Hy Vọng Cho Người Được Cứu – Giăng 8:1-9
Tại sao Giáng Sinh MS lại giảng về mục đích đời sống, hy vọng cho người được cứu, cho người tìm chân lý, tìm sự bình an, và tìm tương lai tươi mới? Câu trả lời rất đơn giản: Bởi vì đây là lý do Ngôi Hai ĐCT là ĐCJC hạ sinh làm người. Ngài giáng thế làm con người bần hàn để làm gì? Để đem đến sự cứu rỗi cho nhân loại qua sự chịu chết trên thập tự giá cho tội của con người. Để đem đến chân lý về ĐCT, về nước Trời. Để đem đến ý nghĩa, mục đích đáng sống cho những ai tin và theo Ngài. Để đem lại sự bình an cho tâm hồn và ban cho người tin Ngài một tương lai tốt đẹp không chỉ cho cuộc sống đời này mà cho cả cuộc đời sau vĩnh viễn trên thiên đàng.
Trong mùa Giáng Sinh tín đồ, hội thánh thường có khuynh hướng thi vị hóa sự ra đời của ĐCJC. Chuồng chiên máng cỏ được trang trí như một nơi êm đềm, thơ mộng, đẹp đẻ. Con trẻ Jêsus nằm trong máng cỏ như nằm trên nệm ấm chăn êm, hay như trong một nơi quyền quí, trang nghiêm. Thật ra không có gì sai quấy khi chúng ta thơ mộng hóa những cảnh tượng này. Bởi vì có ai lại không muốn có lúc quên đi đời sống hằng ngày với đầy những bon chen, tất bật, lừa đảo, tị hiềm, gian dối.
Có sai chăng là nó có thể đưa chúng ta đi xa ý nghĩa và mục đích thật của sự giáng thế của Ngôi Hai, và về đời sống khó khăn của người dân trong tầng lớp của Mari & Joseph. Trong hoàn cảnh sống đó họ cần một đấng cứu tinh để cứu họ ra khỏi vòng kềm hảm của đế quốc La-mã, ra khỏi cuộc sống đầy khó khăn, đèn ép. Họ mong có ai đó đem đến cứu họ, đem cho họ hy vọng.
[2] LUẬN VỀ CHỮ CỨU
Xem các cuốn phim hành động (action movie) thường chúng ta thích xem cảnh anh hùng giải thoát gia nhân từ vòng kềm kẹp của kẻ gian ác. Tôi nhớ hồi còn nhỏ đi coi hát, xem đến những đoạn phim này thì cả rạp hát hò reo, vỗ tay ầm ỉ. Khi thấy một nhân vật trong phim, trong chuyện bị giam bắt bởi kẻ ác chúng ta tức tối, bực dọc. Đến khi biết được có anh hùng để giải cứu thì lòng thấy nhẹ nhàng, vui thỏa. Tại sao? Bởi vì chính mỗi người chúng ta đều muốn được giải cứu.
Khi nghe về chữ cứu, được cứu, giải cứu hình ảnh gì đến trong trí quý vị?
Một người sắp chết đuối được một cánh tay chụp lại rồi kéo lên khỏi nước?
Một người nợ ngập đầu không thể nào trả nổi, có thể phải bán tất cả, mất tất cả để trả nợ, nhưng có người đến giúp trả món nợ lớn đó?
Một người sống trong tuyệt vọng. Cuộc đời đầy sầu nảo, buồn thảm, chán chường. Được ai đó yên ủi, động viên, khích lệ, giúp đở. Với thời gian từ tuyệt vọng trở nên đầy hy vọng, niềm vui.
Một người bệnh trầm trọng. Bác sĩ cho biết chỉ còn vài tháng để sống. Nhưng kỳ lạ, mầu nhiệm thay sau những lời cầu nguyện của gia đình, bè bạn, hội thánh, cơn bệnh qua đi.
Không ai sống trong đời mà lại không một lần được cứu cả. Có thể quí vị chưa lần nào cứu ai, nhưng chính mình đã ít nhất một lần được cứu. Ai tự hào rằng tôi chỉ cứu người chứ chưa bao giờ cần được cứu là người nói dối.
