xê-bê-đê và hai người môn đồ khác nữa không tên. Vùng biển Ga-li-lê này cũng chính là nơi ĐCJC đầu tiên gặp họ và sau đó gọi họ theo Ngài.
Khi đọc câu chuyện này chúng ta thấy dù Chúa hiện ra cho cả 7 sứ đồ nhưng lời đối thoại chính là giữa Chúa và P. Lý do là bởi vì hơn ai hết trong số 7 sứ đồ đó, P. là người đã phạm tội nặng hơn hết, P. cần được tha thứ và hồi phục hơn hết. KT viết trong đêm cuối với Chúa, P. hết sức tự tin vào sự can đảm, trung tín cho đến cuối của ông. Đến nỗi P. tuyên bố rằng Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu (Ma-thi-ơ 26:33-35). Không chỉ P. nhưng hết thảy môn đồ đều nói y như vậy.
Nhưng đến khi hoàn cảnh thay đổi, áp lực đè nặng, con người thật sự với bản tính hèn nhát của P. và các môn đồ lộ ra. P. chối Chúa 3 lần và tất cả các môn đồ bỏ chạy. Chối Chúa là một tội nặng vì theo chính lời dạy của ĐCJC: Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên trời; còn ai chối ta trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời. (Ma-thi-ơ 10:32-33)
Tất cả đều hết sức tự tin vào tấm lòng thủy chung, vào đức tin, sự can đảm của họ với Chúa. Nhưng đúng như lời Chúa đã tiên đoán, tất cả đều bỏ Chúa. Có khác chăng P., người khẳng định ai bỏ Chúa nhưng ông không bao giờ làm điều này, lại chính là người chối ĐCJC 3 lần. Tôi nghĩ lòng của P. sầu muộn, hổ thẹn, nhục nhả đến chừng nào khi nghe tiếng gà gáy. KT viết P. khóc lóc đắng cay.
Trong suốt thời gian từ khi đêm P. chối Chúa 3 lần cho đến buổi sáng Chúa hiện ra trên bải biển Ga-li-lê, lòng của P. vẫn còn đau xót, hổ thẹn, buồn phiền về tội đã phạm cùng Chúa. Có lẽ vì vậy mà P. quyết định trở về nghề cũ, đi đánh cá. Chính P. là người tuyên bố với các sứ đồ: Tôi đi đánh cá! Đi đánh cá để quên đi nỗi đau, để hy vọng trở lại một đời sống bình thường như trước khi gặp Chúa.
3 năm trước, một ngày khi họ đang chuẩn bị xuống thuyền đánh cá tại vùng biển Ga-li-lên này, thì ĐCJC gọi họ hãy theo Chúa để đánh lưới người (Lu-ca 5:10). Làm thế nào P. và các sứ đồ có thể đánh lưới người khi họ đã phạm tội nặng cùng chính thầy mình? Ngoại trừ khi Chúa tha thứ và hồi phục. Ngoại trừ khi Chúa ban cho một cơ hội mới để có thể tiếp tục phục vụ. Bây giờ chúng ta hiểu lời của thiên sứ phán bảo cùng những người phụ nữ rằng hãy đi nói cho các môn đồ Ngài và cho Phi-e-rơ rằng Ngài đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi; các ngươi sẽ thấy Ngài tại đó (Mác 16:7) sau khi Chúa sống lại.
Trong số 7 sứ đồ hiện diện trên biển G. sáng hôm Chúa hiện ra, là 2 anh em, con trai Xê-bê-đê là Giăng, người viết lại câu chuyện này và anh là Gia-cơ. Giăng là môn đồ trẻ tuổi nhất, người rất gần gũi và được ĐCJC yêu hơn hết. ĐCJC đặt cho anh em Giăng & Gia-cơ một biệt danh là Bô-a-nẹt hay con của sấm sét. Từ bô-a-nẹt có nghĩa là rối loạn, lộn xộn, đúng như từ con của sấm sét, là đi đến đâu chắc có rối loạn, có lộn xộn, có xung đột đến đó. Thật vậy chính 2 anh em này là người nói với Chúa Chúa có muốn chúng con khiến lửa từ trời trút xuống thiêu hủy họ [người Sa-ma-ri không tiếp rước ĐCJC khi Chúa trên đường đến Giê-ru-sa-lem] không?(Lu-ca 9:54). Đến nỗi Chúa phải quở trách họ! Họ không chỉ tự cao vì nghĩ rằng chính họ có thể khiến cho lửa từ trời trút xuống, mà nhẫn tâm tàn sát cả một thành chỉ vì không tiếp rước ĐCJC! Họ thay mặt ĐCT mà phán xét như ĐCT đã phán xét Sô-đôm & Gô-me-ra ngày xưa!
