Giá Trị Một Đồng Bạc
Tuần này và vài tuần lễ tới chúng ta sẽ đọc trong Lu-ca 15 về ba câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể. Trong 3 câu chuyện đó, một chuyện rất quen thuộc thường được gọi là câu chuyện về người con trai hoang đàng. KT có rất nhiều ví dụ, hình ảnh, câu chuyện nói về tình yêu của ĐCT cho con người nhưng 3 câu chuyện này bày tỏ rất rõ ràng, cảm động về tình yêu của Chúa cho tội nhân. Tôi xin được đọc lời Chúa trong Lu-ca 15:1-10 về 2 chuyện ngụ ngôn đầu tiên.
Mọi người đến một tuổi nào đều có một suy nghĩ, quan điểm về những vấn đề, sự việc trong đời sống: về những điều quan trọng, không quan trọng; về giá trị; về đạo đức; về xã hội, quan hệ… Rất nhiều lúc quan điểm của chúng ta khác với lời dạy KT. Trong 3 chuyện này ĐCJC dạy rõ về sự khác biệt giữa cái nhìn, đánh giá, quan điểm của người Pha-ri-si, thầy dạy kinh luật về tội lỗi và về giá trị một người. Đây là nguyên nhân chính ĐCJC kể 3 câu chuyện ngụ ngôn.
Câu 1-3 cho biết: Bấy giờ, tất cả người thu thuế và người tội lỗi đều đến gần Chúa để nghe Ngài dạy dỗ. 2 Các người Pha-ri-si và chuyên gia kinh luật lầm bầm: "Ông này tiếp hạng người tội lỗi và ăn uống với họ!" 3 Đức Giê-su bèn dạy họ ngụ ngôn này (1-3)
Lý do chính là vì những người Pha-ri-si và chuyên gia kinh luật lầm bầm rằng Chúa không chỉ đón tiếp người tội lỗi nhưng còn ăn uống với họ nữa. Chú ý từ tất cả nói lên một số rất đông người thu thuế và tội lỗi trong vùng đó đến để nghe lời Chúa. Họ đến nghe lời Chúa cách tự nguyện, vui lòng, không ai bắt buộc hay ép uổng. Còn người Pha-ri-si và chuyên gia kinh luật đến để làm gì? Để xem xét, dọ hỏi, tra vấn Chúa, để so sánh mình với người tội lỗi kia!
Chuyên gia kinh luật (scribe) là những người rất am tường luật pháp Mô-se và có thể giải thích, cắt nghĩa luật pháp đó, đặc biệt là những điểm rất khó hiểu và tế nhị trong luật pháp. Thường thì họ là thành viên của tòa thẩm phán tối cao của dân Do Thái bấy giờ là Sanhedrin gồm 71 người. Vậy đây là những người học thức, có địa vị cao trọng trong xã hội, được mọi người kính nể, trọng vọng, có tiếng tăm; họ là những người lãnh đạo và có thẩm quyền quyết định luật pháp Mô-se cho dân chúng.
Trong xã hội thời đó, nói chung có 4 nhóm người chính. Mỗi nhóm có thái độ, phản ứng khác nhau đối với xã hội chung quanh và với đế quốc La-mã. Thứ nhất là nhóm người Essene. Đây là những người vô cùng bảo thủ muốn rút khỏi xã hội, sống trong xa mạc cách khổ hạnh để khỏi bị ô nhiểm tội, giữ cho mình thánh khiết, tuân phục luật pháp trọn vẹn. Nhóm thứ hai là Zealot. Một trong 12 sứ đồ của ĐCJC tên Si-môn là người thuộc nhóm này. Chủ trương của họ là chống lại chính quyền La-mã bằng chính trị, thậm chí qua bạo động. Nhóm thứ ba là người Sadducees. Họ thân thiện với chính quyền La-mã. Đây là thành phần học thức, lãnh đạo văn hóa, xã hội. Họ không tin phép lạ, hay sự sống lại. Họ bỏ qua những chi tiết của luật pháp. Họ chỉ tin chung chung. Cuối cùng là nhóm người Pha-ri-si. Có thể gọi nhóm người này tầng lớp trung lưu, không giàu có hay học thức quá cao như nhóm Sadducee, không quá cực đoan như nhóm Essence từ bỏ xã hội, cũng không bạo động như nhóm Zealot. Họ quí trọng luật pháp Mô-se và cố vâng giữ mọi điều răn. Sống đạo đức, không giao tiếp, tránh xa kẻ có tội. Đây là nhóm người được dân chúng nể trọng, mến chuộng hơn hết.