Tự điển định nghĩa từ cứu là được đem ra khỏi sự hảm hại, giam cầm, nguy hiểm. Người được cứu là người được giải thoát ra khỏi sự nguy hiểm bởi hành động của người cứu họ. Nếu chỉ nghĩ về người trong vòng nguy hiểm thì không thể cứu họ được. Nếu chỉ bàn tán, thảo luận, nghiên cứu về người đang trong vòng nô lệ mà không hành động, thì không thể cứu ai được.
Khi nói về chữ cứu thì phải nói về bốn yếu tố chính. Hai yếu tố về người được cứu và hai về người cứu. [4]
[4a] Người được cứu phải ý thức về sự nguy hiểm họ đang đối diện hay đang bị đe dọa. Đây phải là bước đầu tiên để được cứu. Nếu không biết mình đang gặp nguy hiểm thì cần gì được cứu.
[4b] Người được cứu ý thức rằng mình không có hay đủ khả năng để tự giải quyết, tự giải cứu, và muốn được giúp để thoát ra khỏi vòng nguy hiểm. Nếu nghĩ rằng mình có thể tự cứu thì cần gì đến ai, như người nhức đầu có thuốc uống thì cần gì đi bác sĩ. Chỉ khi không có thuốc hay hết thuốc thì người bệnh mới đến bác sĩ để khám bệnh, xin thuốc. Tuy nhiên cũng có những người bệnh không muốn được khám bệnh vì không muốn được chửa.
[4c] Người cứu phải đủ khả năng và điều kiện. Có ai trong quí vị muốn đến gặp một người sửa xe để được chửa bệnh? Hay đến gặp bác sĩ để sửa xe? Nhưng gặp đúng bác sĩ mà bác sĩ không có khả năng, bác sĩ dở thì chắc cũng chết sớm. Người Việt đến bệnh viện UNM tìm thông dịch viên VN nhưng nhà thương bảo hôm nay không có thông dịch VN chỉ có thông dịch người Hispanic, hay người Navaho, hãy chọn một trong hai, thì quí vị nghĩ sao? Nói chi xa muốn đi làm móng tay khô mà đến với người chỉ biết làm chân nước thì cũng đủ mệt rồi! Tùy theo sự nguy hiểm đối diện mà cần khả năng và điều kiện khác nhau. Chính vì vậy mới có các bác sĩ chuyên khoa.
[4d] Người cứu phải hành động, và hành động đúng với nan đề. Khi tôi nói hành động, tôi hàm ý với tất cả nhiệt tâm, tấm lòng, với sự chân thành. Chỉ làm nửa chừng rồi bỏ thì không thể cứu ai được cả. Khổ cho người bệnh gặp một bác sĩ thiếu tận tâm, lơ là, chỉ lo những việc bao đồng thay vì chú tâm vào việc chửa bệnh.
Trong câu chuyện đọc sáng nay chúng ta sẽ thấy rất rõ bốn điều này. Người được cứu là một người phụ nữ phạm tội tà dâm bị bắt quả tang và bị giải ra trước đám đông tại giữa đền thờ. Cũng như nếu sáng nay có ai đó bị bắt tội quả tang rồi bị đưa ra trước giữa hội thánh. Theo luật pháp Mô-se thì người vi phạm tội tà dâm sẽ bị ném đá đến chết. Vậy chắc chắn rằng người đàn bà này ý thức rõ về sự nguy hiểm bà đối diện. Bà cũng không thể làm gì được để tự cứu mình: không chạy luật sư, hay xin thả lỏng với tiền bail! Chỉ có một người trong đám đông buổi sáng đó có thể cứu bà, là ĐCJC. Ngài có đủ khả năng và điều kiện không chỉ cứu tính mạng cho đời này mà còn cho cả tâm linh cho đời sau. Và trong đoạn KT này cũng như trong tất cả các đoạn KT trong 4 sách Phúc Âm: Jêsus cứu mỗi người khi gặp họ nếu họ van xin cùng Ngài, dù là kẻ mù, người tàn tật, câm điếc, hay bị quỉ ám, hay bị buộc tội tà dâm.
Câu chuyện này cũng cho thấy rất rõ sự tương phản giữa hai loại người, dù cả hai đều có tội nhưng có hai thái độ hoàn toàn khác nhau. Một loại người không thấy tội lỗi chính mình hay có thể nghĩ rằng nếu mình xưng nhận tội lỗi thì sẽ bị người ta coi thường nên không hề nhận lỗi. Loại người kia bị bắt lúc đang phạm tội, xấu hổ, nhục nhả và mong được cơ hội để ăn năn, nhận được sự tha thứ, cứu chuộc.
