Hầu Việc Chúa – Ân Tứ Thánh Linh (Phần 2)
Trong bài giảng tuần rồi tôi chia sẻ với HT về ân tứ TL: ân tứ TL là gì? và ân tứ và trái TL. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về 1) Ân tứ TL để làm gì? 2) Khám phá ân tứ TL.
ÂN TỨ THÁNH LINH LÀ GÌ?
Sứ đồ PL viết về ân tứ TL trong 3 đoạn: Rô-ma 12:3-8, 1 Cô-rinh-tô 12:1-11, Ê-phê-sô 4:1-13. 3 đoạn KT này nêu ra các ân tứ khác nhau sau đây:
Rô-ma 12:6-8: nói tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khuyên bảo, dâng hiến, lãnh đạo, động viên
1 Cô-rinh-tô 12: 8-10, 28: khôn ngoan, tri thức, đức tin, nhận biết các thần, sứ đồ, tiên tri, thầy giáo, làm phép lạ, ơn chữa bịnh, giúp đỡ, quản trị, nói các tiếng lạ, thông dịch các tiếng lạ
Ê-phê-sô 4:11: sứ đồ, tiên tri, thầy giảng Tin Lành (truyền giáo), mục sư, giáo sư
Chú ý là trong 3 đoạn KT này, có một số ân tứ lập lại. Bỏ qua những ân tứ lập lại, chúng ta có thể đếm được 20 ân tứ khác nhau. 20 ân tứ khác nhau PL liệt ra trong 3 đoạn KT trên có thể được tóm lại làm 2 loại như trong 1 Phi-e-rơ 4:10-11: 1) Ân tứ trong việc chia sẻ, giải thích lời Chúa (speech gift); 2) Ân tứ trong sự phục vụ công việc Chúa (act gift): Mỗi một người nên dùng ân tứ đã nhận lãnh để phục vụ người khác, như một người quản trị trung tín, khéo quản trị các ơn khác nhau của Đức Chúa Trời. 11 Nếu có ai giảng luận thì hãy giảng như nói ra lời của Đức Chúa Trời; nếu có ai phục vụ, hãy phục vụ bằng sức mạnh Chúa ban, để trong mọi sự Đức Chúa Trời được ngợi khen qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chúng ta có thể định nghĩa của ân tứ TL như sau: Ân tứ Thánh Linh là món quà ĐTL ban cho những người hoàn toàn tin cậy Đức Chúa Giê-xu là Đấng cứu tội và là Chúa của đời sống, nhằm mục đích đem người đến với Chúa, gây dựng anh chị em trong Chúa và đem lại lợi ích cho hội thánh Chúa.
4 điểm chính tóm tắt về ân tứ TL:
Ân tứ TL được ban cho thân thể Đấng Christ, tức HT với mục đích đem lại lợi ích chung, để gây dựng thân thể chứ không cho lợi ích, vinh quang cá nhân.
Không ai có được hết tất cả ân tứ (12:14-21), cũng không có ân tứ nào được ban cho hết thẩy mọi người (12:28-30). Mục đích là để mọi tín đồ trong HT đều cần đến nhau, nương cậy nhau.
Có các ân tứ nổi bật hơn những ân tứ khác nhưng tất cả đều quan trọng và cần thiết: mỗi người đều quan trọng, mọi người đều cần thiết. (12:22-26)
ĐTL ban phát những ân tứ khác nhau cho người nào tùy theo ý chỉ của Ngài (12:11)
Chúng ta được Chúa cứu nhờ ân điển bởi đức tin, được ĐTL ngự trong đời sống nhờ ân điển, và được ban cho ân tứ TL cũng nhờ ân điển. Không ai có thể khoe mình về sự cứu rỗi hay về sự ban cho ĐTL trong đời sống, thì cũng vậy, không ai có thể khoe mình về ân tứ ĐTL ban cho.
Lắm khi rất khó phân biệt được khả năng và ân tứ. Giáo sư thần học Charles Ryrie nói: tôi thú thật là không phải lúc nào tôi cũng phân biệt được khả năng tự nhiên của người dạy, một người đã được trang bị rất tốt, và một người có ân tứ dạy dỗ. Nhưng chúng ta không thể nào nhầm lẫn về trái TL bởi vì chỉ khi ĐTL làm việc trong đời sống thì tín đồ mới thật sự có trái TL.
