Giá Đắt Của Một Ước Mơ Bình Dị
Chúng ta đang trong thời kỳ cao điểm của cơn đại dịch covid-19 trên HK và cả tiểu bang NM nơi đang sống. Một số thống đốc, gồm cả thống đốc NM ra lệnh giới hạn số người trong gia đình nhóm lại mừng lễ Tạ Ơn. Có tiểu bang giới hạn 10 người, còn như tiểu bang NM này giới hạn chỉ 5 người trong 1 gia đình. Một vài thành phố có lệnh giới nghiêm sau 10 tối. 40 năm qua sinh sống tại đất nước HK này tôi không thể nào tưởng tượng được lệnh của các tiểu bang hạn chế số người trong gia đình có thể nhóm lại để mừng ngày lễ Tạ Ơn hay có giới nghiêm. Nhưng đây là một sự thật.
Một trong những bài học rõ hơn hết trong cơn đại dịch covid-19 này là rất nhiều điều trước đây chúng ta xem rất bình thường, thậm chí tầm thường, hoàn toàn không nghĩ đến thì hôm nay trở nên những điều hiếm hoi, giá trị với một giá đắt vô cùng. Như bao nhiêu người trong gia đình có thể nhóm lại mừng lễ, đến nhà thăm bạn, nhóm lại thờ phượng sáng Chúa nhật hay dự bửa ăn thông công sau giờ thờ phượng.
CS Lewis nhận xét rất sâu sắc rằng mọi khải tượng, dự tính quan trọng và vĩ đại nhất của một quốc gia cuối cùng cũng chỉ để biến những mơ ước bình dị hằng ngày của dân sự trong nước thành sự thật: Để mọi người không phải lo lắng vì chiến tranh, cướp bóc, bắt bớ, làm khó dễ cách vô cớ; để mọi người có công ăn việc làm đem lại lợi tức cho gia đình. Để con cái được đến trường học hàng ngày. Để sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc được trở về với mái ấm gia đình, nơi có tiếng nói tiếng cười vui của người mình thương mến. Để mỗi sáng Chúa nhật cả gia đình có thể đến nhà Chúa thờ phượng với anh chị em trong HT. Đây là những ước mơ vô cùng bình dị. Nhưng để những mơ ước này có thể trở thành sự thật, bao nhiêu người chiến sĩ, cảnh sát phải đổ máu để hy sinh cho đất nước được thanh bình, an ninh trật tự. Cha mẹ phải làm việc cực nhọc, đổ mồ hôi nước mắt để các con được ấm no đầy đủ, được đến trường học, được các món đồ chơi trong ba ngày lễ. Chồng vợ phải tập kiên nhẫn, nhường nhịn nhau mỗi khi có bất đồng ý kiến để gia đình được êm ấm.
Dù những ước mơ đó có bình dị nhưng giá trị không rẽ và đến cách tự nhiên hay dễ dàng như chúng ta thường nghĩ. Một khi không còn, vụt mất khỏi tầm tay mới thực sự hiểu rằng giá nó thật đắt và vô cùng quí báu.
