Hội Thánh Cần Thanh Tẩy
Thư gởi HT thành phố Thi-a-ti-rơ trong KH 2 là thư thứ 4 trong 7 thư gởi các HT vùng Tiểu Á. Thư T. là thư dài nhất trong 7 thư nhưng thành phố T. là một thành phố nhỏ, kém quan trọng nhất trong 7 thành phố. T. không to lớn, phồn thịnh, nổi tiếng như Ê là một thành phố cảng với các đền thờ của đại đế La-mã và đền thờ nữ thần Diana, 1 kỳ quan của thế giới cỗ. Thành phố T. cũng không có những đền thờ vĩ đại như Bẹt-găm, nơi KT gọi là ngôi của Sa-tan, nơi Sa-tan ở, không những là một thành phố lớn, quan trọng trong vùng Tiểu Á về chính trị, kinh tế, tri thức nhưng còn là một trung tâm tôn giáo nổi tiếng của đạo thờ lạy đại đế La-mã, của thần Zeus và đặc biệt hơn hết là thần Asclepius, thần chửa bệnh tay cầm cây trượng với con rắn quấn quanh. T. cũng không phải là nơi có đông dân cư DT (Giu-đa) như Si-miệc-nơ, nơi tín đồ HT Chúa bị bắt bớ vì cớ dân Giu-đa.
Tại thành phố nhỏ, bình thường này, ảnh hưởng đến HT Chúa, đến tín đồ HT tại thành phố này là các hội đoàn thương mãi. Di tích của các bản đá có chữ khắc và các đồng tiền cỗ tìm được cho biết T. là một thành phố thương mãi với nhiều hội đoàn của các ngành nghề. Mỗi ngành nghề từ nghề thợ đồng, thợ da, hay thợ nhuộm đều có hội đoàn riêng. Một trong các hội đoàn là về việc buôn bán hàng tía (màu tím) là nghề của bà Ly-đi-a, người từ thành phố T. này và là người tin Chúa đầu tiên tại thành Phi-líp khi PL đến giảng TL: Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng rằng người ta nhóm lại đặng cầu nguyện; chúng ta ngồi xong, giảng cho những đàn bà đã nhóm lại. 14 Có một người trong bọn đó nghe chúng ta, tên là Ly-đi, quê ở thành Thi-a-ti-rơ, làm nghề buôn hàng sắc tía, vẫn kính sợ Đức Chúa Trời. Chúa mở lòng cho người, đặng chăm chỉ nghe lời Phao-lô nói. (CV 16:13-14)
Theo một sách giải kinh thì thành phố T. cũng giống như thành phố Hà Nội xưa với 36 phố phường, mỗi phố chuyên một nghề, một sản phẩm như Hàng Bông, Hàng Bạc, Hàng Cơm, Hàng Gà, Hàng Bột... Cũng vậy T. cũng gồm các khu phố chuyên nghệ như khu buôn bán hay làm đồng, khu buôn bán, nhuộm vãi... Để có thể hành nghề, kiếm sống, hầu hết, nếu không nói tất cả, mọi người đều phải tham gia vào các hội đoàn thương mãi này, phải là thành viên của các hội thương mãi này. Những người làm nghề đồng là thành viên của hội làm đồng; những người buôn bán hàng tía như Ly-đi-a là thành viên của hội bán hàng tía.
Nan đề của tín đồ HT T. là họ không thể tham gia vào các hội nghề nghiệp này vì mỗi hội đoàn đều thờ cúng các thần để phù hộ của nghề của họ. Thành viên của hội phải tham dự vào các buổi ăn thông công với thức ăn đã cúng cho thần, phải tham gia vào các cuộc nhậu nhẹt say sưa, trác táng, thậm chí với việc chơi bời, đàn điếm. Điều này cũng không khác gì mấy với cách làm ăn buôn bán tại một số quốc gia hôm nay.
Vì không thể làm thành viên của các hội đoàn này nên tín đồ HT phải gặp rất nhiều khó khăn trong nghề nghiệp, cho việc kiếm sống. Đây là lý do của sự nghèo khó KT viết trong thư gởi cho HT Si-miệc-nơ, Ta biết sự khốn khó, nghèo khổ của ngươi. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này khi tìm hiểu đến phần sau của thư gởi HT T.
