Hội Thánh Mất Tình Yêu Ban Đầu
Nhà văn hào nổi tiếng của Hoa Kỳ tên Mark Twain có lời châm biếm nhưng chính xác về con người: "Mỗi người là một mặt trăng, đều có phần tối không bao giờ muốn cho ai biết đến". Nhìn từ trái đất, mặt trăng dù sáng tỏ, đẹp đẻ nhưng luôn có một phần tối chúng ta không thể thấy được vì đây là phần mặt trời không rọi đến. Con người chúng ta dù bề ngoài thấy như toàn diện đến mấy nhưng không ai có thể thấy được bên trong thế nào. Và đúng như Mark Twain đã nhận xét, mỗi người đều có phần tối bên trong không ai thấy, biết được, hoặc không muốn ai biết đến. Hiếm ai biết được phần tối của người quanh mình. Có người sống với vợ với chồng bao nhiêu năm dài vẫn chưa biết rõ được những bí mật đen tối. Bao nhiêu lần chúng ta ngạc nhiên khi khám phá ra điều mình không bao giờ ngờ đến của một người bạn thân mến nhất.
HT không phải là hội của những người thánh nhưng là của những người có tội, biết và tin rằng họ là người có tội và không thể tự cứu mình. Vậy nếu mỗi người đều có phần tối vì tội mà mình không bao giờ muốn cho ai biết, thì HT cũng có phần tối vì là hội của tội nhân.
7 lá thư gởi cho 7 HT trong KH 2-3 không chỉ cho thấy phần sáng mà cả phần tối của các HT. Và ci-chỉ có Đấng làm đầu HT là Đấng thấy, biết, hiểu và đánh giá cả 2 phần sáng và tối của HT. Đây là Đấng trong KH 1 cho biết đi giữa 7 chân đèn, tượng trưng cho 7 HT và trong tay nắm giữ 7 ngôi sao là 7 thiên sứ của các HT. Đây cũng là Đấng mà khi thấy Ngài, sứ đồ Giăng phải ngã xuống chân như người chết.
MS, BĐH, tín đồ có thể giấu thật kín, thật kỹ mặt tối của HT mình trước mọi người, và lắm khi thành công. Nhưng không ai, không ai có thể che đậy mọi điều trước Đấng Christ. Khi Giăng nhìn thấy ĐCJC trong khải tượng thì Chúa ở giữa các chân đèn, nhưng trong thư đầu tiên gởi cho HT Ê-phê-sô, ĐCJC phán Ngài là Đấng đi giữa các HT để xem xét từng HT, để khen những điều tốt HT làm; nhắc nhở, sửa trách những điều sai quấy, tội lỗi và chỉ cho biết những điều trong bóng tối.
Số 7 tượng trưng cho sự hoàn tất hay trọn vẹn. Vậy hình ảnh 7 HT tượng trưng cho tất cả HT trong lịch sử, từ HT đầu tiên đến cho đến HT ngày nay và mãi cho đến khi ĐCJC trở lại. Nếu 7 HT này tượng trưng cho toàn thể HT của ĐCT qua suốt các thời đại thì có nghĩa là chính ĐCJC hiện diện trong vòng HT của Ngài bên cạnh thiên sứ của mỗi HT trong suốt các thời đại, từ HT đầu tiên cho đến HT ngày nay và mãi cho đến Chúa trở lại. Chính vì sự bảo vệ của thiên sứ và sự hiện diện của ĐCT mà qua suốt hơn 2000 năm qua, HT của ĐCT vẫn tồn tại khi các đế quốc đều tan biến.
Dù 7 thư viết cho 7 HT nhưng mỗi thư đều được đọc trong tất cả các HT để mọi tín đồ được nghe, giữ lấy và làm theo: Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh. Cho tất cả chúng ta.
HÌNH THỨC CÁC THƯ CHO HỘI THÁNH
7 thư cho 7 HT trong KH 2-3 đều có cùng 1 hình thức, cấu trúc giống nhau, gồm 7 phần. 1) Mỗi thư bắt đầu với lời hãy viết cho thiên sứ của HT. 2) Sau đến Nầy là Đấng với lời miêu tả từ hình ảnh Giăng thấy trong khải tượng từ đoạn 1. 3) Sau đến Ta biết về những công việc, những điều tốt, đáng khen trong HT. 4) Sau đến Nhưng Ta có điều này, về những điều xấu, đáng chê, đáng trách 5) Lời nhắc nhở, kêu gọi ăn năn, thay đổi. 6) Ai có tai hãy nghe lời ĐTL phán cùng các HT. 7) Phần thưởng cho người giữ lời.