Sau gần 3 năm dài theo Chúa, cũng chính 2 anh em này là người hỏi xin ĐCJC (mẹ họ hỏi xin Chúa) cho người ngồi bên hữu, người bên tả Chúa khi Ngài vào nước Thiên Đàng uy quyền, làm cho các sứ đồ khác phải tức giận và cải cọ với nhau. Khó cho chúng ta có thể bảo đây là 2 người thật sự thay đổi!
Ít nhất 2 lần cả 12 sứ đồ tranh cải với nhau xem ai là người lớn hơn hết. Một lần sau khi Chúa nói với họ rằng Ngài sẽ bị bắt, nộp vào tay người ta rồi đóng đinh đến chết. Thay vì thảo luận với nhau ý nghĩa của lời này, họ lại tranh cải với nhau xem ai là người lớn hơn hết (Mác 9:31-34, Ma-thi-ơ 18:1, Lu-ca 9:46). Lần thứ hai còn tệ hơn nữa. Sau buổi ăn cuối cùng với ĐCJC trên phòng cao, sau khi Chúa nói với họ rằng đây là buổi ăn cuối cùng với họ thì họ lại tranh cải với nhau xem ai là người lớn hơn hết: Các môn đồ lại tranh biện với nhau xem ai trong họ sẽ là người lớn hơn hết. (Lu-ca 22:24)
Qv nhớ rằng trước bửa ăn không lâu trước đó, để dạy họ về sự khiêm nhường Chúa làm gương rửa chân cho họ và dạy thế này: Các vua của các dân ngoại lấy phép riêng mình mà cai trị, những người cầm quyền cai trị được xưng là người làm ơn. 26 Về phần các ngươi, đừng làm như vậy; song ai lớn hơn trong các ngươi phải như kẻ rất nhỏ, và ai cai trị phải như kẻ hầu việc. 27 Vì một người ngồi ăn với một người hầu việc, ai là lớn hơn? Có phải là kẻ ngồi ăn không? Nhưng ta ở giữa các ngươi như kẻ hầu việc vậy. (Lu-ca 22:25-27). Chỉ một, hai tiếng sau họ đã quên những lời dạy này và tranh cải xem ai lớn hơn hết!
Rõ ràng ngay đến đêm cuối cùng với ĐCJC 12 sứ đồ vẫn còn là những con người xác thịt, tham danh vọng, quyền chức. Dù sau 3 năm dài theo Chúa, nghe lời Chúa dạy, chứng kiến phép lạ Chúa làm, đời sống của các môn đồ cũng chưa hoàn toàn thay đổi. 3 năm! Rồi khi ĐCJC bị bắt, chính những người cả quyết sẽ không bao giờ bỏ Chúa lại chối Ngài và bỏ chạy trốn.
Hai khuynh hướng, suy nghĩ khi đọc những câu chuyện trong KT về các nhân vật yếu đuối, sa ngã, phạm tội: chê trách, lên án, buộc tội người phạm tội hay ý thức rằng chính bản thân tôi cũng có sự yếu đuối, sa ngã, phạm tội đó của họ.
Khi đọc câu chuyện Lót chọn cho ông cánh đồng màu mỡ như vườn Ê-đen dù vùng đất đó gần hai thành Sô-đôm & Gô-mê-ra, qv chê trách Lót sao quá tham lam hay dừng lại để tự hỏi rằng nếu tôi có sự lựa chọn như Lót tôi có chọn như vậy hay không?