ĐẤNG DÒ XÉT HỘI THÁNH
Con hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Thi-a-ti-rơ: "Con Đức Chúa Trời, Đấng có mắt như ngọn lửa và chân như đồng bóng loáng phán (KH 2:18 - BDM)
Trong thư, 3 hình ảnh được dùng để nói về ĐCJC. Đầu tiên là Con Đức Chúa Trời. Đây là nơi duy nhất trong cả sách KH, ĐCJC xưng mình là Con Đức Chúa Trời. Danh xưng này không có nghĩa là ĐCJC ở dưới quyền hay thấp quyền hơn ĐCT mà Ngài gọi là Cha, cũng như ĐTL không dưới quyền hay thấp quyền hơn ĐCJC và ĐCC. Danh xưng này được dùng trong thư để cho biết rõ rằng chính Chúa mới thật là Con ĐCT, chứ không phải thần bảo hộ của thành T. là Apollos, con của thần Zeus (trưởng các thần Hy Lạp). Chính ĐCJC mới thật là Đấng mọi người phải tôn thờ và tuân phục, chứ không phải đại đế La-mã hay một thần nào khác.
Giáo điều Ba Ngôi ĐCT dạy rằng ĐCT có 3 ngôi liên hệ với nhau cách mật thiết nhưng bình đẳng và cùng một bản thể. Cùng một bản thể có nghĩa là cùng một thể chất như người cùng một thể chất với người nhưng khác với các loài thú vật hay cây cỏ. ĐCJC, Con ĐCT là Đấng có cùng một bản thể với Cha và với ĐTL. ĐCT là Đấng Sáng Tạo, nhưng thiên sứ, vũ trụ, trời đất, con người là loài thọ tạo, tức được sáng tạo bởi ĐCT, không cùng một bản thể với ĐCT. Như người chỉ sinh ra người, không thể sinh ra robot, nhưng chỉ chế tạo robot.
Vậy khi gọi ĐCJC là Con ĐCT thì ý nghĩa của danh xưng này khác với khi gọi người tin Chúa là con ĐCT vì ĐCJC có cùng một bản thể với ĐCT nhưng chúng ta chỉ là loài được Chúa sáng tạo và được nhận là con cái của Ngài qua ĐCJC. Đây là một khác biệt vô cùng quan trọng.
Lịch sử HT có 2 nhân vật nổi tiếng, 1 chính, 1 tà. Nhân vật chính là Athanasius, tà là Arius. Cả 2 sống trong thời của đại đế Constantine the Great, là vua La-mã đã chính thức hóa đạo Chúa là tôn giáo của cả đế quốc La-mã vào năm 323. Gần suốt cuộc đời Athanasius tranh cải với Arius về một chữ I.
In 325, at the age of 27, Athanasius began his leading role against the Arians as a deacon and assistant to Bishop Alexander of Alexandria during the First Council of Nicaea. Roman emperor Constantine the Great had convened the council in May–August 325 to address the Arian position that the Son of God, Jesus of Nazareth, is of a distinct substance from the Father.
The one who led that teaching was Arius. Athanasius opposed Arius, and Arius usually was winning for a long time. Athanasius was exiled and beaten and put in prison. He spent all of his life running around fighting Arius over one letter. Do you know what that letter was? Arius said, “Jesus, the Son, is homoiousios with the Father,” which means like substance. Athanasius says, “No, he’s homoousios, the same substance. Get that ‘I’ out of there.”
Athanasius dedicated his life to get the “I” out of the creed, to get the “I” out of the confession. He spent his entire life, he poured himself out to make sure people knew Jesus Christ was the Word become flesh, that he was God incarnate. The reason he gave his life to that, so that on his gravestone it says, “Athanasius contra mundum,” Athanasius against the world, is he knew this is the grand miracle out of which all other miracles flow.