Liên hệ về 4 nhóm người này trong xã hội ngày nay: 1) Phải đi tu, xa thế gian; 2) Tôn giáo không quan trọng bằng những cải cách xã hội, chính trị; 3) Sống trong một thế giới thượng lưu, trong tháp ngà, không hiểu lo lắng của những người bình dân; 4) Người trung lưu. Nếu so với xã hội ngày nay thì nhóm Pharisi thuộc về đa số dân chúng (main street, 60-70%) chứ không phải Wall Street hay những người trí thức sống trong tháp ngà. Đây là những người tin 10 điều răn và đi nhà thờ. Bên ngoài họ là người gương mẫu, đạo đức của xã hội. Đây cũng là nhóm người ĐCJC lên án nặng nề (xem Ma-thi-ơ 23). Chúa gọi họ là những người đạo đức giả, so sánh họ với những ngôi nhà mồ sơn trắng đẹp đẽ bên nhau nhưng bên trong đầy xác mục rữa.
Dưới mắt họ, ai là người có tội? Người thu thuế như Xa-chê hay người phụ nữ bị bắt phạm tội tà dâm, hay người đàn bà Sa-ma-ri có 5 đời chồng; những người thiếu đạo đức hơn họ. Theo họ thì ĐCT không bao giờ đón tiếp kẻ có tội. Jesus này chắc là người có tội nên mới giao tiếp với những người này! Hay Jesus này quá dễ dải với người có tội nên mới gần gũi họ như vậy!
2 Các người Pha-ri-si và chuyên gia kinh luật lầm bầm: "Ông này tiếp hạng người tội lỗi và ăn uống với họ!" Họ lầm bầm về hai vấn đề: tội lỗi và quan hệ với người có tội. Từ này chỉ được dùng 2 lần trong cả KT TU và cả 2 lần đều trong PA Lu-ca và đều nói về cùng một ý vặn hỏi tại sao ĐCJC lại có thể giao du với những kẻ tội lỗi, không những vậy mà còn là khách trong nhà họ. Lần thứ 2 từ được dùng là khi người thu thuế tên Xa-chê mời ĐCJC vào nhà ông dự buổi ăn: Ai nấy thấy vậy, đều lằm bằm rằng: Người nầy vào nhà kẻ có tội mà trọ! (Lu-ca 19:7). Từ này không phải chỉ là thầm thì với nhau nhưng là phàn nàn, trách móc với sự tức giận cho cả đám đông. Những người Pha-ri-si và chuyên gia kinh luật muốn mọi người, tất mọi người đều nghe và biết rõ ý của họ về việc ĐCJC tiếp cận với những người thu thuế và tội nhân. Họ không chỉ nói cho nhau nghe về sự bất mãn đối với ĐCJC nhưng còn cho cả đoàn dân gồm “bọn có tội”!
Vì Jesus làm trái lại với ý nghĩ của họ nên họ lầm bầm với nhau và với dân chúng! Và chính vì lý do này mà ĐCJC kể ba câu chuyện ngụ ngôn. Nói cách khác 3 câu chuyện này nhằm cho những người Pha-ri-si và thầy kinh luật, những người nghĩ mình hết sức gương mẫu, đạo hạnh, những người tin rằng nước thiên đàng sẽ mở rộng cửa để đón họ. Họ lầm tưởng hết sức về sự cứu rỗi, về nước Trời.