Đọc về Sam-sôn qv chê trách S. sao tham mê sắc dục, nhưng có bao giờ dừng lại tự hỏi có thể nào tôi cũng có phần giống như Sam-sôn hay không? Hay khi đọc về Giếp-thê một nhân vật trong sách Các Quan Xét 11, qv trách ông sao hồ đồ mau thề thốt rằng nếu ĐCT giúp ông thắng giặc Phi-lít-tin, bất cứ người hay vật nào từ cửa nhà con ra đón rước con, thì người hay vật ấy sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va, và con sẽ dâng làm tế lễ thiêu. (QX 11:31). Nhưng quên rằng KT chủ ý cho chúng ta biết ông là con của một phụ nữ bán thân và khi lớn lên bị những anh em cùng cha khác mẹ đuổi ra khỏi nhà.
Hay khi đọc về chuyện Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần dù sau khi thề thốt rằng dù mọi người bỏ Chúa ông sẽ không bao giờ bỏ Ngài, qv chê trách ông sao yếu đức tin hay đồng cảm với sự yếu đuối, sa ngã, phạm tội của Phi-e-rơ.
Một điều rất cảm động khi đọc trong 4 sách PA về ĐCJC: Dù Ngài không hề phạm tội, nhưng Chúa luôn gần gũi, cảm thông, nhân từ, mềm mại, thương xót và tha thứ cho những kẻ phạm tội. Nhưng Chúa lại lên án nặng nề những kẻ tưởng mình là công chính, như những người Pha-ri-si.
Khi P. nói tôi đi đánh cá có lẽ ông muốn quên đi chuyện cũ vẫn còn ám ảnh, in sâu trong trí ức, con tim. Mà ai lại không cố để quên đi lỗi lầm như P.? Mặc cảm tội lỗi, sự hối hận dày vò không được tha thứ là một liều thuốc độc chậm tác dụng, giết người cách dần dà, đau đớn. Mỗi khi nhớ đến, nghĩ đến chuyện xưa thì lòng cảm thấy như ai lấy dao nhọn đâm vào. Một số qv đây chắc cũng như tôi kinh nghiệm được nỗi đau đáng ghê sợ này. Có lúc người trong cuộc nghĩ, thà chết còn hơn phải sống trong sự hối hận, tủi nhục, buồn phiền này!
Nếu ĐCJC không tha thứ cho P. buổi sáng hôm đó, có lẽ cả đời P. vẫn còn sống trong mặc cảm tội lỗi, vẫn còn ray rứt vì tội lớn đã phạm. Cám ơn Chúa vì chính Ngài đã đến với P., đến với các sứ đồ trên bải biển Ga-li-lê buổi sáng hôm đó để nói lời tha thứ, yêu thương, để hồi phục lại hy vọng, niềm vui, mục đích cho cuộc đời của P. và 6 sứ đồ khác.
Sự tha thứ là một ơn phước vô cùng to lớn mà chỉ có những người được tha thứ mới hiểu hết được giá trị. PL viết về vua Đa-vít ghi nhận ơn phước lớn lao đó. Bởi vì chính Đa-vít cũng đã phạm tội tà dâm và giết chồng cướp vợ người và đã được ĐCT tha thứ. Chính PL cũng như Đa-vít là người tay dính máu người vô tội được Chúa tha thứ: Ngay vua Đa-vít cũng nói như vậy về phước hạnh của người mà Đức Chúa Trời kể là công chính không bởi việc làm: 7 "Phước cho người được tha vi phạm, được khỏa lấp tội lỗi; 8 Phước cho những ai mà Chúa sẽ chẳng bắt tội." (Rô-ma 4:6-7 – BDM)
Truyền thống lịch sử HT cho biết Mác là người con trong Chúa trung tín và gần gũi với sứ đồ P. PA theo Mác là theo lời của P. kể cho Mác viết lại. Tôi tin P. chọn Mác, gần gủi người trẻ tuổi này như PL với Ti-mô-thê là bởi vì P. cảm thông cho lỗi lầm của Giăng Mác đã bỏ cuộc giữa đường trong chuyến truyền giáo thứ nhất.