Đấng mắt như ngọn lửa là hình ảnh tả về ĐCJC trong KH 1:14 và trong sách CU là Đa-ni-ên 10:6 viết trên 500 năm trước khi ĐCJC giáng sinh. Hình ảnh này nói lên cái nhìn xuyên suốt, thấu qua mọi che dấu của lừa dối, tội lỗi, nhìn suốt qua những sai lầm, vi phạm trong HT. Không một điều gì mờ ám, sai quấy có thể che đậy trước cặp mắt như lửa này. Mắt Chúa nhìn suốt qua cách rõ ràng, thấu đáo mọi mưu kế, mọi động cơ giả tạo, miệng nói một đằng nhưng lòng nghĩ một nẽo. Mắt Chúa cũng sẽ nhìn thấu mọi ý nghĩ, dự tính trong lòng người. Mắt Ngài nhìn thấy mọi đường lối của loài người. (Giê-rê-mi 32:19) Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại (Hê-bơ-rơ 4:10)
Cùng một ý của Đấng mắt như ngọn lửa là Đấng dò biết lòng dạ loài người (c23). Hầu hết qv đây đều biết từ tim trong Anh ngữ là cardio và chuẩn bệnh là diagnosis; 2 từ này có gốc từ tiếng Hy-lạp, tức ngôn ngữ dùng viết KTTU. Hai lần trong sách CV 1:24 & 15:8, từ này được dùng như một từ ghép để nói về ĐCT kardiognōstēs, có nghĩa là biết con tim, chuẩn bệnh con tim. Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm. (Giê-rê-mi 17:10)
Chân như đồng sáng. T. cũng có tiếng về đồng với chất lượng, dùng cho công nghiệp và để làm vũ khí, áo giáp cho quân đội và hình tượng của các thần. Vậy hình ảnh chân như đồng sáng có thể để nhấn mạnh quyền năng dày đạp kẻ thù và cũng để tương phản với các tượng thần bằng đồng trong thành phố.
LỜI KHEN THƯỞNG
Ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa. (KH 2:19)
Lời khen thưởng của Chúa với HT T. cho thấy đây là một HT hết sức hăng hái, tích cực hầu việc Chúa. Họ không chỉ hầu việc trong quá khứ nhưng công việc hiện tại còn nhiều hơn công việc lúc đầu; chẳng phải là dấu hiệu của một HT thật sự tăng trưởng trong sự phục vụ hay sao? Tấm lòng phục vụ hôm nay còn mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn lúc đầu. Qv nhớ đây cũng lời khen của Chúa với HT Ê-phê-sô: Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi... 3 Ngươi hay nhịn nhục và chịu khó vì danh ta, không mệt nhọc chút nào. (KH 2:2).
Nhưng HT T. còn hơn HT Ê. vì không chỉ trung tín hầu việc Chúa, đầy dẫy đức tin mà còn đầy dẫy lòng yêu thương, là điều mà Chúa trách HT Ê đã đánh mất tình yêu thương ban đầu. 3 tính hạnh quan trọng PL nêu lên trong 1 Cor 13 là đức tin, hy vọng và tình yêu thương. HT T. có cả đức tin và tình yêu thương. Còn hy vọng? Chúa khen HT có lòng nhịn nhục hay lòng kiên nhẫn. Một người không thể kiên nhẫn hay nhẫn nhịn nếu không có hy vọng. HT T. cũng giống như HT Thê-sa-lô-ni-ca về 3 phẩm tính quí báu này: Trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, chúng tôi nhớ đến công việc anh chị em làm do đức tin, lao khổ anh chị em chịu vì tình thương và lòng kiên trì của anh chị em nhờ hy vọng nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. (1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3 – BDM)
LỜI QUỞ TRÁCH
Nhưng Ta có điều trách con vì con dung túng Giê-sa-bên, người đàn bà tự xưng là nữ tiên tri dạy dỗ và lừa gạt các đầy tớ Ta, quyến rũ họ phạm tội tà dâm và ăn của cúng thần tượng. (KH 2:20 - BDM)
Nếu thư gởi cho HT chấm dứt tại đây thì quả thật là một điều HT đáng lấy làm vui thỏa. Một HT phục vụ hết lòng, hết sức, ngày càng trung tín hơn, bền đỗ hơn, tích cực hơn so với lúc ban đầu. Không chỉ phục vụ nhưng phục vụ với lòng đầy tràn đức tin, hy vọng và tình yêu thương. Trước những khó khăn, trở ngại, thử thách, dù trong công việc hay trong quan hệ với nhau, HT có lòng kiên nhẫn, không bỏ cuộc. Vấn đề là ở chữ nhưng, Nhưng điều ta trách ngươi.
