Hội Thánh Chúa và Những Bức Tường Ngăn Cách
Bài giảng tuần này và tuần tới dựa theo Ê-phê-sô 2:11-22. Đây là một đoạn KT hết sức ý nghĩa, giá trị, và rất cảm động về HT ĐCT, về sự hiệp một mà ĐCJC đem đến cho HT qua chính sự chết của Ngài trên thập giá, và đòi hỏi của Chúa với HT. Dĩ nhiên khi tôi nói về HT thì có nghĩa là về các tín đồ, con cái Chúa, anh chị em trong HT.
Tôi xin dùng vài phút để ôn lại đoạn 1 và đầu đoạn 2. Trong đoạn 1, PL nói về đủ mọi phước thiêng liêng ĐCT ban cho chúng ta trong ĐCT. Một điều quan trọng là chính ĐCT chọn và gọi chúng ta, chứ không phải chúng ta chọn Chúa. Vì được chọn, chứ không phải tự chọn nên không ai có thể khoe mình về những ơn phước thiêng liêng này. Cuối đoạn 1 PL có lời cầu nguyện cho tín đồ HT: xin Chúa soi sáng con mắt của lòng để hiểu hơn về hy vọng cho những người được Chúa chọn, về cơ nghiệp giàu có vinh quang và về quyền năng của ĐTL là Đấng đã làm cho ĐCT sống lại từ cõi chết và cũng là Đấng đang thay đổi đời sống người tin Chúa.
Trong hai tuần qua tôi chia sẻ với HT về chương trình cứu rỗi cũng đã được viết trong KTCU sách Xa-cha-ri, về sự chết trong tội lỗi và cứu chuộc để được sống lại trong Đấng Christ. Một ý quen thuộc nhưng hết sức quan trọng là chúng ta được cứu nhờ ân điển bởi đức tin. Tuần qua tôi có nhận 1 câu hỏi: chúng ta được cứu nhờ ân điển hay nhờ đức tin. Một câu hỏi mà nhiều tín đồ có thể hiểu nhầm. Câu trả lời là chúng ta được cứu nhờ ân điển bởi đức tin, chứ không phải nhờ đức tin. Không ân điển thì dù có đức tin dời núi lấp sông cũng vô ích. Tôi lấy ví dụ thế này. Sáng nay qv lái xe đến nhà thờ. Xe là điều giúp đem qv từ nhà đến đây, chứ không phải qv. Qv là người tin rằng xe chạy tốt, man toàn, tiện nghi nên quyết định lên xe để lái đến nhà thờ. Nếu xe hư dù qv có tin thế nào về xe cũng chỉ là vô ích: qv vẫn ở nhà, không thể đến nhà thờ.
Hôm nay chúng ta đến phần cuối của đoạn 2 từ câu 11-22. Tôi muốn lập lại (và sẽ tiếp tục lập lại) rằng đây là một đoạn KT hết sức ý nghĩa, giá trị, và rất cảm động về HT ĐCT, về sự hiệp một mà ĐCJC đem đến cho HT qua chính sự chết của Ngài trên thập giá, và đòi hỏi của Chúa với HT.
Đoạn KT này bắt đầu với từ vậy, hay vì vậy. Có nghĩa là vì những lý do này hay vì điều tôi, PL đã giải thích trong phần trước nên đoạn KT này mới có ý nghĩa. Lý do là gì? Là chúng ta trước đã chết trong tội lỗi và chỉ duy bởi ân điển, tức món quà mà không ai xứng đáng để nhận, mà chúng ta được cứu, được sống lại trong Đấng Christ. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, 5 nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu, 6 và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ (2:4-6) Rồi PL lập lại trong 8-9: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình. PL lập lại 2 lần rằng hãy nhớ rõ, ghi khắc thật sâu trong tâm, thật kỹ trong trí, trong lòng rằng anh chị em được cứu (tức là đang chết trong tội lỗi, được làm sống lại trong Đấng Christ) là duy bởi tình yêu thương của ĐCT, bởi ân điển để không ai có thể khoe mình về công đức của mình. Nếu ĐCT cứu qv và tôi nhờ đức tin thì chắc chắn trong HT sẽ có sự so sánh giữa đức tin mạnh mẽ, thật lòng của tôi với đức tin yếu đuối, giả vờ của anh chị.