Tất cả 7 sứ đồ hiện diện tại vùng biển Ga-li-lê, cùng đi đánh cá buổi sáng khi ĐCJC hiện ra cùng họ đều có những lầm lỗi, ân hận về lời nói, hành động trong thời gian theo Chúa. Tất cả đều bỏ Chúa mà chạy trốn. P. không chỉ bỏ chạy trốn mà còn chối Chúa 3 lần. Mỗi người, mọi người yêu mến ĐCJC, vì đã phạm tội và được tha thứ, đúng như lời Chúa dạy: Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đàn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít. (Lu-ca 7:47)
THA THỨ & HỒI PHỤC
Câu hỏi là làm thế nào để được tha thứ? Để được tha thứ, đầu tiên phải ăn năn. P. chối Chúa 3 lần, Chúa hỏi P. 3 lần. Để P. nhớ lại tội, để ăn năn, thú nhận tội đã phạm.
Khi làm chứng cho một người về tin lành, về Chúa Giê-xu, thường chúng ta nói về sự tha tội, nói về tình yêu thương, về ơn phước Chúa ban cho người tin nhận Ngài. Không có gì sai cả. Nhưng làm sao có sự tha tội, nếu một người không tin rằng họ phạm tội cùng ĐCT và thật lòng ăn năn tội.
Không ăn năn, thú nhận tội thì không có sự tha thứ.
Trong xã hội ngày nay mọi lỗi lầm, mọi tội ác đều có thể đổ thừa vào hoàn cảnh, môi trường, hay đổ thừa cho gia đình, cho người chung quanh hay cho những bất công trong xã hội. Nói cách khác người phạm tội, phạm lỗi cho mình là một nạn nhân. Vì là nạn nhân nên họ phạm tội. Vâng tôi làm sai, nhưng tôi làm sai bởi vì gia đình, cha mẹ, anh em tôi đã khiến tôi làm sai. Tôi làm sai bởi vì môi trường, vì hoàn cảnh khi tôi lớn lên khiến tôi làm sai. Tôi làm sai là bởi vì họ là nạn nhân của môi trường, của hoàn cảnh, của gia đình, của xã hội.
Ăn năn là khi một người xác nhận rằng vâng cho dù tôi đã bị đối xử nghiệt ngã, nhưng tôi nhận trách nhiệm cho chính lời nói, chính hành động, chính thái độ sai quấy của tôi với người quanh tôi, với lời dạy của Chúa trong KT. Ăn năn là khi một người chấm dứt việc đổ lỗi cho hoàn cảnh, môi trường, gia đình, cha mẹ, hội thánh về quyết định, lựa chọn, hành động, lời nói của mình. Khi họ không còn tội nghiệp, thương hại cho mình vì là nạn nhân, nhưng nghĩ đến những nạn nhân, hậu quả tai hại thật sự do chính họ gây ra.
Tôi không đi nhà thờ là bởi vì chính tôi quyết định và chọn lựa, chứ không phải vì người này, người nọ. Tôi cay đắng, buồn giận là bởi vì chính tôi quyết định và chọn lựa, chứ không phải vì người này, người nọ.
Tội lỗi cũng như ung bứu cần phải được lấy ra khỏi cơ thể. Chúng ta không thể chỉ đồng ý với bác sĩ giải phẩu là tôi cần được chửa nhưng rồi làm thinh, làm ngơ không giải phẩu để lấy ung bứu ra khỏi cơ thể. Cũng vậy ăn năn thật sự sẽ đưa đến quyết định, hành động cụ thể.
P. chối Chúa 3 lần, Chúa hỏi P. 3 lần để ông nhớ rõ về tội lỗi đã phạm. Có thể tổn thương tự ái, danh dự nhưng là điều cần thiết để ăn năn, thú tội. KT viết đến lần thứ 3 P. buồn rầu (tự ái tổn thương – BD2011). Từ buồn đây nói lên một tâm trạng vô cùng đau khổ, xót xa, như ĐCJC buồn phiền cho đến chết khi cầu nguyện trong vường Ghết-xê-ma-nê.