HT T. tưởng gương mẫu trong sự phục vụ, lòng yêu thương, tính kiên trì, nhưng lại có những nan đề hết sức trầm trọng. Khó khăn, hoạn nạn xảy đến với HT Si-miệc-nơ (thư thứ 2) từ sự bắt bớ, vu oan, dèm pha, nói xấu từ bên ngoài HT, từ những người Giu-đa, từ dân chúng trong thành phố. HT S. đứng vững trước những áp lực, khó khăn, bắt bớ từ ngoài HT. Nan đề của HT T. và Bẹt-gam (thư thứ 3) không phải từ bên ngoài HT nhưng từ chính bên trong HT. Và cả 2 HT đều vấp ngã, phạm tội cùng Chúa vì không đứng vững nỗi trước sự tấn công của ma quỉ từ chính bên trong HT.
Tôi đề tựa lá thư gởi HT B. là Hội Thánh Dung Túng Tà Giáo. Tựa đề đó cũng có thể dùng cho thư gởi HT T. Chúng ta có thể ví HT T. như một khu vườn đẹp nhưng rất tiếc không chỉ cỏ dại mà cỏ độc lại để mọc cách bừa bãi, không kiểm soát. Thời gian sau, cỏ độc dần dần giết hết những bông hoa xinh đẹp trong vườn.
HT Ê. giữ vững lời Chúa, biết phân biệt những giáo sư giả tự nhận là sứ đồ nhưng không phải là sứ đồ. Vì sự thận trọng, dè giữ, vì lúc nào như cũng phải phòng thủ, bảo vệ HT khỏi ảnh hưởng của giáo sư giả, của những lời dạy sai lạc, nên HT ngày càng trở nên cứng cỏi đến nỗi mất đi tình yêu thương ban đầu. Trong quá trình bảo vệ sự thật, lý trí của tín đồ HT Ê ngày càng mạnh mẽ, nhưng con tim của họ cũng dần trở nên chai cứng.
Trái với HT Ê., HT T. đầy tình yêu thương ngọt ngào nhưng chính bởi họ hiểu sai ý nghĩa thật của tình yêu thương nên trở nên dung túng với người dạy họ những điều hết sức sai lầm, tội lỗi. Tôi chắc qv có nghe nói vì Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. (1 Cô-rinh-tô 13:7) nên thôi cứ bỏ qua mọi việc.
Nhưng chớ quên rằng trước lời dạy đó về tình yêu thương thì PL viết: chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. (v. 7). PL cũng dạy phải nói thật trong tình yêu thương. Qv cũng nhớ trong đoạn KT trước đó khi nói về các ân tứ TL thì sứ đồ PL liệt ra một ân tứ là phân biệt được các thần: người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần (1 Cor 12:10. Đây là ân tứ, khả năng Chúa ban cho để phân biệt được giữa thần linh ĐCT và thần linh ma quỉ, giữa giáo sư thật và giáo sư giả, giữa lời dạy đúng và lời dạy sai. Vậy yêu thương không có nghĩa là chấp nhận sai quấy, dung túng tà giáo, cứ để mặc ai muốn dạy gì thì dạy cho tín đồ HT.
Hầu hết qv đây đều có nghe hay đọc câu chuyện về Ma-ri và Ma-thê: Ma-thê ngồi dưới chân Chúa để nghe lời Chúa dạy còn Ma-ri thì bận rộn chuẩn bị bửa ăn. ĐCJC nói với Ma-ri khi bà phàn nàn cùng Chúa rằng em mình không giúp gì rằng Ma-thê đã chọn điều tốt hơn. Nhiều người kết luận rằng lời Chúa dạy chúng ta phải đặt ưu tiên cho việc nghe lời Chúa hơn là phục vụ. Đúng vậy không? Hoàn toàn đúng đối với người luôn luôn tích cực phục vụ. Nhưng chỉ là lời biện hộ cho sự biến nhác, không muốn phục vụ, chỉ muốn được phục vụ.