Khi một người có ân tứ TL thì dù khả năng thế nào, người đó vẫn đem lại kết quả cho Chúa. Người có ơn làm chứng thì dù có giải thích TL rất đơn sơ, chia sẻ vài 3 câu, dù nói sai văn phạm, thì vẫn cảm động lòng người nghe khiến họ tin Chúa. Người có ơn giảng dạy thì dù có nói không rành mạch, kiến thức KT giới hạn vẫn có thể được Chúa dùng để gây dựng anh chị em trong HT. Người có ơn động viên, khuyên dỗ thì có khi chỉ im lặng, lắng nghe vẫn làm cho người đang trong cảnh ngộ khó khăn được yên ủi, khích lệ.
PL không phải là người ăn nói giỏi hay có tài hùng biện. Có người nói rằng các thơ của người nặng lời và bạo mạnh; nhưng đến khi có mặt thì người yếu đuối và lời nói chẳng có giá gì. (2 Cô-rinh-tô 10:10) A-bô-lô mới là người có tài ăn nói. Nhưng ĐCT dùng PL cách kỳ diệu, lạ thường để đem TL đến cho dân ngoại, để dạy dổ tín đồ.
Nói vậy không có nghĩa là chúng ta cứ để tự nhiên, không cần trau dồi khả năng, không cần học hỏi. Nhưng để hiểu rằng chính ĐTL là Đấng đem lại kết quả, chính ĐTL dùng khả năng của người tin Chúa cho mục đích của Ngài. Mỗi tín đồ đều cần phải tìm hiểu mình có khả năng gì để xin ĐTL biến khả năng đó thành ân tứ hầu có thể phục vụ Chúa cách hữu ích. Mỗi tín đồ có trách nhiệm nhận xét trong HT xem có công việc, mục vụ gì cần làm, nhu cầu gì cần đáp ứng, anh chị em nào cần được nâng đở, xây dựng.
20 ân tứ liệt ra trong 3 đoạn KT không phải là cố định, không thể thay đổi và cũng không phải là tất cả, bởi vì nhu cầu của HT có thể thay đổi theo thời gian, xã hội, phong tục, tập quán. Một ví dụ đơn giản là ngày xưa chưa có máy vi tính, powerpoint, hệ thống âm thanh, ánh sáng nhưng hôm nay đây là những điều mà mọi HT, dù lớn nhỏ, ở đâu thì cũng cần có những người có khả năng, ân tứ để giúp cho những công việc này.
ÂN TỨ VÀ TRÁI THÁNH LINH
KT dạy mọi tín đồ đều cần có trái TL. Một trái với tất cả hương vị hòa hợp với nhau: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ (Ga-la-ti 5:22). Có ân tứ mà không có trái TL thì có thể sinh ra kiêu ngạo, tự phụ, thậm chí gây ra bất hòa, chia rẽ trong HT. Điều này không khác gì người tài giỏi mà không có đức hạnh có thể dùng tài năng của mình cho các việc tội lỗi.
Trong cả ba đoạn KT về ân tứ TL, PL đều nhấn mạnh về những phẩm tính của trái TL, những tính hạnh con tim. Trước khi liệt ra các ân tứ, PL bắt đầu Rô-ma 12:1-3 với lời khuyên bảo tín đồ phải dâng mình làm của lễ đẹp lòng ĐCT, phải là người được biến hóa với sự đổi mới tâm trí, là người khiêm nhường, không nghĩ quá cao về mình.
Cũng vậy PL dạy trong Ê-phê-sô 4:1-3: phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau, 3 dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. Sau đó PL mới viết về ân tứ: Chính Ngài cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm truyền giáo, một số làm mục sư và giáo sư, 12 nhằm mục đích trang bị các thánh đồ trong công tác phục vụ, gây dựng Thân Thể Chúa Cứu Thế (11-12 - BDM)
Trong 1 Cô-rinh-tô 12, sau khi nêu lên các ân tứ TL ban cho HT, sứ đồ PL nhắc các tín đồ: Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn. Kế là đoạn KT quen thuộc về tình yêu thương mở đầu với sự cả quyết rằng dù có ân tứ gì đi nữa, dù cho hy sinh phục vụ đến mấy đi nữa nhưng không có tình yêu thương, tức con đường tốt lành hơn, tức sự ban cho lớn lao hơn, thì cũng vô ích, luống công.