[5-7] [Đọc Giăng 8:1-9]
[8] KẺ BUỘC TỘI
Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh của những người thông giáo và Pha-ri-si lôi kéo một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm đến trước ĐCJC. Đang khi Ngài dạy cho dân chúng trong đền thờ. Hành động này của họ không phải bắt nguồn từ lòng công chính, ngay thẳng nhưng với mục đích dùng người phụ nữ này để gày bẩy, hảm hại ĐCJC. Và họ muốn mọi người Chúa dạy bỏ Ngài để theo họ.
Ngay giữa đền thờ ĐCJC họ lôi người đàn bà phạm tội này trước Chúa. Người phụ nữ này trong tay họ chỉ là một dụng cụ để dùng cho mục đích của họ. Dùng một người để hại một người khác vì ghét người đó! Thật là một dã tâm. Đây là loại người tội lỗi tràn đầy trong cuộc sống nhưng không thấy chính tội mình nhưng lại đi buộc tội, lên án người khác. Dưới mắt họ cả người đàn bà này và ĐCJC là người có tội: người đàn bà phạm tội tà dâm, còn Jêsus thì lộng ngôn xưng mình ngang hàng với ĐCT. Có bao giờ chúng ta đọc trong KT mà có người thầy thông giáo hay Pha-ri-si nào mở miệng ăn năn, nhận lỗi, ngoại trừ Nicôđem là người gặp ĐCJC trong đêm vì muốn nghe Tin Lành?
[8a] Đây cũng là những người biết KT. Họ nói về luật pháp Mô-se cùng ĐCJC: Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; còn thầy, thì nghĩ sao?(8:5)
Nếu Chúa nói hãy ném đá người đàn bà tà dâm này thì họ sẽ nói chẳng phải thầy là bạn của những người thu thuế hay kẻ xấu nết, có tội, phường đĩ điếm sao (Ma-thi-ơ 11:19, Lu-ca 7:34)? Tại sao thầy lại không bênh vực cho bạn khi họ có tội? Lòng yêu thương, nhân từ của thầy đối với tội nhân như thầy thường nói ở đâu rồi? Hơn nữa nếu Chúa nói rằng: đúng theo luật Mô-se thì phải ném đá người đàn bà này, thì họ sẽ tâu với nhà cầm quyền La-mã rằng Jêsus muốn xử chết một người: Đây là điều trái lại với luật La-mã.
Tôi muốn được giải thích rõ một điều quan trọng để mọi người chớ hiểu lầm về câu Jêsus là bạn của tội nhân, của kẻ xấu nết. Là bạn để cứu, để đem họ từ vòng nguy hiểm của cuộc đời tội lỗi, của sự độc hại của tội lỗi đến một cuộc đời mới trong Chúa. Chứ không phải Chúa la cà với họ để làm theo họ, hay để sống như họ.
Nhưng nếu Chúa nói đừng ném đá người này thì chắc họ sẽ buộc tội Chúa đã làm trái lại luật pháp Mô-se và có cớ lên án Ngài trước dân chúng. Làm sao Chúa có thể dạy trong đền thờ nếu lời dạy Ngài trái lại với luật pháp Mô-se? Hoặc không thì lời dạy của Chúa là sai quấy. Nhưng chính họ biết rất rõ rằng dù có tuyên bố rằng theo luật Mô-se thì người đàn bà này sẽ bị ném đá đến chết nhưng chính họ và đoàn dân không có quyền ném đá người đàn bà nếu không có phép của chính quyền La-mã.
[8b] Kẻ buộc tội là ai? Là những người biết luật pháp nhưng vì lòng căm ghét, ghen tị mà dùng không những dùng luật pháp mà còn dùng cả người khác để hại người.
Người tin Chúa chớ nên như những người này.
[9] ĐIỀU GÌ CHÚA THẤY TRONG ĐÁM ĐÔNG?