Qv nghĩ xem có phải đây cũng là ý nghĩ rất phổ thông hay không? Thiên đàng là nơi của những người tốt; chỉ có người tốt, người thiện mới được cứu. Kẻ có tội sẽ bị Trời bỏ! ĐCJC dạy: không, cả hai loại người này đều lạc lối, cả hai đều cần được cứu. Nếu có khác nhau chỉ là cách họ lạc lối, hư mất mà thôi.
Nếu trong qv có ai tưởng mình hiểu về đạo Chúa, hiểu về sự cứu rỗi nhưng vẫn còn nghĩ như người Pha-ri-si và thầy kinh luật thì phải xem lại. Nghĩ như người Pha-ri-si và thầy kinh luật có nghĩa là nghĩ rằng họ đạo đức hơn người có tội, họ hiểu biết luật pháp, sống thiện, làm tốt nên chắc sẽ vào thiên đàng. Còn phường điếm đĩ, phường thu thuế, phường tội lỗi sẽ chết đời đời trong địa ngục.
Qv có thể không tin câu KT tôi sẽ đọc sau đây: Đức Giê-su phán: "Thật, Ta bảo các ông những người thu thuế và phường đĩ điếm sẽ vào nước Đức Chúa Trời trước các ông (Ma-thi-ơ 21:31). Các ông đây là ai? Các thầy tế lễ cả và chuyên gia kinh luật.
Qv hỏi tại sao Chúa có thể nói như vầy? Câu trả lời đơn giản: người thu thuế và đĩ điếm biết họ có tội nặng, biết họ đáng bị xử phạt, nhưng những người Pha-ri-si, thầy tế lễ, chuyên gia kinh luật không nghĩ mình có tội cũng không tin tội họ đáng vào địa ngục. Biết tội là bước đầu tiên đưa đến ăn năn, thay đổi vì không biết, không tin mình có tội thì làm sao ăn năn, thay đổi?
Đây cũng không phải là lần duy nhất họ vặn hỏi khi thấy Jesus giao tiếp cùng tội nhân. Khi ĐCJC gọi Ma-thi-ơ, một người thu thuế, theo làm môn đồ và vào nhà ông để ăn tối, thì Mác cho biết: Sau đó Đức Giê-su ngồi ăn tại nhà Lê-vi, có nhiều người thu thuế và những kẻ bị coi là tội nhân cùng ngồi ăn với Ngài và môn đệ, vì nhiều người đã theo Ngài. 16 Các chuyên gia kinh luật thuộc phái Pha-ri-si thấy Ngài ăn chung với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi thì nói với các môn đệ Ngài: "Tại sao ông ấy ăn uống chung với bọn thu thuế và kẻ tội lỗi?" Khi nghe họ nói như vậy, ĐCJC trả lời: Khi nghe điều đó, Đức Giê-su đáp: "Không phải người mạnh khỏe cần thầy thuốc, mà là người đau ốm; Ta đến không phải để kêu gọi người công chính nhưng gọi kẻ tội lỗi." (Mác 2:15-17 - BDM).
ĐCJC đến cứu người đau ốm, người có tội. Ai là người có tội? Mọi người. Điều khác biệt là một số ý thức họ có tội, một số khác lại nghĩ rằng họ không có tội, hay tội không nặng để cần được cứu. Lại một số khác nghĩ rằng họ có thể tự cứu lấy mình qua việc tốt, công đức. Tin Lành, tin mừng, văn hoa hơn thì gọi là phúc âm mà ĐCJC rao giảng là cho người có tội: nếu ý thức mình là người tội lỗi và cần được Jesus cứu - tôi nhấn mạnh cần được cứu chứ không phải học để tự cứu hay làm công đức để tự cứu – thì sẽ được vào nước Trời.
Tôi muốn hỏi những người tin Chúa tại đây. Khi những kẻ có tội này đến với hội thánh, qv nghĩ sao? Thật lòng qv nghĩ sao? Hay nghĩ rằng hội thánh phải là hội của những người thánh? Qv có thật lòng tiếp đón họ, sẵn lòng tiếp đón họ hay không?