Theo lời KT dạy thì ân tứ TL không thể tách rời với trái TL vì mục đích là làm sáng danh Chúa, làm lợi ích cho HT ĐCT. Tín đồ có trái TL chú tâm vào việc gây dựng HT thay vì quyền lợi, chức vụ, danh tiếng của mình. Họ phục vụ với tấm lòng chân thành, yêu thương, khiêm nhường; với lời nói khả ái, mềm mại, xây dựng; với mục đích đem lại ích lợi cho HT mà duy trì sự hiệp một.
Người có trái TL thay vì đả kích, gây dựng. Thay vì chê bai, đóng góp. Thay vì trách móc, hờn giận, tha thứ. Thay vì tách rời, tham gia. Dù tín đồ có hàng chục ân tứ nhưng mau buồn giận, trách móc, chê bai, đả kích, so sánh thì có lợi ích gì cho HT? Ân tứ ĐTL chỉ có giá trị thật sự trong đời sống tín đồ khi được xử dụng cho lợi ích của thân thể ĐCJC là hội thánh.
Giáo sư thần học Millard Erickson, tác giả của sách giáo khoa thần học Thần Học Cơ Đốc Giáo, tóm tắt về ân tứ TL và trái TL như sau: Bông trái TL quan trọng hơn về nhiều phương diện so với việc nhận lãnh ân tứ. Theo đánh giá của PL, trái TL là bằng chứng thật về việc ĐTL đang làm việc trong đời sống của tín đồ.
Tôi hoàn toàn đồng ý với những lời này. Vì bài giảng này là về ân tứ TL nên tôi dành nhiều thời gian hơn để giải thích ân tứ TL là gì, để làm gì, làm sao để khám phá ân tứ TL. Tuy nhiên theo lời Chúa dạy trong 1 Cor 13:1-2 thì trong đời sống người tin Chúa, trái TL quan trọng hơn bội phần ân tứ TL. Lời khuyên của tôi cùng con cái Chúa trong HT là hãy tìm kiếm trước hết trái TL, hãy để ĐTL trước hết thay đổi con tim, tấm lòng để có lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Hãy chú tâm vào việc trao dồi trái TL hơn là tìm kiếm ân tứ TL.
ÂN TỨ THÁNH LINH ĐỂ LÀM GÌ?
KT dạy rất rõ ĐTL ban ân tứ cho tín đồ trong HT để phục vụ, để gây dựng HT. Mục đích của ân tứ là để phục vụ, đóng góp, gây dựng HT Chúa. Nói cách khác ĐTL không ban ân tứ cho tín đồ tiêu thụ mà chỉ cho tín đồ phục vụ. Ân tứ được ban cho với mục đích cụ thể để làm lợi ích chung cho hội thánh, chứ không phải làm nổi bật cá nhân. KT dạy rất rõ là không ai có được hết tất cả ân tứ (12:14-21), cũng không có ân tứ nào được ban cho hết thẩy mọi người (12:28-30). Mục đích là để mọi tín đồ trong HT đều cần đến nhau, nương cậy nhau, cùng làm việc chung và tương trợ lẫn nhau.
Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung. (1 Cô-rinh-tô 12:4-7) Người nói tiên tri quan trọng hơn người nói tiếng lạ mà không được thông dịch để hội thánh được xây dựng. (14:5) Anh chị em cũng vậy, vì anh chị em khao khát tìm kiếm các linh ân, thì hãy hết sức tìm kiếm để xây dựng hội thánh. (14:12) Chính Ngài cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm truyền giáo, một số làm mục sư và giáo sư, 12 nhằm mục đích trang bị các thánh đồ trong công tác phục vụ, gây dựng Thân Thể Chúa Cứu Thế (Ê 4:11-12)
Hai hình ảnh về HT cho thấy rõ về mục đích của ân tứ TL:
1) HT như đền thờ ĐCT mà mỗi tín đồ là một viên đá Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà, 21 cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa. 22 Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh. (Ê-phê- sô 2:20-22). ĐTL là Đấng chọn để ban cho ân tứ và quyết định vị trí của mỗi viên đá trong nhà Chúa.