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Ê-phê-sô rằng: Nầy là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng (2:1, 1:13, 16)
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Si-miệc-nơ rằng: Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại (2:8, 1:17-18)
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Bẹt-găm rằng: Nầy là lời phán của Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi (2:12, 1:16)
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Thi-a-ti-rơ rằng: Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng (2:18, 1:14-15)
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao (3:1, 1:4, 16)
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Phi-la-đen-phi rằng: Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được (3:7, 1:18)
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Lao-đi-xê rằng: Nầy là lời phán của Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật, Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời (3:14, 1:5)
Hình ảnh ĐCJC cho mỗi HT đều khác nhau và xứng hợp với tình trạng của mỗi HT.
HỘI THÁNH MẤT TÌNH YÊU BAN ĐẦU
Ê-phê-sô là thành phố lớn nhất và quan trọng nhất của đế quốc La-mã trong vùng Tiểu Á thời đó. HT Ê-phê-sô là HT duy nhất trong 7 HT được viết trong sách CV. PL đến thành Ê trong chuyến truyền giáo thứ 3 và ở tại đó giảng TL trong gần 3 năm, thời gian dài nhất trong tất cả các nơi PL đến giảng lời Chúa. Chi tiết về thời gian PL ở tại thành phố này được ghi lại trong CV 19.
Bên cạnh sự thịnh vượng, giàu có về vật chất, Ê nổi tiếng trong vùng Tiểu Á vì được danh vì có 2 đền thờ cho đại đế La-mã và hơn hết là đền thờ của nữ thần Diana (Artemis), 1 trong 7 kỳ quan của thế giới cỗ. Ê cũng là nơi đầy dẫy phù phép, ma thuật. CV 19 ghi lại khi những người hành nghề bói toán, ma thuật tin Chúa, họ đốt các sách vỡ phù pháp trị giá lên đến 135 năm tiền công làm việc.
Theo truyền thống, Ti-mô-thê là mục sư HT Ê, sau đó đến sứ đồ Giăng. Khi Giăng viết KH thì hơn 30 năm đã qua từ khi PL đến Ê và thành lập HT đầu tiên tại đó. Thế hệ của tín đồ đầu tiên 30 năm trước đã thay bằng một thế hệ tín đồ mới.
Lời trong thư cho biết 2 điều quan trọng Chúa khen HT Ê: 1) Đây là một HT năng nổ, chịu khó, chịu khổ, nhân nại, kiên trì trong sự phục vụ Ta biết các công việc con, sự lao khổ và nhẫn nại của con (2:2). Từ lao khổ BDM dùng rất sát nghĩa là làm việc đến mức mòn mõi, đuối sức. 2) Đây là một HT chính thống, giữ đúng chân lý Chúa dạy, biết phân biệt tà giáo & chính giáo, giáo sư giả và giáo sư thật, mến lẽ thật, ghét điều sai quấy: Ta biết con không thể nào dung túng những kẻ tà ác, biết con đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà thực ra không phải, con đã nhận chân rằng chúng giả dối. 3 Con đã kiên nhẫn và chịu đựng vì danh Ta, không mỏi mệt... con có điều này khá là con ghét các việc làm của bọn Ni-cô-la mà Ta cũng ghét nữa. (2:2-3, 6).
Sách CV 20:13-37 ghi lại cuộc gặp gỡ lần cuối cùng hết sức cảm động của sứ đồ PL và các trưởng lão HT Ê để từ biệt HT. PL căn dặn các trưởng lão HT: Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. 29 Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu; 30 lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ. (CV 20:28-30)
HT Chúa tại Ê ghi nhớ lời dặn dò này của PL. Các trưởng lão và tín đồ tận trung, tận sức gìn giữ, bảo vệ HT khỏi những sói dữ tợn xem vào HT để phá hoại, gây chia rẽ, gây rối loạn, làm cho con dân Chúa hiểu sai, làm sai lời Chúa dạy. 30 năm sau đó HT vẫn đứng vững trong đức tin, trong lời dạy của các sứ đồ. HT ghét điều Chúa ghét, tức những việc làm của bọn Ni-cô-la. Những người này là ai? Họ làm gì, dạy gì mà Chúa ghét?