Ý nghĩa của từ vậy trong câu 12 là chỉ khi anh chị em hiểu thật rõ, ghi nhớ thật rõ về điều này, chỉ khi không người nào trong anh chị em có thể khoe mình về sự cứu rỗi thì những điều tôi, PL viết sau đây từ câu 11-22 mới thật sự càng thêm ý nghĩa, giá trị.
Qv và tôi sanh ra và lớn lên tại VN. Lý do chúng ta sống tại xứ này hôm nay là để tìm tự do và để có tương lai tốt hơn cho con cháu và chính mình. Nhiều người khi còn ở VN nghèo khó, bị bắt bớ nhưng hôm nay lại khá giả, tự do. Nhiều người phải qua bao nhiêu nguy hiểm, không biết sống chết thế nào khi vượt biên trên biển cả bao la, đối điện với giặc cướp Thái Lan. Nhiều người trong chúng ta may mắn không mất ai trong gia đình, nhưng bao nhiêu người có thân nhân bỏ mạng trên biển khơi. Khi đã trải qua những cảnh ngộ đó, chúng ta mới thật sự quí báu những gì đang có. Khi nghĩ về những ngày tháng khó khăn, lận đận, chúng ta mới thật sự biết ơn về những gì đang có.
Nhưng con cái chúng ta sinh ra trên xứ này, không biết nỗi khổ sở, thiếu thốn, sợ hãi trong cuộc sống chúng ta đã kinh nghiệm. Đối với chúng nó, đời sống đầy đủ, sung túc, tiện nghi là điều tự nhiên, bắt buộc phải có nên thường không biết quí trọng những gì đang có, thậm chí coi thường hay xem rẽ!
Chỉ khi người được cứu nhớ rằng trước đây họ ngộp lặn đến chết trong tội lỗi, nay đã được ĐCT chọn từ trước vô cùng, để gọi, để nhận sự tha tội, đã được ban cho mọi phước thiêng liêng trên trời, thì họ mới thật sự quí báu những gì đang có trong Chúa, mới thật sự có lòng biết ơn. Thì mới có thể hiểu được ý nghĩa và giá trị về của HT ĐCT và những điều Chúa muốn con dân Ngài phải làm theo.
Ba điều: 1) Sự cần thiết của HT trong đời sống tín đồ; 2) Chúa phá đổ những bức tường thù nghịch ngăn cách; 3) Sự hiệp một trong HT.
SỰ CẦN THIẾT CỦA HT ĐCT TRONG ĐỜI SỐNG TÍN ĐỒ
Nhiều năm trước đây một tờ báo lớn tại HK là tờ NY Times dành cả một số để bàn luận về tôn giáo tại HK, đặc biệt về đạo Chúa. Tựa của số báo đó God Decentralized (ĐCT Phân Tán). Hai nhận xét chính theo số báo này: 1) Sự khao khát về đức tin của thế hệ trẻ tăng lên; 2) Khuy hướng xa lánh các tổ chức tôn giáo. Có nghĩa là dù muốn tìm kiếm ĐCT, nhưng chỉ muốn giữa mình với Chúa, trong vòng riêng tư của đời sống, không muốn liên hệ gì với HT. Vì vậy mà tựa của số báo là ĐCT phân tán!