Ăn năn thật sự là khi chúng ta ý thức rõ về hậu quả của tội lỗi mình gây ra cho người chung quanh, cho gia đình, hội thánh. Hễ hậu quả càng trầm trọng, thì nỗi buồn càng sâu đậm, nặng nề, dai dẳng. Nhưng mục đích của Chúa khi hỏi P. không phải để làm cho ông xấu hổ, buồn tủi nhưng giúp ông ăn năn và thay đổi.
KT viết về 2 nỗi buồn phiền. Trong 2 Cô-rinh-tô 7:8-11, PL viết: Tôi không còn hối tiếc vì bức thư của tôi đã làm anh chị em buồn rầu, dù lúc ấy tôi đã hối tiếc, vì tôi biết bức thư ấy chỉ làm anh chị em buồn rầu ít lâu thôi. 9 Nay tôi vui mừng, không phải mừng vì đã làm anh chị em buồn nhưng vì sự buồn rầu ấy đã giúp anh chị em hối cải. Vì anh chị em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, như thế chúng tôi đã không làm hại gì cho anh chị em. 10 Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời đem lại hối cải để được cứu rỗi, đó là điều không cần hối tiếc. Nhưng sự buồn rầu theo thế gian đem lại sự chết. 11 Vậy, anh chị em hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời đã sinh ra trong anh chị em tấm lòng tha thiết là dường nào. Lại thêm sự cố gắng thanh minh, ân hận, sợ sệt, mong đợi, nhiệt thành, trách phạt. (BDM)
PL giải thích có một loại buồn rầu khiến cho người ta ăn năn, hối cải và thay đổi. Đó là sự buồn rầu theo ý ĐCT. PL cũng tương phản với sự buồn rầu theo thế gian đem lại sự chết (v10). Hai sự buồn rầu này khác nhau thế nào?
Trước hết sự buồn rầu của P. khi 3 lần nghe câu hỏi của ĐCJC là sự buồn rầu theo ý ĐCT đem lại sự ăn năn, hối cải, thay đổi. Sự buồn rầu của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là sự buồn rầu theo thế gian đem lại sự chết. Rất nhiều người than khóc về tội của mình. Nhưng dường như hễ họ càng than khóc, họ càng cảm thấy tội lỗi, xấu hổ, mặc cảm, càng muốn xa lánh mọi người. Càng khiến cho họ ghét mình, ghét người, không muốn nghe lời Chúa dạy vì càng nghe càng khiến họ mặc cảm, tội lỗi, chán nản. Đây là nỗi buồn rầu theo thế gian sinh ra sự chết. Vì ngày nó càng đẩy người ta xa Chúa, xa hội thánh, xa lời KT.
Trái lại sự buồn rầu theo ý Chúa để đem chúng ta càng gần ĐCT vì ý thức rằng chỉ có Chúa mới có quyền năng để giúp tôi từ bỏ những tội lỗi này, và giúp tôi thay đổi. Đem chúng ta càng gần hơn HT anh chị em trong HT để nhận sự yên ủi, khích lệ, nâng đở, giúp đở.
Sự khác biệt là gì? Một bên khóc vì xấu hổ cho chính mình, vì hậu quả tôi phải gánh; một bên khóc vì đã làm đau lòng Đấng đã yêu thương, cứu chuộc tôi. Một mục sư giải thích thế này: Người đạo đức đem tội của họ đến núi Si-nai và khóc vì sự trừng phạt kinh khiếp sẽ xảy đến. Người Cơ Đốc đem tội của họ đến chân thập giá và khóc vì đã bội ơn cứu chuộc của Chúa họ. Họ nhìn thấy vì tội của họ mà Chúa chịu thương khó, không chỉ nghĩ về mình.
Người đạo đức ăn năn vì sợ bị ĐCT từ bỏ, sợ bị người đời chê khinh, xa lánh. Người Cơ Đốc ăn năn vì họ đã được ĐCJC nhận làm con cái ĐCT, vì đã được nhận vào gia đình HT nhưng chính tội họ đã cắt đứt mối dây quan hệ đó. Tôi đã được Chúa yêu thương, tha thứ, tôi đã được anh chị em trong gia đình Chúa yêu thương, tín cẩn nhưng bởi tội đã phạm mà phản bội tình yêu thương, lòng tin tưởng đó.