Cũng vậy tình yêu thương không hề, không hề phủ nhận hay trái ngược với sự thật. Tình yêu thương thiếu sự thật cũng chỉ là xúc cảm, có thể khích lệ, yên ủi nhưng làm ngơ hay nhắm mắt trước mọi lầm lỗi, sai quấy. Sự thật không tình yêu thương có thể trở nên tàn nhẫn: dù nói lên điều đúng sai nhưng người nghe không muốn hay không thể tiếp nhận. Có người nói phải có một cây cầu quan hệ vững chắc để có thể chịu nỗi sức nặng của sự thật. KT dạy phải Nói thật trong tình yêu thương. Tình yêu thương phải gắn liền với sự thật. Tình yêu thương trong Chúa phải gắn liền với lẽ thật của lời Chúa trong KT.
Chúa quở trách HT T. vì con dung túng Giê-sa-bên, người đàn bà tự xưng là nữ tiên tri dạy dỗ và lừa gạt các đầy tớ Ta, quyến rũ họ phạm tội tà dâm và ăn của cúng thần tượng. Người nữ Giê-sa-bên xưng mình là tiên tri dạy dỗ, phỉnh phờ tín đồ HT T. là ai?
Trước hết đây không phải là tên của một người nữ nào đó trong HT nhưng là một tên hiệu, danh xưng tượng trưng từ một hoàng hậu rất độc ác, chống trả ĐCT trong KTCU tên Giê-sa-bên. Tên hiệu hay danh xưng này cũng như Ba-lam hay Ba-by-lôn hay Sô-đôm, không phải chỉ nói lên một nhân vật hay một địa điểm nhưng còn được dùng như một biểu tượng, như Sô-đôm không phải chỉ là về thành phố Sô-đôm nơi gia đình Lót đến ở, nhưng còn là biểu tượng của một nơi đầy dẫy tội lỗi, đặc biệt là về tội đồng tính.
Giê-sa-bên là vợ của vua A-háp, vua xứ Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ xứ Ỵ chia cắt làm 2 miền: miền bắc gọi là Ỵ, miền nam là Giu-đa. G. là người đã đem tà giáo vào trong xứ Ỵ Cha của G. tên Ết-ba-anh là thầy tế lễ của thần Át-tạt-tê, giết vua xứ Si-đôn để soán ngôi. Thần Át-tạt-tê của xứ Si-đôn cũng tương tự như nữ thần Áp-phô-đít của Hy Lạp hay Vệ-nữ của La-mã, thần tình dục. Khi đến thờ cúng thần Át-tạt-tê sau khi dâng của lễ cho thần, người ta sẽ ăn nằm với những kỵ nữ hay nam giới.
Sau khi lấy vua A-háp, G. chủ động thay đổi việc thờ phượng ĐGHV bằng việc thờ lạy thần Át-tạt-tê. Bà thuyết phục vua A-háp lập đền thờ cho thần Át-tạt-tê tại thủ đô Sa-ma-ri, lập một nhóm 850 thầy tế lễ để phục vụ thần Át-tạt-tê và tìm mọi cách để giết các tiên tri và người hầu việc Chúa. Đến nỗi một quan phải dấu 100 người tin Chúa còn lại trong xứ vào hang động.
G. còn là một người vô cùng độc ác, tàn nhẫn. Chuyện kể về một người tên Na-bốt, có một vườn nho cạnh bên cung điện vua A-háp tại Sa-ma-ri. Vua thấy vườn nho, động lòng tham nên nói với Na-bốt hãy nhượng vườn nho đó cho vua, vua sẽ trả lại tiền. Na-bốt không đồng ý nhượng hay bán miếng vườn đó. Nên vua A-háp lấy làm rất tức bực, đến nỗi không muốn ăn uống. G. thấy vậy hỏi vua về lý do và sau khi nghe chuyện thì bảo chồng hãy ngồi dậy đi ăn, vui lên rồi Thần thiếp sẽ tặng vua vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên. (1 Các Vua 21: 7 – BDM) Để cướp lấy vườn nho của Na-bốt, G. lập mưu vu khống cho Na-bốt là rủa sả ĐCT và vua nên bị ném đá cho đến chết.
Vậy khi gọi người dạy dỗ và lừa gạt (phĩnh phờ) tín đồ HT T. là G. ĐCJC muốn nhấn mạnh tội ác và tai hại trầm trọng của người phụ nữ này. Người này như cỏ độc lang ra giết hết những bông hoa trong khu vườn tươi đẹp của HT Chúa. Điều độc hại hơn hết là HT T. không hề nhận biết cỏ độc này. Trái lại HT tiếp tục để cỏ độc này ngày càng lan rộng thêm ra, khiến tín đồ HT ngày càng đi xa đường lối Chúa, ngày càng lúng sâu trong vòng tội lỗi mà không hề biết đến.