Lý do cũng dễ hiểu: Xã hội HK ngày nay là một xã hội gần như hoàn toàn đặt cá nhân, sự tự do và quyền lợi của cá nhân lên trên hết. Tôi có quyền tự do làm gì tôi thích, tôi nghĩ, tôi muốn, chỉ sao không hại ai là được rồi. Ý tưởng và suy nghĩ này ảnh hưởng tín đồ rất nhiều đến sự hiểu biết về HT. Rất nhiều tín đồ, đặc biệt là giới trẻ tuổi, nghĩ rằng chỉ tôi với KT, chỉ tôi với Chúa là đủ rồi. HT không quan trọng hay chỉ là phụ, có cũng được không có cũng được. Đến thì vui, không đến cũng chẳng mất ai. Nói cách khác họ hoàn toàn không có cam kết gì, gắn bó chặt chẻ gì với HT.
Đây là quan niệm về đức tin hoàn toàn trái với lời KTTU dạy về đời sống đức tin trong Chúa. Chính ĐCJC là người đầu tiên trong KTTU dùng từ hội thánh khi nói với Phi-e-rơ: Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó (Ma-thi-ơ 16:18) Chúa nói chính Ngài sẽ lập nên HT, và gọi HT là HT của Ta. Hôm nay lắm khi người ta nghĩ đến HT, họ nghĩ đến HT Báp-tít, HT CMA, HT Ngũ Tuần… nhưng quên đi HT do chính ĐCJC lập và gọi là HT của Ngài.
Trong số 13 thư PL viết, chỉ có 4 thư viết cho cá nhân: 1, 2 Ti-mô-thê, Tít và Phi-lê-môn, 9 thư còn lại đều viết gởi các HT. Nhưng cả trong 3 thư viết cho Ti-mô-thê và Tít, PL đều có lời dạy 2 người trẻ tuổi này làm sao để hướng dẫn HT, giảng lời Chúa cho HT, cư xử, ăn nói để làm gương cho tín đồ HT. Trong chuyến truyền giáo thứ 3, trên đường về thành Giê-ru-sa-lem, PL cố ghé tàu đến một nơi gần thành Ê-phê-sô và gặp các trưởng lão trên bờ biển. Trong lời dặn dò, PL nói với các trưởng lão: Anh em hãy giữ mình và toàn thể bầy chiên mà Thánh Linh đã đặt anh em làm giám mục, để chăn dắt hội thánh của Đức Chúa Trời mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. 29 Tôi biết rằng sau khi tôi ra đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào giữa anh em, chẳng dung tha bầy chiên đâu. (CV 20:28-29). Lòng dạ của PL quan tâm, lo lắng về điều gì? HT Chúa tại thành Ê-phê-sô, là HT của ĐCT mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.
Khi dạy về quan hệ vợ chồng trong hôn nhân, PL dùng hình ảnh của ĐCJC và HT: Hỡi các người vợ, hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, 23 vì chồng là đầu vợ, như Chúa Cứu Thế là Đầu của hội thánh, hội thánh là thân thể Ngài, chính Ngài là Đấng Cứu Thế của Thân Thể. 24 Như hội thánh tùng phục Chúa Cứu Thế, người vợ cũng tùng phục chồng trong mọi việc. 25 Hỡi các người chồng, hãy yêu vợ như Chúa Cứu Thế yêu hội thánh và hiến thân Ngài vì hội thánh, 26 để thánh hóa hội thánh, dùng nước và đạo mà rửa sạch… 32 Huyền nhiệm này thật vĩ đại tôi nói đến Chúa Cứu Thế và hội thánh. (Ê-phê-sô 5:22-32 - BDM)
Sách cuối cùng của KT là KH. Trong sách có 7 lá thư là lời của ĐCJC gởi cho 7 HT. HT chứ không phải cho các sứ đồ hay tiên tri. Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội thánh, còn bảy chân đèn là bảy Hội thánh vậy. Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Ê-phê-sô rằng… (KH 1:20, 2:1)