Qv có nhớ lần đầu tiên P. thú nhận cùng ĐCJC ông là người có tội khi nào hay không? Lu-ca 5:1-10 ghi lại ĐCJC ngồi trong thuyền đánh cá của Si-môn P. Rồi Chúa Giê-xu, một người thợ mộc làng Na-xa-rét bảo Si-môn, một người đánh cá chuyên nghiệp vùng biển Ga-li-lê hãy chèo ra ngoài sau, thả lưới mà đánh cá. Dĩ nhiên P. không tin lời Chúa. Dù vậy vẫn làm theo. Khi Si-môn làm theo lời Chúa, họ bắt được rất nhiều cá đến nỗi đứt lưới.
KT viết: Si-môn Phi-e-rơ thấy vậy, liền sấp mình xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin ra khỏi tôi, vì tôi là người có tội. 9 Số là, vì đánh cá dường ấy, nên Si-môn cùng mọi người ở với mình đều thất kinh; Gia-cơ và Giăng con Xê-bê-đê, là những kẻ đồng bạn với Si-môn cũng đồng một thể ấy. (Lu-ca 5:8-9) Chú ý P. thú nhận là người có tội. Tội gì? Tội không tin hay nghi ngờ lời Chúa. Nhưng lại xin Chúa xa khỏi ông. Chẳng phải đây là phản ứng tự nhiên của người đạo đức hay sao? Khi phạm tội thì càng tránh xa Chúa.
Nhưng trong Giăng 21, khi P. đã biết người đứng trên bờ biển gọi thả lưới nơi sâu để đánh cá, y như Chúa đã làm lần đầu gặp P. thì ông làm gì? Thay vì chạy xa khỏi Chúa, P. nhảy ngay xuống nước và lội vào bờ để gặp Chúa. Một ăn năn khiến P. muốn Chúa xa ông. Một ăn năn khiến P. muốn Chúa gần ông. Chính lần thứ hai, lần ăn năn trong Giăng 21 mới thật sự thay đổi cuộc đời của P.
Tôi không biết bao nhiêu người trong qv đây là P. trong Lu-ca 5, bao nhiêu là P. trong Giăng 21? Nếu qv muốn Chúa xa mình vì tội đã phạm thì qv chưa thật kinh nghiệm được tình yêu thương và sự tha thứ của Chúa trong đời sống. Sự ăn năn đó sẽ dẫn đến sự chết, đó là sự ăn năn theo đời này.
Nếu qv biết mình có tội nhưng cũng ý thức rằng chính vì lý do này mà tôi cần Chúa hơn bao giờ hết. Tôi biết rằng tôi không thể tự mình thay đổi, tôi cần ĐTL chỉ sửa, răn dạy để tôi thay đổi. Đó là sự ăn năn theo ý Chúa dẫn đến sự sống và thay đổi.
P. không tránh xa Chúa dù xấu hổ, đau khổ vì tội lớn đã phạm. Trái lại ông đến với Chúa. Chấp nhận 3 câu hỏi như lưởi dao bén của một bác sĩ giải phẩu đại tài để lấy đi cái khối ung bứa độc hại. Khối ung bứu đó là gì? P. quá tự tin vào sức lực, vào khả năng mình; P. so sánh mình với anh em ông.
1. Phierơ so sánh tình yêu thương của ông đối với Chúa, so sánh sự chung thủy của ông đối với Chúa cùng các môn đồ khác: Dầu mọi người vấp phạm. Đừng bao giờ so sánh tình yêu, lòng chung thủy của mình với Chúa cùng những người khác.
2. Phierơ cả quyết rằng ông sẽ không bao giờ vấp phạm: song tôi chắc không bao giờ vấp phạm. Phao-lô nhắc dạy: Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã. (1 Corinthians 10:12). Đừng bao giờ cả quyết rằng dầu ai ngã tôi vẫn sẽ luôn đứng vững.