Một giả thuyết dựa theo lịch sử HT thì nhóm người Ni-cô-la này là những người theo chấp sự Ni-cô-la, là 1 trong 7 chấp sự được chọn để hầu bàn trong CV 6, sau này dạy những điều rất sai lời Chúa. 7 người chấp sự đó có tên là: Ê-tiên, là người đầy đức tin và Đức Thánh Linh, Phi-líp, Bô-cô-rơ, Ni-ca-no, Ti-môn, Ba-mê-na và Ni-cô-la, là người An-ti-ốt mới theo đạo Giu-đa. Một giả thuyết khác là từ Ni-cô-la là một từ ghép gồm 2 từ nikaõ và laos, có nghĩa là kẻ chinh phục, thống trị người. Đây là những người chủ trương áp đặt thẩm quyền của người lãnh đạo trên dân sự HT lấy đi mọi sự tự do trong Chúa.
Cách giải thích hợp lý hơn là nhóm người này liên quan trực tiếp đến Ba-lam trong thư gởi HT Bẹt-găm (2:14-15). Ba-lam là một nhân vật viết trong Dân Số Ký 31:16 dụ dỗ dân Chúa phạm tội thờ hình tượng và tội tà dâm. Tên Ba-lam cũng là một từ ghép tiếng Hebrews am – dân sự, và baal – hủy diệt, nuốt sống. Khi vua Ba-lát của xứ Mô-áp biết không thể thắng được dân sự Chúa nên hắn thuê Ba-lam, một tiên tri Chúa, rủa sả dân sự Chúa; tuy nhiên khi Ba-lam mở miệng để rủa sả dân Chúa thì lại ra lời chúc phước. Khi thấy không thể rủa sả dân Chúa, Ba-lam khuyên vua Ba-lát dùng lễ cúng các thần xứ Mô-áp, gồm việc ăn uống các của cúng và sự tà dâm mà làm cho dân sự phạm tội. Vậy nhóm Ni-cô-la có lẽ là những người xâm nhập HT Ê dụ dỗ tín đồ ăn ở luông tuồng, như đến đền thờ A-tẹc-mi để ăn ở cùng các kỵ nữ trong đền và ăn của cúng thần tượng.
Sống trong một thành phố đầy dẫy tội lỗi, ma thuật, nhưng tín đồ HT Ê vẫn giữ vững đức tin, giữ vững nếp sống của người tin Chúa; trung tín, sốt sắng hầu việc Chúa; phân biệt được giữa lời Chúa dạy và tà giáo từ các giáo sư giả. Theo tiêu chuẩn ngày nay đây là một HT gương mẫu, đáng được Chúa khen. Và thật ĐCJC khen HT Ê vì những điều này.
Nhưng. Chúa phán với HT Ê: Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu. 5 Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó. (2:4-5). Chúa trách HT Ê vì họ mất đi tình yêu ban đầu. Và tội này nặng đến nôi nếu không ăn năn, Chúa phán: Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó. (2:5) Cất chân đèn khỏi chỗ có nghĩa là sẽ lấy đi HT, sẽ không còn HT nữa.
Dù chúng ta không được giải thích rõ rằng tình yêu thương ban đầu này là tình yêu thương ban đầu với Chúa, hay với anh chị em trong HT hay với những người chưa biết Chúa. Nhưng tôi tin đó là tình yêu thương ban đầu đối với Chúa. Bởi vì như chính lời sứ đồ Giăng dạy: Chúng ta đã biết và tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời tức là sự yêu thương, ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy... Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước. 20 Vì có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được. 21 Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn nầy: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình. (1 Giăng 4:16, 19-21)
Tôi không biết một đạo giáo nào trên thế giới này, từ xưa đến nay, trách người theo đạo vì họ đã mất đi tình yêu thương ban đầu với Đấng họ tôn thờ. Với người VN ta thì sợ trời chứ làm sao có thể yêu trời. Từ nhỏ cho đến khi tin Chúa chưa 1 lần tôi nghe ai dạy phải yêu thương Trời. Huống chi đến lời dạy: anh chị đã phạm tội cùng trời vì không yêu mến trời như lúc ban đầu!
Theo tiêu chuẩn của hầu hết các tôn giáo hôm nay thì HT Ê, tín đồ HT Ê là một HT gồm những tín đồ gương mẫu. Vì họ năng nổ, chịu khó, chịu khổ, hy sinh để phục vụ; vì họ có đời sống đạo đức gương mẫu dù phải sống trong một xã hội tội lỗi, trong một môi trường đầy mọi áp lực để sống như mọi người.