KT không dạy nếu không là thành viên của HT thì không được cứu rỗi. Sự cứu rỗi đến với mỗi người được ĐCT chọn và kêu gọi. Nhưng ĐCT cứu để họ là một phần, một chi thể của HT, để họ ở trong HT, chứ không phải độc lập ngoài HT. KT dạy rằng quyền năng của ĐCT, những ơn phước thiêng liêng Chúa ban cho những kẻ Ngài cứu không phải để họ ở ngoài HT, nhưng để họ dự phần trong HT, để cùng các tín đồ trong HT đem Tin Lành đến cho người chưa biết Chúa khắp nơi (vì Đại Mạng Lệnh được giao cho HT), để có thể được ĐTL thay đổi đời sống. KT dạy rằng tín đồ chỉ có thể trưởng thành, chỉ có thể được ĐTL thay đổi nên người mới trong Chúa khi dự phần vào HT, là thành viên của HT. KT dạy ĐCJC là đầu HT, chứ không phải của một cá nhân nào. Tín đồ là chi thể của HT. Chi thể không thể sống và có ích lợi nếu tách rời khỏi thân thể. Chi thể rời thân thể là chi thể chết; người tin Chúa ở ngoài HT là người sẽ chết dần đức tin, chết năng lực Chúa ban. Chính vì lý do này mà lớp 101 là CK Để Trở Nên Thành Viên HT, rồi lớp 201 mới là CK Để Trưởng Thành Trong Chúa.
Có thể nào những ơn phước thiêng liêng Chúa ban, sự giàu có của cơ nghiệp, quyền năng vô hạn của ĐCT ban cho qv khi qv độc lập, ở ngoài HT? Có thể nào quyền năng của ĐTL thay đổi đời sống để có bông trái TL khi qv độc lập, ở ngoài HT? Câu trả lời là hoàn toàn không. Để một người có thể thật sự thuộc về Đấng Christ, người đó phải ở trong HT của Ngài đã lập.
PL viết trong 3 câu cuối của đoạn 2:19-22, Như thế anh chị em không còn là người xa lạ hoặc dân ngoại nữa, nhưng anh chị em là những công dân đồng quốc tịch với các thánh đồ và là những người nhà trong gia đình của Ðức Chúa Trời, 20 được xây dựng trên nền của các sứ đồ và các tiên tri với chính Ðức Chúa Jesus Christ là đá góc nhà. 21 Trong Ngài cả cấu trúc được kết hợp với nhau, phát triển thành một đền thờ thánh cho Chúa; 22 trong Ngài anh chị em cũng được xây dựng với nhau thành một nơi ngự của Ðức Chúa Trời trong Ðức Thánh Linh. (BD2011)
Trong đoạn KT này PL viết về vị trí của người được cứu Chúa và ông dùng 3 hình ảnh khác nhau để giải thích về điều này: 1) công dân một xứ; 2) người nhà trong gia đình của ĐCT; 3) đền thờ của ĐCT mà mỗi tín đồ là một hòn đá xây cùng với những hòn đá khác trên nền đã xây để làm nơi ngự của ĐCT.
Cả 3 hình ảnh đều nói về liên hệ giữa những người được cứu, dù là công dân, người nhà, hay hòn đá dùng để xây nhà Chúa. Chú ý quan hệ ngày càng chặt chẻ, gắn bó hơn trong 3 ví dụ này. Người nhà gần nhau hơn công dân một xứ. Nhưng hòn đá được dùng để xây nơi ngự của ĐCT phải được dính với nhau, không thể hở. Trong bài giảng tuần tới, tôi sẽ giải thích rõ hơn về đoạn KT này và bài học rút ra.
CHÚA PHÁ ĐỔ BỨC TƯỜNG THÙ NGHỊCH NGĂN CÁCH
14 Vì chính Ngài là sự hòa bình của chúng ta. Qua thân xác mình, Ngài kết hợp hai khối dân tộc làm một, phá tan mối hận thù như bức tường ngăn cách đôi bên, 15 hủy bỏ Kinh Luật với các điều răn, giáo điều, để từ hai dân tộc tạo nên một dân mới trong Ngài, như thế tạo lập sự hòa hiệp. 16 Qua thập tự giá, trong một phần thân thể duy nhất, Chúa Cứu Thế đã diệt hận thù giữa đôi bên, đem giải hòa cả hai với Đức Chúa Trời.