Khối ung bứu của P. và các sứ đồ là họ nghĩ họ yêu mến Chúa nhưng chỉ khi đối diện với nan đề khi Chúa bị bắt, họ mới biết rõ rằng họ yêu mạng sống, tên tuổi, danh dự của họ hơn yêu Chúa. Đây là lý do mà câu hỏi đầu tiên của ĐCJC cùng P. cũng là câu hỏi cho mọi sứ đồ, cho mỗi chúng ta: ngươi có yêu ta hơn những điều này không? Những điều này là gì? Chúa để P. và mỗi người tự suy nghĩ về những điều họ yêu hơn là yêu Chúa.
BH: Trước khi được hồi phục chúng ta cần nhớ lại lỗi lầm mình đã phạm để ăn năn. Sự tha thứ khác sự hồi phục. Chúng ta có thể tha thứ cho một người phạm lỗi, phạm tội cùng mình dù người đó không hề xin lỗi. Nhưng người có lỗi không thể được hồi phục lại quan hệ, hồi phục lại tình thân, hồi phục lại chức vụ, trách nhiệm, công việc nếu không đến nhận lỗi và xin được tha thứ.
NGƯƠI CÓ YÊU TA CHĂNG?
Khi ĐCJC hỏi Phierơ các môn đồ khác đều có mặt và đều nghe cả.
Khi ăn rồi, Đức Chúa Jêsus phán cùng Si-môn Phi-e-rơ rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn những chiên con ta. 16 Ngài lại phán lần thứ hai cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn chiên ta. 17 Ngài phán cùng người đến lần thứ ba rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng? Phi-e-rơ buồn rầu vì Ngài phán cùng mình đến ba lần: Ngươi yêu ta chăng: Người bèn thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc; Chúa biết rằng tôi yêu Chúa! Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn chiên ta. (Giăng 21:15-17)
Chú ý Chúa gọi Phierơ với tên cũ, tên ông lớn lên, tên mà hàng xóm láng giềng, tên mà mọi người trong gia đình đều biết: Si-môn, con Giô-na. Chính ĐCJC là người ban cho ông tên mới Phierơ khi Anh-rê đem ông đến với Chúa: Ngài vừa ngó thấy Si-môn, liền phán rằng: Ngươi là Si-môn, con của Giô-na; ngươi sẽ được gọi là Sê-pha (nghĩa là Phi-e-rơ) (Giăng 1:42) Tôi nghĩ Chúa muốn nhắc ông nhớ rằng chính trong sức của con người cũ, con người tự hào khi so sánh mình với người khác, trong sức của Si-môn, con Giô-na mà ông đã hứa hẹn cùng Chúa trước mọi người. Và cũng chính trong con người đó ông đã chối Chúa.
Các bản dịch VN đều dịch câu hỏi của Chúa cùng Phierơ: ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng? Câu này trong tiếng nguyên thủy chỉ là ngươi yêu ta hơn là những điều này chăng? Điều này là gì? Ba giả thuyết: 1) Yêu Ta hơn những kẻ này; 2) Yêu Ta hơn nghề đánh cá, hơn thuyền lưới để kiếm sống, hơn cuộc đời trước khi gặp Ta; 3) Yêu Ta hơn những người này yêu Ta.
Câu trả lời là ngươi yêu ta hơn những kẻ này yêu ta chăng? ĐCJC nhắc lại cho Phierơ về tội lỗi ông đã phạm chính vì sự so sánh với anh em trong Chúa. Chú ý câu trả lời của Phierơ: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Ông không còn nói Chúa biết tôi yêu Chúa hơn mọi người! Ông cũng không còn khẳng định rằng ông yêu Chúa hơn mọi điều khác trong cuộc sống. Ông chỉ biết rằng ông yêu Chúa nhưng nhiều bao nhiêu, thủy chung bao nhiêu, bền vững bao nhiêu, sâu đậm bao nhiêu ông cũng chưa dám khẳng định. Ba lần Chúa hỏi, ba lần ông đều không so sánh, chỉ trả lời Chúa biết con yêu Ngài. Đến giờ Simôn mới trả lời đúng.