Những thầy thông giáo và người Pha-ri-si này tượng trưng cho những người nghĩ rằng mình biết nhiều, biết đúng nhưng thật sự rất nông cạn và lệch lạc. Dù vậy họ dùng sự hiểu biết nông cạn, thiển cận, sai lệch đó của họ để lên án, chỉ trích, buộc tội người khác. Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài.(8:6)
[Câu chuyện của một người anh là HT TL Âu Châu và vợ là con gái MSQN HT. Khi cha vợ hay MS diễn giả nào đến giảng anh cũng đều “biết” hết.]
Phản ứng ĐCJC thế nào trước cảnh tượng này? Nhưng Đức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. Trong tiếng Hy Lạp, chữ viết là graphein, nhưng chữ được dùng ở đây là katagraphein, có nghĩa là viết một bản cáo trạng về một người nào đó (vì một trong những nghĩa của từ kata là nghịch lại, đối lại, chống lại). Chính vì vậy mà trong sách Gióp, ông dùng từ này khi nói về ĐCT: Chúa viết ra (katagraphein) những điều cay đắng chống lại tôi (Gióp 13:26).
Vậy có thể một ý về lý do Chúa viết trên đất (và đây là nơi duy nhất KT cho biết ĐCJC viết) là Ngài viết về những tội của chính người tố cáo, buộc tội, người dùng người đàn bà tội lỗi này để hại Ngài. Hay viết về sự buồn giận, nhưng thương xót như học sĩ Barclay giải thích: [10] Rất có thể những cái liếc mắt đầy dục vọng của bọn giáo luật và đạo sĩ Do Thái, cái nhìn trợn trừng tàn bạo của họ, sự tò mò dâm đãng của đám đông, sự xấu hổ của người đàn bà, tất cả đã kết hợp lại dày vò tấm lòng vừa đau đớn, vừa thương xót của ĐCJC.
Khi ngửng đầu lên để trả lời, tôi nghĩ ĐCJC có thể nhìn chung quanh cảnh trường này. Chúa thấy gì bên cạnh cái vỏ bề ngoài của mọi người:
* [11a] Chúa thấy qua bề ngoài giả dối, phỉnh phờ của những người thông giáo là những tấm lòng gian xảo, mưu mô, thâm độc. Thấy lòng ghen tức của họ.
* [11b] Ngài thấy xuyên qua lòng một số trong đám đông là sự tò mò, kích thích muốn xem người phụ nữ bắt quả tang phạm tội tà dâm này sẽ bị xử ra sao. Họ như là những người thưởng ngoạn cuốn phim đến đoạn éo le!
* [11c] Chúa thấy qua người đàn bà tội lỗi kia là một tấm lòng ăn năn, đau khổ, nhục nhả, sợ hãi. Thấy được lòng tuyệt vọng của bà: tôi còn gì trong đời để tiếp tục; mọi người đều biết về tội tôi, nhục nhả quá, đau khổ quá. Bà là trung tâm điểm của mọi mắt nhìn phán xét, khinh bỉ, mạ lị.
* [12a] Chúa thấy qua một ít người là vài tấm lòng hổ thẹn, ăn năn khi họ nghĩ về chính tội lỗi trong đời sống họ. Nếu có khác chăng là họ chưa bị bắt quả tang khi phạm tội. Tội của họ vẫn còn trong bóng tối chưa được phơi bày ra ánh sáng.
* [12b,c] Hay có thể Chúa thấy qua một vài người là sự phẩn nộ vì họ biết ý đồ của người Pha-ri-si chỉ nhằm để lập mưu, hảm hại Jêsus. Hay có thể vài người phụ nữ khác phẩn nộ, tự hỏi rằng còn người đàn ông phạm tội tà dâm ở đâu? Tại sao lại không bắt hắn ra cùng với người phụ nữ này?
Sau khi nhìn những người buộc tội Pha-ri-si, người bị án là người đàn bà tà dâm, và đám đông Chúa nói: Ai trong các ngươi là người vô tội, hăy trước nhứt ném đá vào người. (8:7) Chữ vô tội Chúa dùng không chỉ có nghĩa là không có tội mà còn là không có một ước muốn tội lỗi nào cả. Chúa nói với họ rằng: Nếu trong vòng các ngươi chưa bao giờ có ý muốn tội lỗi thì hãy ném đá bà ta.