2) HT như thân thể Đấng Christ. Tín đồ trong HT là chi thể của thân mà đầu là Đấng Christ. Đây là hình ảnh mà PL dùng nhiều hơn hết khi giải thích về các việc khác nhau của ân tứ TL. Vì trong một thân tất cả các chi thể đều tùy thuộc lẫn nhau và có quan hệ mật thiết với nhau. Như PL dạy: Nhưng Đức Chúa Trời đã xếp đặt mọi chi thể trong thân thể, mỗi bộ phận tùy theo ý Ngài. 19 Nếu tất cả chỉ là một bộ phận thì thân thể ở đâu? 20 Nay tuy có nhiều chi thể nhưng chỉ có một thân thể. 21 Mắt không thể nói với tay: Tôi không cần anh; đầu cũng không thể nói với chân: Tôi không cần anh. (1 Cô 12:18-21 – BDM)
Vậy ân tứ phải được dùng trong sự hiệp tác với anh chị em trong HT với mục đích gây dựng HT. Câu hỏi là khi tôi dùng ân tứ Chúa ban cho để phục vụ trong HT tôi có nghĩ đến lợi ích chung của HT, có nghĩ đến mối liên hệ với các anh chị em trong HT, hay chỉ biết, chỉ nghĩ đến phần việc của mình mà bất chấp các công việc khác trong HT.
Tín đồ thường hiểu nhầm hai điều khi dùng ân tứ: 1) Chỉ có người có ân tứ mới phục vụ và 2) Chỉ có những người có ân tứ mới giữ chức vụ trong HT. ĐCT ban nhiều mạng lệnh, điều răn cho tất cả tín đồ.
KT dạy tất cả tín đồ đều làm chứng cho Chúa dù ở đâu, làm gì: Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất (CV 1:8). Các ngươi trong câu KT này khi Chúa phán gồm 120 người trên phòng cao, trong số đó có các sứ đồ, phụ nữ, và những người khác. Mạng lệnh này cũng áp dụng cho mọi tín đồ trong mọi HT toàn cầu, chứ không riêng cho những người có ân tứ làm chứng. Tuy nhiên một số người được Chúa ban cho ân tứ hết làm chứng, truyền giảng.
KT dạy tất cả tín đồ đều cần khuyên bảo, động viên, khích lệ nhau: Chúng ta hãy lưu ý khích lệ nhau trong tình yêu thương và các việc lành. 25 Đừng bỏ sự nhóm họp với nhau như thói quen của vài người, nhưng hãy khuyên giục nhau; anh chị em nên làm như thế nhiều hơn khi thấy Ngày Chúa càng gần (Hê-bơ-rơ 10:25). Tuy nhiên trong số các ân tứ có liệt ra ân tứ khuyên bảo trong Rô-ma 12:8 ai được ân khích lệ, hãy khích lệ anh chị em
KT dạy dạy tất cả tín đồ dâng hiến, như trong CU dâng hiến là điều mọi người DT đều làm: Mỗi người nên quyên giúp tùy lòng đã định, không phải vì miễn cưỡng hay bị ép buộc. Vì Đức Chúa Trời yêu người hiến tặng một cách vui lòng (2 Cô-rinh-tô 9:7). Nhưng một số được ban cho ân tứ dâng hiến: ai được ân ban phát hãy rộng rãi ban phát. Đây là những người Chúa mà một MS tại VN gọi là các đại gia Cơ Đốc.
KT dạy tất cả phải sống với đức tin: Vì chúng ta sống bởi đức tin, chứ không phải bởi điều mắt thấy.(2 Cô-rinh-tô 5:7) hay như trong Hê-bơ-rơ 11:6 Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài. Nhưng một số được ban cho ân tứ đức tin đến nỗi có thể dời non chuyển núi (1 Cor 13:2)
KT dạy tất cả tín đồ đều phải biết phân biệt lẽ thật của đạo Chúa và tà giáo: Những người nầy [Bê-rê] có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng. (CV 17:11). Hay như trong lời dạy trong 1 Tê 5:21 và 1 Giăng 4:1 Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ. Nhưng ĐTL ban cho ân tứ nhận biết cho một số tín đồ.