Quan điểm, sự đoán xét của người Pha-ri-si cũng là quan điểm, sự đoán xét của con người về sự cứu rỗi, về nước Trời. Chính vì lý do này mà ĐCJC kể 3 câu chuyện.
BA ĐIỂM GIỐNG NHAU
Cả ba câu chuyện này đều có 3 điểm giống nhau:
Mỗi chuyện đều nói về sự lạc mất. Chiên vì ngu dại đi lạc mất. Đồng tiền vì rơi rớt, hay không cẩn thận bị lạc mất. Người con trai chủ ý bỏ nhà ra đi lạc mất.
Moi chuyện đều nói về sự tìm lại được. Người chăn tìm lại được chiên lạc. Người đàn bà tìm được đồng bạc mất. Người cha tìm lại đứa con hoang đàng, đã bỏ nhà ra đi, giờ trở về.
Mỗi chuyện đều nói về sự vui mừng khi điều đã mất tìm lại được. Hơn thế nữa, sự vui mừng này được bày tỏ công khai cùng những bè bạn.
Vậy chủ ý của ĐCJC cùng người nghe (cả những người thu thuế, người có tội, Pha-ri-si, thầy kinh luật) là về kẻ có tội lạc mất. Khi ăn năn trở lại, khi được ĐCT cứu lại về ràng, thì cả thiên đàng đều vui mừng. Hai lần ĐCJC lập lại: Cũng thế, thiên đàng sẽ vui mừng về một tội nhân ăn năn hơn là chín mươi chín người công chính không cần ăn năn. (Lu-ca 5:7 – BDM); Ta bảo các ông: "Cũng thế, các thiên sứ trước mặt Đức Chúa Trời sẽ vui mừng vì một tội nhân ăn năn." (5:10)
Hai bài học qua hai câu chuyện này: 1) Tội lỗi theo ĐCT; 2) Giá trị theo ĐCT.
TỘI LỖI THEO ĐỨC CHÚA TRỜI
Suy nghĩ, quan điểm, đánh giá của người Pha-ri-si về tội và người có tội cũng là suy nghĩ của nhiều người. KT dạy gì về tội lỗi? Trước hết tội lỗi không chỉ những việc làm thể hiện bên ngoài nhưng còn trong những suy nghĩ sâu kín nhất. Bài giảng trên núi của ĐCJC dạy rất rõ điều này. Chúa dạy: "Các con nghe lời dạy cho người xưa rằng: "Chớ giết người. Ai giết người thì bị trừng phạt. Nhưng Ta bảo các con: "Ai giận anh em mình thì đáng bị trừng phạt. Ai mắng anh em mình là ngu xuẩn thì đáng bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là điên khùng thì đáng bị ném vào lửa hỏa ngục. (5:21-22) Và "Các con đã nghe lời dạy rằng: "Chớ ngoại tình. Còn Ta dạy các con rằng: "Hễ ai nhìn đàn bà với lòng tham muốn người ấy, thì đã ngoại tình trong lòng rồi. (5:27-28) Nếu có một màn hình dọi tất cả những ý nghĩ của qv lên trong một ngày thì qv có muốn không?
Người Pha-ri-si và thầy kinh luật đoán xét, đánh giá người thu thuế, tội nhân vì tội của họ có thể nhìn thấy được. Nhưng ai biết được những ý tưởng tội lỗi bên trong một người. Chúng ta đánh giá nhau theo những gì thấy được bên ngoài, nhưng ĐCT nhìn thấu trong lòng con người mà xét xử.
Tội lỗi, theo lời dạy KT, cũng không phải chỉ những điều trái lại với luật pháp, nhưng còn là xa lánh, bỏ chạy khỏi Chúa. Đây là ý nghĩa của hai câu chuyện về con chiên đi lạc và người con trai hoang đàng. Con chiên lạc nói với người chăn chiên rằng: tôi không cần ông để có thức ăn, thức uống. Người con hoang đàng bỏ nhà ra vì không cần đến cha, tìm vui nơi thế giới bên ngoài.