Chúa hồi phục Phierơ khi giao phó cho ông chức vụ chăn bầy: chăn bầy chiên Chúa giao phó. Chúa gọi người đánh cá để chăn chiên! Dưới mắt con người thật là một điều nghịch lý. Điều này để không ai có thể khoe mình vì do tài năng, kiến thức, kinh nghiệm của tôi mà công việc Chúa có kết quả. Để cho thấy rằng kết quả là bởi Chúa, từ Chúa.
Là người đánh cá Phierơ biết gì về chăn chiên? Ông có thể có những lý do để tránh trách nhiệm này:
Chúa biết con đã chối Ngài, con yếu đuối, không đủ nghị lực khi gặp thử thách, cám dỗ, xin chọn người khác
Chúa biết con tội nặng. Làm sao con xứng đáng mà chăn bầy chiên Chúa giao phó. Khi nhìn con làm sao họ có thể nghe vì biết rằng con đã chối Ngài
Con làm nghề đánh cá, con hoàn toàn không biết gì về việc chăn chiên cả. Khi Chúa gọi Ngài bảo con sẽ nên tay đánh lưới người (truyền giảng) sao giờ Chúa lại bảo con chăn bầy chiên (chăm sóc)?
Công việc Chúa giao phó không phải rõ ràng ngay lập tức. Chúng ta thường muốn được giải thích tận tường, biết rõ ràng mọi điều kiên trước khi nhận việc, nhưng công việc Chúa thường không như vậy. Khi vâng phục, Chúa sẽ chỉ dạy. Vâng phục trước, khả năng sẽ đến sau.
Cơ hội mới là cơ hội được Chúa tha thứ, được hồi phục. Cơ hội mới với Phierơ là cơ hội để ông xác nhận lại niềm tin của chính ông (không phải so sánh với ai cả) vào Chúa. Cơ hội mới cũng đòi hỏi đức tin để nhận trách nhiệm phục vụ dù chưa biết rõ sẽ ra sao. Cơ hội mới cũng là cơ hội để đặt tay mình trong tay Chúa và xin Ngài dẫn dắt trong mỗi bước đường phục vụ.
Đừng so sánh: Khi thấy người ấy, Phi-e-rơ hỏi Đức Chúa Jêsus: “Thưa Chúa, còn người nầy thì sao?” 22Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta muốn người ấy cứ ở lại cho tới lúc Ta đến thì can hệ gì đến con? Phần con, hãy theo Ta.” (Giăng 21:21-22 – BHĐ)
Tình yêu thương là động cơ chính yếu thúc đẩy chúng ta vâng giữ lời Chúa, vui lòng mà phục vụ, dâng hiến. Nếu không bởi tình yêu thương thì đời sống tin kính Chúa, thì việc phục vụ, dâng hiến trở nên một gắng nặng. Chính vì nếm được sự ngọt ngào của tình yêu thương ĐCJC cho ông mà PL viết: Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình. (2 Cô-rinh-tô 5:14-15). Cũng vì lý do này mà PL cầu xin Chúa cho các tín đồ HT Ê đâm rễ vững nền trong sự yêu thương của Đấng Christ và hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, 19 và được biết sự yêu thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông biết (Ê-phê-sô 3:18-19)
Nhạc sĩ Trần Thượng Trí đã dùng câu hỏi của ĐCJC cùng P. Si-môn P. ngươi có yêu Ta chăng? làm cảm hứng sáng tác bài thánh ca Yêu Ta Chăng? Yêu Ta chăng, ngươi yêu Ta chăng, hỡi môn đồ của Ta. Vâng con yêu Cha, con yêu Chúa thiết tha. Dù đường đi bao chông gai thì lòng con vẫn không phai. Chẳng chi dời lòng con yêu Ngài, hiến dâng cả cuộc đời con cho Ngài.
Trong bài hát, câu hỏi không còn chỉ cho P. nhưng cho các môn đồ Chúa, qv và tôi. Chúng ta cần nhớ rằng ông đã viết những lời này sau khi đã bước đi thủy chung với Chúa trong những chặng đường gian khổ trong đời. Còn chúng ta chỉ có thể bày tỏ lòng ước nguyện, mong mỏi sẽ chung thủy với Chúa cho đến cuối cùng.