Vì vậy công việc Chúa trong HT không phải chỉ giới hạn cho những người có ân tứ TL, nhưng một số lớn công việc đều có thể thực hiện bởi mọi người: như việc làm chứng, việc khuyên bảo, việc dâng hiến, việc học và chia sẻ lời Chúa như các em thanh niên mỗi ngày chia sẻ với nhau qua text về những điều học được từ lời Chúa dạy.
Tôi tin rất nhiều khả năng HT cần mà tín đồ có được là qua việc huấn luyện, trang bị. Như âm nhạc, dù là sử dùng các nhạc cụ hay hát thờ phượng, âm thanh, chăm sóc, bảo quản cơ sở, thăm viếng, làm chứng, dạy các lớp KT... Rất nhiều tín đồ nghĩ rằng ĐTL ban ân tứ có nghĩa là tôi đang không có khả năng đó, chỉ đến tuần sau bổng nhiên tôi có thể làm việc đó. Tôi không nói việc này không xảy ra nhưng rất hiếm. Thường thì ĐTL dùng khả năng đang có khi chúng ta dùng để phục vụ và biến nó thành ân tứ để tạo kết quả, để gây dựng cho HT. Vì vậy mỗi tín đồ đều có trách nhiệm phải học hỏi, phải được trang bị, huấn luyện để có thể phục vụ.
Chúng ta cũng cần hiểu rằng không phải chỉ có những người giữ chức vị là những người được ân tứ TL. Một tín đồ có thể có ơn giảng dạy nhưng không giữ chức vụ trưởng ban. Hôm nay dù HT Báp-tít không phong chức cho phụ nữ làm mục sư nhưng có nhiều phụ nữ có ơn của người mục sư. KT dạy Đa-vít được Chúa chọn làm vua nhưng ông cũng có ơn tiên tri. Hay như trong CV 21:8-9 nói về 4 con gái của sứ đồ Phi-líp có ơn tiên tri nhưng không hề giữ chức vụ của người tiên tri.
Trong 3 đoạn KT về ân tứ TL (1 Cor 12, Rom 12, Eph 4) PL liệt ra 20 loại ân tứ khác nhau cho việc phục vụ, gây dựng HT. 5 ân tứ liệt ra trong Êp 4:11-12 đều thuộc về loại ân tứ chia sẻ, giảng dạy, gồm có: sứ đồ, tiên tri, thầy giảng TL (truyền giáo), mục sư và giáo sư. 5 ân tứ này đều là danh từ và cũng có thể xem như những chức vụ khác nhau trong HT. 7 ân tứ liệt ra trong Rô-ma 12:6-8 đều gồm những động từ: nói tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khuyên bảo, dâng hiến, lãnh đạo, động viên. Chủ yếu là về những công việc khác trong HT. Và 8 ân tứ viết trong 1 Cô-rinh-tô 12 gồm cả 2, ơn phục vụ và ơn giảng dạy.
1 Pet 4:10-11 tóm lại làm 2 loại: 1) Ân tứ chia sẻ, giảng dạy lời Chúa (speech gift); 2) Ân tứ phục vụ công việc Chúa (act gift).
Ân Tứ Chia Sẻ, Giảng Dạy: sứ đồ, tiên tri, thầy giảng Tin Lành (truyền giáo), mục sư, giáo sư
Mục Đích: Trang bị các thánh đồ trong công tác phục vụ, gây dựng Thân Thể Chúa Cứu Thế. Trang bị để các thánh đồ, tức mỗi người tin Chúa phục vụ, gây dựng HT. Qv nghe giảng, học KT là để được trang bị để phục vụ. Đây là sự khác biệt giữa tín đồ phục vụ và tín đồ tiêu thụ. Tín đồ tiêu thụ chỉ đến nghe giảng, tham gia các lớp học KT để thêm hiểu biết về KT, về Chúa nhưng rồi giữ những điều đó cho mình, không phục vụ.
Đây là một điểm vô cùng quan trọng mà tôi không biết phải nhấn mạnh, lập lại bao nhiêu lần. Bởi vì rất nhiều tín đồ nghĩ rằng việc họ cần làm là dâng hiến, chấm hết. Những việc khác của HT là do MSQN, BĐH, trưởng phó ban, những người được Chúa ban cho ân tứ đặc biệt. Lời PL dạy trong Ep 4:12 rất rõ, không thể hiểu lầm là những người được Chúa ban cho ơn giảng dạy sẽ trang bị cho tín đồ trong HT để mọi tín đồ đều có thể phục vụ công việc Chúa. Và khi phục vụ ĐTL sẽ ban ân tứ.