Câu 14-16 giải thích một ý hết sức quan trọng về HT ĐCT: Để tạo dựng HT, ĐCJC qua sự chết của Ngài đã hòa giải hai dân khác nhau, là dân Y-sơ-ra-ên và dân ngoại (tức chúng ta đây) bằng cách phá đổ những bức tường hận thù (thù nghịch) gây nên sự ngăn cách giữa họ.
Bức tường thù nghịch ngăn cách giữa dân Ỵ và dân ngoại là gì? Là luật pháp với những điều răn và quy luật. Tại sao qua sự chết ĐCJC lại hủy bỏ luật pháp với những điều răn và qui luật? Từ phá đổ hay hủy bỏ trong câu 15 thật ra có nghĩa là vô hiệu quả, làm cho không còn hiệu lực. Qv có thể thay từ hủy bỏ với từ vô hiệu quả, làm cho không còn hiệu lực.
Một số sẽ có câu hỏi: Lời PL viết có tương phản, mâu thuẩn với lời của ĐCJC trong bài giảng trên núi hay không? "Đừng nghĩ rằng Ta đến để hủy bỏ Kinh Luật và Kinh Tiên Tri; Ta đến không phải để hủy bỏ mà để hoàn thành. (Matt 5:17-BM). Trong câu KT này ĐCJC giải thích rằng Ngài là hiện thân, là hình mà bóng là luật pháp và tiên tri, tức là KTCU. Qua đời sống không tội lỗi và qua sự chết trên thập giá, Chúa đã làm trọn hay hoàn thành mọi đòi hỏi của luật pháp mà từ ngàn năm trước không ai có thể làm trọn. Như trong Lu-ca 24:27 khi giải thích cho 2 môn đồ trên đường Ê-ma-út sau khi ĐCJC sống lại: Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. Hay như PL giải thích trong Rô-ma 10:4: vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công bình.
Nội dung của Ê-phê-sô 2:11-16 là về sự thù nghịch giữa 2 dân và nguyên nhân chính là luật pháp và quy luật. KTCU cho biết ĐCT đã chọn dân Ỵ và ban cho luật pháp. Luật pháp ban cho bởi chính ĐCT là một hãnh diện lớn cho dân Ỵ, như lời Mô-se: Vậy, các ngươi phải giữ làm theo các mạng lịnh và luật lệ nầy; vì ấy là sự khôn ngoan và sự thông sáng của các ngươi trước mặt các dân tộc; họ nghe nói về các luật lệ nầy, sẽ nói rằng: Dân nầy là một dân khôn ngoan và thông sáng [có một] không hai! (PTLLK 4:6) hay như như TT 147:19-20: Ngài truyền lời mình cho Gia-cốp, Luật lệ và mạng lịnh mình cho Y-sơ-ra-ên. 20Ngài chẳng hề làm như vậy cho dân nào khác; Chúng nó không có biết mạng lịnh của Ngài.
Luật pháp ĐCT ban cho lẽ ra phải là một nguồn phước cho mọi dân, lại trở nên bức tường giữa dân Ỵ và dân ngoại vì sự kiêu hảnh, tự phụ của họ. Như giữa người thu thuế và người Pha-ri-si trong Lu-ca 18:11 Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. 12 Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. Hảnh diện khi so sánh việc vâng giữ luật pháp với kẻ có tội, khác với kẻ có tội. 13 Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!