Định nghĩa bình thường về tội là “trái phạm, phá bỏ luật lệ” ĐCJC dạy: chủ yếu của tội là từ chối quyền làm chủ của ĐCT. Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. 11 Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. 12 Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. (Rô-ma 3:10-11) Hay Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. (Ê-sai 53:6)
ĐCJC định nghĩa tội là khi con người chủ ý từ chối Chúa, từ chối con đường, quyền làm chủ của Chúa trong đời sống. Tội là khi chúng ta nói rằng: tôi là chúa của chính tôi, tôi không cần ĐCT, tôi có thể tự cứu tôi. Và con người có trăm, ngàn cách thức để thực hiện điều này. Trong xã hội ngày nay, khoa học, kỹ thuật là chúa, là phương tiện cứu cánh của con người. Chỉ có những người lạc hậu, quê mùa, thiếu hiểu biết mới cần đến Chúa cho đời sống họ. Qv có thấy rằng trong xã hội này có biết bao nhiêu cách thức để thay chổ của Chúa cho đời sống.
Ba câu chuyện nói lên những cách thức khác nhau con người từ chối, bỏ đi khỏi ĐCT. Con chiên bỏ ràng, bỏ người chăn đi vì ngu dại. Chiên rất ngu dại. Hay lạc mất vì không cẩn thận như đồng tiền. Hay bởi lòng kiêu hảnh và chủ ý như người con trai hoang đàng. Nguyên nhân của tội lỗi không đơn giản, có thể vì một người dại ngờ, có thể vì hoàn cảnh, cũng có thể vì chủ ý, hay phối hợp của những điều này. Nhưng dù lý do gì, nguyên nhân gì thì đều có ý chối từ Chúa, quyền làm chủ trong đời sống.
Cả người thu thuế và người Pha-ri-si, cả kẻ có tội và thầy kinh luật đều từ bỏ ĐCT. Người có tội thì sống theo ý thích, theo xác thịt, dục vọng của mình, không màng đến lời Chúa dạy. Người Pha-ri-si thì nghĩ rằng mình chỉ cần giữ luật pháp thì sẽ được ĐCT nhận là người công chính. Bằng sức lực, cố gắng của chính họ, họ nói với ĐCT rằng tự tôi có thể cứu tôi mà không cần đến Chúa!
GIÁ TRỊ THEO CHÚA
Bài học thứ hai là một bài học hết sức quan trọng. Nếu hiểu được điều này thì mới có thể hiểu được tình yêu thương của ĐCT dành cho loài người. Bài học đó là qv và tôi là báo vật, của quí của ĐCT. Báo vật, của quí? Thật vậy sao hay mục sư phóng đại hóa câu chuyện này?
Làm sao chúng ta định giá một người, một vật hay một món đồ? Theo tiêu chuẩn, suy nghĩ, nhận thức về giá trị nào? Theo đời thì người ta định giá một người qua sắc đẹp, tài giỏi, thành công, giàu sang, chức vị. Hễ người càng đẹp, càng giỏi, càng cao chức, càng giàu có thì càng được quí.
Về đồ vật người ta dựa vào đâu để định giá? Vào sự hiếm có, vào lợi ích, vào luật cung cầu. Hễ vật càng được nhiều người muốn nhưng lại hiếm thì càng đắt giá. Hễ vật càng đem lại nhiều lợi ích nhưng không có nhiều thì giá càng cao. Trước khi iPhone 6 sắp ra, hằng triệu người đã đặt trước trên mạng. Đến ngày bán tại tiệm thì người ta sắp hàng để mua cho được, dù phải đứng đến mấy tiếng đồng hồ. Nghĩ đến vật quí, qv chắc nghĩ ngay đến vàng bạc, kim cương, nghĩ đến đồng hồ Thụy Sĩ vàng 18, cẩn hột soàn, làm bằng tay như Omega hay Patek Philippe. Nếu lên mạng tìm Patek Philippe 5002P qv sẽ thấy giá từ 1 triệu 355 ngàn đến 1 triệu 750 ngàn!