Rồi KT viết rằng Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất. Mắt Chúa rời khỏi mọi người. Đây là thời gian mỗi người tự xét mình. Jêsus cho họ thời gian và cơ hội để suy nghĩ, để ăn năn và để quyết định. Đám đông làm gì? Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước; Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đờn bà, người vẫn đương đứng chính giữa đó. (8:9) Người lớn tuổi đi trước. Tại sao? Bởi vì họ ý thức về chính tội lỗi chồng chất trong đời sống của họ. Và khi thấy những người lớn tuổi bỏ đi thì những người trẻ tuổi còn lại cũng bỏ đi.
[13] ĐIỀU GÌ CHÚA THẤY TẠI HỘI THÁNH NÀY?
Nếu mỗi quí vị hiện diện trong đền thờ với Jêsus và đám đông đó, Chúa thấy gì trong tấm lòng quí vị? Nếu mắt Chúa nhìn thẳng vào mắt quí vị Ngài thấy điều gì?
Ai là những người lớn tuổi trong HT. Tôi không nói về tuổi tác nhưng về sự trưởng thành trong Chúa. Khi thấy có người muốn ném đá người anh chị em trong Chúa, ném đá mục sư thì quí vị làm gì? Phải chăng quí vị cùng ném đá theo? Hay bỏ đi cách thờ ơ để mặc ai ném ai chịu mặc ai. Hay bỏ đi để đem người đến giải cứu, giúp đở, để khuyên người ném đá hãy dừng tay mà suy nghĩ lại.
HT Chúa tại đây đã và có thể vẫn còn đang ném đá với nhau. Có những hòn đá to lớn gây thương tích nặng nề cho đến nay vẫn còn tổn thương, chảy máu. Và vì vậy quan hệ có thể không bao giờ hàn gắn. Có những hòn sỏi vừa cở bắn sẻ không biết đến từ ai. Hay có thể là những nắm cát hay mù mắt lẫn nhau.
Trong danh Chúa tôi van nài quí vị hãy dừng lại. Chúa đang nhìn tất cả chúng ta. Chúa đang nhìn qua bề ngoài và nhìn thấy xuốt tâm hồn, tấm lòng, ý nghĩ, dự tính mỗi người. Quí vị có thể tội chúng ta Chúa viết ra hay không? Hay chúng ta vẫn còn đang mê mãi lên án, buộc tội, chỉ trích, nói xấu, nói hành, chia rẻ, trách móc, oán giận nên không thấy được tội mình Chúa đã viết ra?
Phải chăng nhà hội này, đền thờ này là nơi để người ta lên án, buộc tội người khác. Nếu hôm nay Chúa viếng hội thánh này Ngài thấy gì?
[14] Đức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đờn bà, bèn phán rằng: Hỡi người kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao? Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội người; hăy đi, đừng phạm tội nữa.
Ai tự xét mình có tội như người đàn bà này hãy ở lại nhà hội này. Còn những người nghĩ rằng mình vô tội hãy đứng lên rời khỏi. Khi chỉ còn mình Chúa với tội nhân thì tội nhân mới thật sự có thể nghe tiếng Ngài. Tiếng của loài người nào lên án, nào mạ lị, nào mắng nhiếc, nào la thét có giá trị gì khi mỗi chúng ta đứng một mình trước Chúa?
ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA CƠ HỘI
Theo lời KT tôi tin chắc rằng Chúa sẽ nói với tất cả những ai ý thức rằng mình là người có tội, không tự cứu mình được rằng: Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa. Giăng viết đoạn KT quen thuộc, nổi tiếng này: [15] Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đă ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Vả, Đức Chúa Trời đă sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu. Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đă bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời. (Giăng 3:16-18).
Vì tình yêu thương, vì lòng thương xót, cảm thông, Chúa vẫn còn đang cho mọi người cơ hội và thời gian để lắng nghe, để suy nghĩ, để quyết định. Nếu chọn để nhận lấy sự cứu rỗi thì sẽ có sự sống đời đời, sẽ không còn bị đoán xét trong ngày sau rốt chung với những người từ chối Chúa. Nhưng nếu không tin thì chính chúng ta đã tự mình mang lấy sự đoán xét nghiêm khắc và tuyệt đối của ĐCT vào thân rồi.
Hăy đi, đừng phạm tội nữa. Chúa ban cho tất cả chúng ta cơ hội để bắt đầu lại từ đầu.