Một câu chuyện kể về cách mà những người sống trong vùng Bắc Cực đông giá, lạnh lẽo bắt giết các con sói để lấy lông. Trước hết họ lấy máu để cho đặc lại rồi tẩm máu đặc quanh lưỡi thật bén của dao. Theo thời tiết máu sẽ trở nên cứng như nước đá bên ngoài. Người săn sói cắm con dao ngược xuống đất với lưỡi dao bọc đầy máu đông đặc chỉa lên trời. Sói ngưởi được mùi máu nên đến để tìm máu. Nó liếm máu bọc lưỡi dao nhưng vì lạnh và vì say mê máu nên càng liếm dao cho đến chết mà không biết đang liếm chính máu từ miệng của nó. Mưu kế của ma quỉ cũng vậy. Từ từ. Trước hết làm cho người nghe bùi tai, không phân biệt được đúng sai, đen trắng.
“You will say that these are very small sins; and doubtless, like all young tempters, you are anxious to be able to report spectacular wickedness. But do remember, the only thing that matters is the extent to which you separate the man from the Enemy. It does not matter how small the sins are provided that their cumulative effect is to edge the man away from the Light and out into the Nothing. Murder is no better than cards if cards can do the trick. Indeed the safest road to Hell is the gradual one-the gentle slope, soft underfoot, without sudden turnings, without milestones, without signposts.” (Screwtape Letters, 12)
Câu 20 có từ dung túng. Dung túng là dù biết sai nhưng vì nể, vì sợ mất lòng hay không muốn phiền phức nên cứ làm thinh, làm ngơ, để mặc. Tại sao HT lại dung túng cho người đàn bà này? Có lẽ vì nể, vì sợ, vì không muốn có ý kiến khác với những tín đồ trong HT.
Người phụ nữ này tự xưng là tiên tri. Từ tiên tri đây không phải là người cho biết về tương lai nhưng chủ yếu là người có ân tứ và thẩm quyền để giảng dạy lời Chúa. Trong danh sách các ân tứ PL liệt ra trong 1 Cô-rinh-tô 12 thì đầu tiên là sứ đồ, kế đến là tiên tri. PL cũng dạy ĐCT dùng các sứ đồ và tiên tri để thiết lập nền tảng cho HT đầu tiên: Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà (Ê-phê-sô 2:20). Chúa cũng bày tỏ lẽ mầu nhiệm dấu kín từ các đời trước cho các sứ đồ và tiên tri: Là lẽ mầu nhiệm trong các đời khác, chưa từng phát lộ cho con cái loài người, mà bây giờ đã được Đức Thánh Linh tỏ ra cho các sứ đồ thánh và tiên tri của Ngài. (Ê-phê-sô 3:5). Có lẽ đây là lý do mà HT dung túng lời dạy của người phụ nữ này vì nghĩ rằng ĐCT đã cho bà này có thẩm quyền là tiên tri nên lời dạy chắc đúng.
Đây là một bài học vô cùng quan trọng cho HT Chúa: không thể vị nể, dung túng người dạy sai lời Chúa dù người đó tự xưng là tiên tri hay giáo sư hay mục sư, dù người đó có quá trình phục vụ bao lâu, hay dù người đó có bằng cấp gì đi nữa. Câu hỏi là làm thế nào để biết được, phân biệt được lời dạy đúng sai. Một cách là bắt chước tín đồ HT Bê-rê trong sách CV 17. KT viết về những tín đồ này như sau: Những người này cởi mở hơn người Tê-sa-lô-ni-ca; họ nhiệt thành tiếp nhận Đạo Chúa, hằng ngày tra cứu Thánh Kinh để xét xem lời giảng có đúng không. (CV 17:11 – BDM). Tín đồ HT phải biết lời Chúa dạy trong KT bởi vì KT là tấm gương, là chỉ nam để nhận biết đúng sai, nhận biết chính giáo với tà giáo, phân biệt giữa người dạy lời Chúa và người dạy lời người đời.