Nhưng đạo Chúa hoàn toàn khác. Chính tình yêu thương của ĐCJC cảm động lòng chúng ta, làm cho chúng ta tin nhận Ngài, yêu mến Ngài và sống cho Ngài, vì Ngài. Có tôn giáo nào viết về tình yêu thương của ĐCT như lời PL viết: Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? ... 38 Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, 39 bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. (Rô-ma 8:38-39)
ĐCJC không chỉ nhìn vào bề ngoài, vào việc làm, vào hành động để khen thưởng, xét phạt. Nhưng Chúa đánh giá cả động cơ thầm kín trong tâm hồn, con tim. Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? 10 Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm. (Giê-rê-mi 17:9-10). Còn ngươi, là Sa-lô-môn, con trai ta, hãy nhận biết Đức Chúa Trời của cha, hết lòng vui ý mà phục sự Ngài; vì Đức Giê-hô-va dò xét tấm lòng, và phân biệt các ý tưởng. (1 Sử Ký 28:9) Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng. (1 Sa-mu-ên 16:7).
Và khi Chúa nhìn sâu vào tấm lòng, con tim của tín đồ HT Ê, Chúa thấy tình yêu thương ban đầu không còn nữa. Ngọn lửa của tình yêu thương ban đầu đã tắt. Tấm lòng của tín đồ HT nguội lạnh với Chúa. Họ đã đánh mất đi tình yêu thương ban đầu.
Trong thư của PL gởi HT Ê viết trước KH trên 30 năm, có ít nhất 14 lần từ yêu hay tình yêu được dùng. PL khen HT vì tình yêu thương họ đối với nhau: Vậy nên, sau khi tôi có nghe đức tin anh em hướng về Đức Chúa Jêsus và tình yêu thương đối với các thánh đồ, 16 thì tôi vì anh em cảm tạ không thôi, thường nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện. (Ê-phê-sô 1:15-16). PL cầu nguyện cho HT hiểu rõ được tình yêu thương của Chúa: tôi cầu xin Ngài tùy sự giàu có vinh hiển Ngài khiến anh em được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng; 17 đến nỗi Đấng Christ nhân đức tin mà ngự trong lòng anh em; 18 để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, 19 và được biết sự yêu thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông biết, hầu cho anh em được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 3:16-19).
PL cũng dạy HT lấy lòng yêu thương mà chìu nhau (4:2), nói thật trong tình yêu thương (4:15), gây dựng trong sự yêu thương, hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em (5:2), chồng yêu vợ như Chúa yêu HT (5:25), và Nguyền xin ân điển ở với hết thảy những kẻ lấy lòng yêu thương chẳng phai mà kính mến Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta! (6:24).
Tôi nghĩ sứ đồ Giăng sau khi nhận được lời trách của ĐCJC cùng HT Ê có lẽ ông buồn lắm. Lý do rất đơn giản vì Giăng được biết là sứ đồ của tình yêu thương. Giăng là người ĐCJC yêu thương nhất. Mọi người đều nghe, biết Giăng 3:16. Trong 3 thư 1-3 Giăng, có ít nhất 38 lần ông viết về tình yêu thương. Ông cảm nhận cách sâu xa nhất, đến tận tâm hồn tình yêu thương của ĐCJC với ông, với mọi người. Yêu thương đến nỗi từ bỏ ngôi vị ĐCT để mang hình hài con người, một đầy tớ, chịu khổ nhục cho đến chết, thậm chí chết trên thập giá. Tình yêu thương của Chúa trở nên một phần xương thịt, máu huyết, gần gũi, cần thiết, quí báu như hơi thở; tình yêu thương đó là động cơ của mọi việc làm, mọi mơ ước.
Sứ đồ PL khen tặng, nhắc nhở, dạy dỗ HT Ê về tình yêu thương của Chúa, dành cho Chúa, cho anh chị em trong Chúa và cho những người chưa biết Chúa. Theo truyền thống lịch sử HT trước khi bị bắt đày sang đảo Bát-mô, Giăng là giám mục của HT Ê. Sứ đồ của tình yêu thương chăn dắt bầy chiên Chúa trong tình yêu thương, sống làm gương bằng tình yêu thương, dạy dỗ về tình yêu thương của ĐCJC cho HT, cho những người còn hư mất. Vậy đó mà HT vẫn mất đi tình yêu thương ban đầu.
Trong tất cả 7 HT Chúa viết thư gởi, lẽ ra HT Ê phải đứng đầu trong tình yêu thương, nhưng lại là HT đầu tiên Chúa quở trách vì mất đi tình yêu thương ban đầu. Quả như lời PL dạy HT Cô-rinh-tô: Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã. (1 Cô-rinh-tô 10:12)
LỜI KÊU GỌI ĂN NĂN
Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình (v5)
Chúa dạy HT Ê và chúng ta 3 điều phải làm khi mất đi tình yêu thương ban đầu: 1) Nhớ lại lúc ban đầu để thấy được độ nguội lạnh của lòng hôm nay; 2) Ăn năn; 3) Làm lại những việc ban đầu.