Tháng 6 năm qua (June 8, 2015) Christie, một hãng đấu giá các tác phẩm nghệ thuật, có đấu giá một bức tượng của tác giả tên Alberto Giacometti. Đây là bức tượng, được gọi là Man Pointing. Một tỉ phú tên Steven Cohen đồng ý chịu trả $141.3 triệu cho bức tượng này.”
3 năm trước đây (2013/11/13) cũng tại một cuộc đấu giá của hãng Christie về một bức tranh của Francis Bacon có tên là “Three Studies of Lucian Freud”. Chỉ 6 phút sau khi bắt đầu cuộc đấu giả, thì giá tăng lên vùng vụt, trị giá của bức tranh lên đến gần $80 triệu. Cuối cùng một người thắng giá và chịu trả $142 triệu cho bức tranh này.
Chỉ một bức tranh, một bức tượng, một cái đồng hồ đeo mà người ta dám trả hằng trăm triệu, trăm ngàn. Đây là những vật vô trí chỉ để chưng bày, không thở, không sống, không trò chuyện, động viên, an ủi được ai mà lại được định một giá trị cao đến như vậy. Cũng những người tỉ phú, triệu phú dám trả hằng trăm triệu, trăm ngàn cho một bức tranh, bức tượng vô tri, vô thức lại là những người không chịu bỏ thời gian, kiên nhẫn, yêu thương để giữ trọn một cuộc hôn nhân. Lắm khi chúng ta dám trả một giá cao cho những vật không đáng, nhưng lại keo kiệt cho người quanh mình, cho người thân thiết.
KT dạy loài người đánh giá theo bên ngoài nhưng ĐCT đánh giá theo bề trong. Một người dù tật nguyền, xấu xí, nghèo khó, thất học, dưới mắt Chúa vẫn có một giá trị cao. Tại sao? Vì họ được tạo dựng theo hình ĐCT. ĐCJC dạy: Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại? (Ma-thi-ơ 16:26)
Ai bỏ công sức, lao khổ, hy sinh đi tìm vật, tìm người mình không xem là quí. Nếu qv mất một quarter rơi xuống cống, rơi xuống nhà vệ sinh, qv có chạy vội, bảo với ai đó xin dở ống cống lên cho tôi lượm lại đồng quarter, hay thọc tay vào cầu để lượm lại đồng đó? Nếu là hột soàn 5-7 carat hay chiếc đồng hồ trị giá 1.7 triệu thì chắc rồi. Dơ cách mấy cũng chịu vì giá trị to lớn của vật mình đã mất.
Tôi và qv là đồng bạc cắt không đáng giá, rơi vào cống, vào cầu. Tôi và qv là con chiên ngu dại, bỏ ràng đi lạc, kẹt trong bụi gai, rớt xuống trũng sâu. Tôi và qv là người con hoang đàng, tự ý bỏ nhà ra đi, đói khổ đến nỗi muốn ăn đồ của heo nhưng không được. Tôi và qv không phải là đồng bạc cắt duy nhất hay con chiên duy nhất, hay người con duy nhất. Còn 99 đồng nguyên vẹn kia; còn 99 con chiên trong chuồng; vẫn còn người con khác trong nhà.
Vậy đó mà người chăn để lại 99 con để đi tìm con chiên lạc cho bằng được. Và khi tìm được rồi, vác lên vai đem về rồi gọi bạn hữu đến để chung vui về tin mừng này. Vậy đó mà người đàn bà phải thắp đèn lên, quét nhà, kiếm thật kỹ cho đến khi tìm được đồng bạc đó. Rồi gọi bạn bè, hàng xóm đến để chung vui cùng mình. Vậy đó mà người cha luôn mong đợi đứa con hoang đàng trở về. Khi nó trở về cha làm tiệc lớn để thết đãi. Qv có thấy tình yêu thương bao la của ĐCT dành cho tội nhân hay không? Không phải 100, 1000 tội nhân nhưng dù chỉ 1 tội nhân thì Chúa vẫn đi tìm để cứu!