Ân Tứ Phục Vụ: nói tiên tri, khuyên bảo, dâng hiến, lãnh đạo, động viên, khôn ngoan, tri thức, đức tin, nhận biết các thần, làm phép lạ, chữa bịnh, giúp đỡ, quản trị, nói các tiếng lạ, thông dịch các tiếng lạ
Mục Đích: mọi tín đồ đều dự phần trong việ gây dựng hội thánh và cho ai nấy đều được sự ích chung.
Chúa đặt để mỗi chúng ta vào những vị trí, môi trường, hoàn cảnh độc nhất để có thể làm chứng cho những người chưa tin Chúa, để động viên anh chị em trong Chúa mà không ai khác có thể làm được. [Ví dụ về cô Vân đến tiệm Chẩn Thảo được mời đến HT hay chị Ngân mời anh Phùng. Cả hai giờ đã tin nhận Chúa và đang học lớp giáo lý căn bản và sẽ nhận lễ báp-tem vào lễ Tạ Ơn]
Vì thời gian giới hạn, trong phần này của bài giảng tôi sẽ làm 2 điều: 1) Giải thích ngắn gọn về 5 ân tứ, chức vụ liệt ra trong Eph. 4 và các ân tứ phục vụ trong Rô-ma 12 và 1 Cor 12; 2) Trả lời câu hỏi là có phải tất cả ân tứ PL liệt ra trong cả 3 đoạn KT vẫn còn hay một số đã chấm dứt ngày nay, như sứ đồ, tiên tri, chửa bệnh, làm phép lạ, nói tiếng lạ.
Sứ đồ gồm 12 người chính ĐCJC đã chọn. Sau khi Giu-đa Ít-ca-ri-ốt tự tử, HT chọn một sứ đồ khác để thế chỗ. Ít nhất có 2 điều kiện của người được Chúa chọn làm sứ đồ: 1) Chính mắt thấy, chính tai nghe ĐCJC trước hoặc sau khi Chúa sống lại; 2) Được Chúa dùng để xây nền HT đầu tiên, có nghĩa là ghi lại những điều chính mắt họ thấy, chính tai họ nghe về ĐCJC trong 4 sách PA và truyền lại những lời dạy của ĐCJC cho các thế hệ tín đồ sau Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà (Eph 2:20). Chức vụ này đã chấm dứt hôm nay.
Tiên tri. Từ tiên tri trong KTCU gồm 2 nghĩa: 1) Người được ĐCT sai phái để nhắc nhở, cảnh cáo vua dân DT và các nước về những lời dạy của ĐCT và về tội lỗi họ phạm cùng Chúa; 2) Người được ĐCT dùng để khải thị về những điều trong tương lai. Trong KTTU từ tiên tri chỉ mang ý nghĩa thứ 2, tức nói về những điều trong tương lai, như A-ga-bút trong CV 11:28 tiên tri về nạn đói lớn sẽ xãy ra Một người tên A-ga-bút đứng dậy và cậy quyền năng Thánh Linh báo trước rằng sẽ có nạn đói lớn xảy ra khắp nơi có cư dân (Nạn đói này xảy ra dưới triều Cơ-lốt). Hôm nay một số hệ phái vẫn còn dùng danh xưng, chức vụ này.
Truyền giáo là những người có ơn giảng TL để đem người chưa tin Chúa đến với Ngài. Từ này cũng để nói về những người đi đến các nơi mà TL chưa được rao giảng.
Mục sư là người chăn bầy, lãnh đạo HT. Giáo sư là người có ơn dạy lời Chúa, giải thích lời Chúa cách rõ ràng, sâu sắc, và giúp người học áp dụng lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Thật ra dù các bản dịch Việt và Anh phân biệt 2 chức vụ này nhưng hai từ mục sư, giáo sư không cách nhau với từ nối và như các chức vụ khác. Nói cách khác có thể dịch là mục sư-giáo sư.