Tự phụ vì có luật pháp ĐCT ban cho nên dân Ỵ khinh dễ, coi thường dân ngoại. Còn dân ngoại khi bị khinh dễ thì cũng trở lại thù ghét đám dân kiêu ngạo tự nhận là dân tuyển của ĐCT và chính ĐCT ban cho luật pháp. Vậy khi PL viết: Ngài đã hủy bỏ Luật Pháp với những điều răn và quy luật của Luật Pháp có nghĩa là qua sự chết trên thập giá, ĐCJC đã phá đổ bức tường thù nghịch ngăn cách giữa dân có luật pháp và dân không có luật pháp, giữa 2 dân khinh khi, oán hận nhau để cả hai dân được hòa thuận. Để 2 dân đều có thể đến với ĐCT, được nhận là con chọn của Ngài không phải bởi sự tuân giữ luật pháp ngày xưa nhưng bởi Đấng đã tuân giữ trọn vẹn mọi luật pháp.
Đúng như PL viết: Vì chính Ngài là sự hòa bình của chúng ta. Qua thân xác mình, Ngài kết hợp hai khối dân tộc làm một, phá tan mối hận thù như bức tường ngăn cách đôi bên, 15 hủy bỏ Kinh Luật với các điều răn, giáo điều, để từ hai dân tộc tạo nên một dân mới trong Ngài, như thế tạo lập sự hòa hiệp. 16 Qua thập tự giá, trong một phần thân thể duy nhất, Chúa Cứu Thế đã diệt hận thù giữa đôi bên, đem giải hòa cả hai với Đức Chúa Trời. Câu 16 của BDM hơi khó hiểu: Qua thập tự giá, trong một phần thân thể duy nhất; câu này có nghĩa là qua sự chết trên thập giá, ĐCJC đã giải hòa 2 dân để nên 1 thân tức là HT như BTT dịch: và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể [thân, body], mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời.
Ba bài học vô cùng quan trọng cho HT. Thứ nhất: vì ĐCJC đã phá đổ những bức tường ngăn cách để làm cho 2 dân trước đây thù nghịch trở nên 1 người mới trong Chúa, để đem lại sự hòa giải nên sự hiệp một trong HT vô cùng quan trọng dưới mắt Chúa. Khi phá bỏ sự hiệp một là phá bỏ điều mà chính ĐCJC đã làm qua chính sự hy sinh thân Ngài trên thập giá.
Thứ hai, chúng ta có thể dùng những ân tứ, ơn phước Chúa ban, tức là những điều tốt đẹp, phước hạnh mà dựng lên những bức tường ngăn cách với anh chị em trong HT, với người hầu việc Chúa, thậm chí giữa những người hầu việc Chúa. Những ân tứ đặc biệt, nổi bật như khả năng giảng dạy, khéo léo trong lời nói, giọng hát rất hay, tài năng âm nhạc rất giỏi, sự dâng hiến rộng rời, khả năng tổ chức những chương trình đặc biệt đều có thể trở nên chướng ngại ngăn trở tín đồ, gây nên sự tranh cải, bất hòa, thậm chí thù ghét nhau. Tức đã dựng nên những bức tường bất hòa, xung đột gây ra sự ngăn cách trong vòng anh chị em HT.
Những ân tứ, sự tài giỏi, sự khôn ngoan, khéo léo, tài nghệ có thể đưa đến sự kiêu hảnh, đưa đến sự xem thường anh chị em mình, như dân Ỵ kiêu ngạo, khinh dễ dân ngoại vì họ có ĐCT, vì họ có luật pháp Chúa ban. Có khi những ơn phước Chúa ban cho như sự thông minh, sắc đẹp, thành công trong công việc, sự giàu có làm cho chúng ta trở nên kiêu ngạo, so sánh mình với những anh chị em khác thua kém hơn mình mà tự cao, tự phụ, dựng lên những bức tường bất hòa ngăn cách.