Qv chú ý lời Chúa trong câu 4 và câu 8 Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho kỳ được sao? Hay là, có người đàn bà nào có mười đồng bạc, mất một đồng, mà không thắp đèn, quét nhà, kiếm kỹ càng cho kỳ được sao? ĐCJC nói về việc đi tìm một con chiên lạc, một đồng tiền mất như là một việc tất nhiên, việc mọi người đều làm. Nhưng thực tế trong cuộc đời này, khi một người đã có 99 con chiên, 9 đồng bạc thì ai lại bỏ công sức đi tìm kiếm cho đến khi nào kiếm được? Và bao nhiêu người kêu bè bạn đến ăn mừng vì một con chiên ngu dại bỏ đi, hay một đồng tiền rớt trong khe nhỏ?
Trong cuộc đời này, người ta bỏ biết bao nhiêu tiền của, công sức cho những điều họ giá trị. Hễ giá trị càng cao thì càng tốn kém hơn.
KT dạy: bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:18). Nhà cửa, xe cộ, bằng cấp, tiền tài, địa vị là những vật thấy được. Theo lời KT thì những điều này chỉ là tạm thời. Linh hồn con người là điều không thấy được. Theo lời KT thì linh hồn là đời đời không cùng. Qv có tin lời KT dạy không? Nếu tin, thì tại sao lại không chịu trả giá gì cho linh hồn mình, cho linh hồn những người thân yêu mình, cho linh hồn những người đang hư mất? ĐCJC dạy: Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại? (Ma-thi-ơ 16:26)
ĐCJC ví mình như người chăn chiên, người đàn bà, người cha đi tìm, tìm điều đã mất cho đến khi tìm được. Trong các tôn giáo con người đi tìm Trời, khổ nhọc vô cùng mới tìm được chân lý, đặt được đạo. Theo chủ nghĩa duy vật vô thần thì con người chỉ là một sản phẩm của sự tiến hóa các loài vật, từ tế bào không ý thức cho đến loài động vật cao cấp như khỉ vượn, rồi đến loài người. Con người sinh ra rồi chết đi, bụi đất trở về với bụi đất. Không ý nghĩa, giá trị gì cả. Khi còn sống, giá trị con người không phải là giá trị tự tại nhưng qua công việc, khả năng họ có. Càng thành công càng có giá; hết thành công, hết giá. Còn sắc đẹp, còn giá; hết sắc đẹp, hết giá.
Không một tôn giáo nào, triết lý nào tôi biết dạy rằng ĐCT đi tìm con người, con người đang phạm tội để cứu họ, để đem họ về với Ngài. Thật khó tưởng tượng được người có tội như tôi và qv lại có giá trị đến như vậy với Chúa! KT không chỉ viết những lời này nhưng chính Ngôi Hai ĐCT qua ĐCJC đã xuống thế để đi tìm những con chiên đi lạc, những đứa con hoang đàng, những đồng tiền rơi rớt, tức là những người có tội để đem về lại với Ngài.
Hai điều khó cho người nghe 3 câu chuyện này. Thứ nhất nhiều người không tin rằng họ là chiên đi lạc, con hoang đàng, đồng tiền rơi rớt, là người có tội cần được cứu. Đây là những người nghĩ rằng họ công chính, làm mọi điều phải, như người Pha-ri-si, thầy kinh luật. Điều khó thứ hai cho một số người là họ nghĩ rằng họ đã phạm quá nhiều tội lỗi nên không thể nào còn có thể được cứu. Đây là những người tội nhân với một quá khứ xấu xa đến nỗi không hề muốn nhớ đến.
ĐCJC kể ba câu chuyện cho cả hai loại người, cho mọi người đây để nhắc rằng cả hai đều cần được cứu, cần được tìm để đem về lại cùng ĐCT.
Một đồng bạc ấn hành năm 1793 – Liberty đấu giá trên eBay $149,000. Một đồng bạc gọi là Fengtein ấn hành năm 1897 đấu giá trên eBay $2,2M!