Các ân tứ phục vụ gồm có: khuyên bảo, dâng hiến, lãnh đạo, động viên, khôn ngoan, tri thức, đức tin, nhận biết các thần, làm phép lạ, chữa bịnh, giúp đỡ, quản trị, nói các tiếng lạ, thông dịch các tiếng lạ.
HT Chúa cần tất cả các ân tứ này. Hầu hết các ân tứ này đều rõ nghĩa. Nên tôi chỉ xin tập trung vào một vài ân tứ cần thiết cho HT chúng ta. Trước hết 2 ân tứ khuyên bảo và động viên khác nhau, giống nhau thế nào. Đây là 2 từ khác nhau: thương xót (mercy), động viên (exhortation). Mọi tín đồ đều nhận được ơn thương xót từ ĐCT và phải bày tỏ lòng thương xót, cảm thông, nhân từ với mọi người, nhưng có những người Chúa ban cho ân tứ rất đặc biệt này. Ân tứ này thường gắn liền với ân tứ động viên, khích lệ, khuyên bảo.
Khi xem các ân tứ này, mọi người chắc sẽ hỏi ân tứ làm phép lạ, chữa bệnh, nói và dịch các tiếng lạ hôm nay còn hay không? Trước hết chúng ta cần xác định rõ ý nghĩa của ân tứ ban cho HT, có nghĩa là tất cả hay phần lớn các HT đều nhận những ân tứ lạ này. Dưới mắt loài người thì 4 ân tứ này rất lạ và hiếm. Dù mọi ân tứ đều được ĐTL ban cho nhưng dưới mắt loài người thì 4 ân tứ này cho thấy rõ hơn hết về quyền năng ĐCT. Như PL viết người Giu-đa tìm kiếm phép lạ, dấu kỳ. Nếu theo ý nghĩa này thì 4 ân tứ này thì ngày nay không còn 4 ân tứ này vì hầu hết các HT đều không có các ân tứ này. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là ĐTL không còn ban ân tứ cho các tín đồ tại một vài nơi, trong vài HT để bày tỏ quyền năng của ĐCT.
KHÁM PHÁ ÂN TỨ THÁNH LINH
Vài điều quan trọng cần nhớ:
Không phải người có khả năng là người sẽ có ân tứ. Dù có khả năng trong việc tổ chức, nhưng không chắc sẽ có ân tứ quản trị HT ĐCT vì sự kiêu hảnh hay động cơ sai quấy.
Phải rất cẩn thận khi cho rằng tôi có ân tứ này, ân tứ nọ. Ân tứ chỉ được rõ khi phục vụ HT, không phải làm những điều tôi muốn, tôi thích.
Tín đồ không thể nói tôi không có ân tứ nên không làm gì hết. KT dạy rõ nhiều mạng lệnh mà mọi tín đồ đều phải thực hiện như làm chứng, dâng hiến, phục vụ, động viên, khích lệ nhau...
Đừng xem các ân tứ của mình quan trọng hơn, cần thiết hơn của các anh chị em trong HT.
Tín đồ HT không thức dậy một buổi sáng được nghe tiếng Chúa phán: ĐTL ban cho con ân tứ giảng dạy. Chúng ta nhận được ân tứ TL để phục vụ, gây dựng HT. Vậy chúng ta chỉ có thể khám phá ân tứ Chúa ban khi phục vụ, gây dựng HT. Bốn bước sau đây giúp qv khám phá ân tứ TL:
Chú ý xem HT có những nhu cầu gì, có việc gì, có mục vụ gì đang cần người giúp.
Cầu nguyện xin Chúa nhắc nhở, chỉ dạy với những khả năng con đang có, dù ít hay nhiều, dù yếu kém hay tài giỏi, con có thể đóng góp trong những công việc nào của HT. Tôi không thể cầu xin Chúa cho tôi phục vụ trong việc nấu ăn vì tôi biết mình chỉ làm mất tín đồ và trở ngại cho việc thông công.
Tham gia, đóng góp vào những công việc Chúa nhắc nhở. Dùng khả năng Chúa ban cho mà hết lòng làm việc, phục vụ.
Ghi nhận những đóng góp, xây dựng chân thành và cụ thể của anh chị em trong HT để thay đổi tốt hơn. Dự các lớp huấn luyện để thêm hiểu biết và kết quả về mục vụ đang làm.