Lời kêu gọi hãy nhớ lại hàm ý rằng sự nhận biết tình yêu ban đầu của Chúa với chúng ta và của chúng ta với Chúa là một kỷ niệm, một ấn tượng trong ký ức, con tim không thể quên được. Bởi vì nếu không có thì làm sao có thể nhớ lại. Hay nếu kỷ niệm, ấn tượng về tình yêu ban đầu chỉ là một chấm nhỏ nhạt nhòa thì cũng không thể nhớ lại. Mãi đến hôm nay tôi vẫn nhớ rất rõ về những ngày tháng đầu khi mới tin Chúa, về những cảm xúc khi biết rằng khác với mọi thần, mọi thánh, ĐCJC đã vì tình yêu thương xuống thế gian chịu chết cho tội của tôi. Còn qv thì sao?
Tình yêu ban đầu không mất đi một ngày một buổi nhưng dần dà theo thời gian. Chúng ta không chỉ nghe 1 lần là đủ nhưng cần được nhắc nhở nhiều lần như lời sứ đồ Phi-e-rơ dạy: Bởi vậy cho nên, dầu anh em biết rõ ràng và chắc chắn trong lẽ thật hiện đây, tôi cũng sẽ nhắc lại những điều đó cho anh em chẳng thôi. 13 Nhưng tôi còn ở trong nhà tạm nầy bao lâu, thì coi sự lấy lời răn bảo mà tỉnh thức anh em, là bổn phận của tôi vậy (2 Phi-e-rơ 1:12-13).
Tại sao phải cần được nhắc lại? Vì tâm trí, con tim chúng ta bị thường tập trung hoàn toàn vào đời sống vật chất này. Mỗi ngày, mỗi giờ. Nếu không có lời Chúa, không có sự thờ phượng, thông công, trang bị trong hội thánh thì tâm trí, con tim của mỗi chúng ta ngày sẽ càng lạnh nhạt với Chúa.
Ăn năn. Là chân thành thú nhận tội với Chúa rằng lòng con không còn ngọn lửa tình yêu ban đầu. Lửa đó giờ hoặc đã tắt, hoặc đã lụn dần theo thời gian. Rằng con làm việc, phục vụ, đến nhà thờ, cầu nguyện, dâng hiến, thờ phượng như một thói quen hay chỉ để làm vui lòng người thân trong gia đình, hay vì không muốn làm gương xấu cho con cái. Nhưng thật sự lòng nguội lạnh, xa cách, trống vắng.
Làm lại những việc ban đầu. Tình yêu ban đầu chỉ có thể được hồi phục khi chúng ta chủ ý làm lại những việc ban đầu chúng ta đã làm khi thật lòng yêu mến Chúa. Những việc gì? Có giờ tĩnh nguyện để đọc lời Chúa, để cầu nguyện, để có sự tương giao với Chúa. Nghe lại những bài nhạc mà lần đầu tiên nghe làm cho chúng ta xúc động vì cảm nhận được tình yêu thương của Chúa. Đọc lại những đoạn KT ý nghĩa khi gần gũi với Chúa. Thông công, thờ phượng cùng anh chị em. Làm chứng về Chúa.
LỜI HỨA THƯỞNG
Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời. (2:7)
Ai có tai hãy nghe nhắc rằng lời dạy trong thư gởi HT Ê là cho tất cả tín đồ. Cây sự sống đầu tiên được viết trong STK 2:9 là cây nằm giữa vườn Ê-đen. Sau khi phạm tội A-đam & Eva bị đuổi ra khỏi vườn và cấm không được đến gần hay ăn trái cây đó: Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn Ê-đen các thần chê-ru-bin với gươm lưỡi chói lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống (STK 3:24).
Nhưng trong trời mới đất mới cây sự sống nằm giữa thành mới Giê-ru-sa-lem: Ở giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái; và những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân. (KH 22:2). Cây tượng trưng cho sự sống đời đời, nơi không còn bệnh tật, đau đớn, khóc than vì mọi sự thứ nhất, tức mọi sự do tội lỗi gây ra không còn nữa.
Chúa hứa ban sự sống đời đời cho những ai giữ tình yêu thương ban đầu trong ĐCJC. Nguyền xin ân điển ở với hết thảy những kẻ lấy lòng yêu thương chẳng phai mà kính mến Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta! (Ê-phê-sô 6:24)