Khi một tín đồ, hay một nhóm tín đồ có khả năng, tài giỏi, họ sẽ làm việc nhanh chóng, hiệu quả hơn: tổ chức gọn gàng, nhanh chóng; nấu nướng vừa nhanh lại vừa ngon; đàn hay hát hay; dạy KT rõ ràng, dể hiểu, có ơn. Nhưng khi họ làm việc với những người kém hơn mình, thì cảm thấy bực mình vì thiếu tổ chức, làm việc lụp chụp, đàn hát không hay. Bực mình rồi sinh ra lời khen tiếng chê. Bức tường của sự kiêu ngạo đã được dựng lên gây ra sự bất hòa, làm ngăn cách anh chị em trong Chúa.
Tôi hoàn toàn đồng ý với qv rằng trong công việc ngoài đời, tại cửa tiệm, trong công xưởng, trong tiệm quán, kết quả là tất cả. Phải mau hơn, hiệu quả hơn, năng xuất cao hơn, mặt hàng tốt hơn, hoàn mỹ hơn. Kết quả là tất cả. Nhưng KT dạy rằng trong HT, kết quả không phải là tất cả, mà con người, quan hệ giữa người, giữa người với Chúa mới là quan trọng hơn hết, mới là tất cả. Có kết quả mà mất đi tình thân trong Chúa thì thà làm chậm, thà ăn không ngon, hát không hay, trang trí không đẹp thì còn hơn.
PL dạy thế này trong đoạn 4:11-12: Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, 12 để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ, 13 cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ. Chúa ban cho ân tứ cho người này, người khác để làm gì? Để trang bị cho các thánh đồ để họ làm công việc Chúa. Mục đích của công việc thánh đồ làm là gì? Để chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con ĐCT, mà nên bậc thành nhân. Tôi cầu xin Chúa giúp tín đồ HT thật sự hiểu rõ điều này để chúng ta không đặt kết quả hàng đầu, nhưng đặt quan hệ, tình thân trong Chúa hàng đầu.
Bài học thứ ba: Nếu ĐCJC chịu chết để hòa giải giữa 2 dân thù nghịch nhau, để tạo nên một người mới trong Ngài, để lập nên sự hòa bình; nếu ĐCJC chịu chết để phá đổ những bức tường thù nghịch ngăn cản nhóm người với nhóm người nọ thì với quyền gì, với danh gì, với lý do gì mà con cái Chúa trong HT lại tiếp tục dựng lên những bức tường ngăn cách giữa nhóm này với nhóm khác, giữa người này với người nọ? Nếu ĐCJC đã phá đổ những bức tường thù nghịch ngăn cách giữa 2 dân, để khiến 2 trở nên 1 người mới, khiến 2 dân trở nên một thân, tức HT Chúa, để tạo nên sự hòa bình giữa 2 dân trước đây thù nghịch, thì ai gây sự chia rẽ, ai dựng lên những bức tường ngăn cách trong HT là người mắc tội rất lớn với ĐCT. Khi làm điều này, là chính họ đã đóng đi ĐCJC lần nữa rồi.
Những bức tường gây sự ngăn cách trong HT gây ra 3 hậu quả vô cùng tai hại, làm đau lòng ĐCT:
Ngăn cản những người chưa biết Chúa đến với Chúa, với HT.
Ngăn cản sự phát triển, trưởng thành của con cái Chúa trong HT
Ngăn cản những người muốn hầu việc Chúa
Trong bài học 201 về cam kết để trưởng thành trong Chúa tôi có nêu lên một cụm từ hết sức quan trọng cho tín đồ HT là: cho nhau, vì nhau, lẫn nhau. Cầu xin Chúa giúp HT Ngài luôn hết sức, hết ý, hết lòng mà gìn giữ sự hiệp một mà ĐCJC đã trả bằng chính huyết Ngài, để nhận biết những bức tường ngăn trở anh chị em trong HT, giữa tín đồ và mục sư, giữa những người hầu việc Chúa trong HT, để có sự khôn ngoan, can đảm học đòi gương Chúa mà phá đổ những bức tường nguy hại này.