Đoạn KT chúng ta sẽ cùng đọc sáng nay dạy rõ về giá đắt của một mơ ước rất bình dị của Đa-vít trong một giai đoạn hết sức khó khăn, thử thách của đời ông. Câu chuyện này về Đa-vít được ghi lại trong 2 sách, 2 Sam 23:13-17, 1 Sử Ký 11:15-19. 13Trong vòng ba mươi quan tướng, có ba người đi xuống nhằm lúc mùa gặt và đến cùng Đa-vít tại hang đá A-đu-lam, trong khi một cơ quân Phi-li-tin đóng trại tại trũng Rê-pha-im. 14 Bấy giờ Đa-vít ở trong đồn, và ở tại Bết-lê-hem có một đạo binh hờ của dân Phi-li-tin. 15 Đa-vít ao ước rằng: Chớ chi ta được uống nước bởi giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem! 16 Bấy giờ, có ba người quan tướng đầy lòng gan dạ, xông ngang qua trại quân Phi-li-tin, múc nước giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem, rồi đem về dâng cho Đa-vít; nhưng người từ chối không uống, bèn rảy nước đó ra làm lễ dâng cho Đức Giê-hô-va, 17 mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Tôi hẳn không uống đâu. Nước nầy khác nào huyết của ba người nầy, liều mạng sống mình đặng đi đến nơi kia. Vậy người không chịu uống. Đó là sự của ba người tướng mạnh bạo ấy đã làm. (2 Sam 23:13-17)
Khi nghe đến Đa-vít, hầu hết mọi người đều nghĩ ngay về câu chuyện Đa-vít và Gô-li-át, một chiến thắng đã đưa Đa-vít từ một cậu con trai út trong gia đình 8 anh em, sống nghề chăn chiên trở nên anh hùng dân tộc. Nhưng ít người biết rằng cũng như tất cả các nhân vật quan trọng trong KT, Đa-vít phải trải qua nhiều khoảng đời vô cùng khó khăn, đen tối và thất bại. Đoạn KT vừa đọc trong 2 Sam 23:13-17 là một trong những khoảng đời khó khăn, đen tối đó.
Ba điều trong bài giảng sáng nay: 1) Hoàn cảnh đen tối; 2) Ước mơ bình dị của Đa-vít; 3) Giá đắt của ước mơ bình dị
HOÀN CẢNH ĐEN TỐI
Trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu hoàn cảnh của Đa-vít trong đoạn KT này. Khi ĐCT từ bỏ vua Sau-lơ, Chúa sai tiên tri Sa-mu-ên đến làng (thành) Bết-lê-hem để xức dầu cho một cậu trai trẻ tuổi độ 15 tên Đa-vít, là người Chúa chọn để làm vua cho dân tuyển Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên cậu trai trẻ này phải trải qua bao nhiêu đồng vắng và gian nan, thử thách, hoạn nạn trước khi lên ngôi vua khi 30 tuổi.
Câu chuyện quen thuộc và nổi tiếng nhất về Đa-vít mà mọi người đều nghe biết là về cuộc đấu với người khổng lồ Phi-lít-tin tên Gô-li-át. Sau khi giết được tên khổng lồ người Phi-lít-tin Gô-li-át, từ một thanh niên trẻ tuổi vô danh, Đa-vít trở nên nổi danh trong cả nước. Đến nỗi các phụ nữ khi đón vua Sau-lơ thắng giặc Phi-lít-tin có bài hát: Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn (1 Sam 18:7). Hoàng tử Giô-na-than, con trai vua Sau-lơ yêu mến Đa-vít như chính mình. Mi-chê, con gái vua Sau-lơ cũng yêu thương Đa-vít. Không những vậy, KT còn cho biết toàn dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều kính mến Đa-vít vì chàng chỉ huy họ trong chiến trận. (1 Sam 18:16) Và cả triều thần của vua cũng yêu mến Đa-vít. Danh người trở nên tôn trọng lắm. (1Sam 18:30)
Khi nghe bài hát của các phụ nữ vua Sau-lơ đem lòng ghen tị và thù ghét. Từ đó vua Sau-lơ tìm mọi cách để hãm hại, thậm chí giết chết Đa-vít. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ anh hùng dân tộc, con rễ vua, bạn chí thân của hoàng tử, Đa-vít trở nên một kẻ đào tẩu, chạy trốn để giữ mạng sống mình khỏi tay vua Sau-lơ. Bài học cho tôi và qv là mọi thành công, đặc biệt thành công bất ngờ và nhanh chóng thường có những hậu quả không lường trước được.
Trong khoảng thời gian từ 10-12 năm dài Đa-vít phải chạy trốn, ẩn nút như một kẻ tội phạm, như một con thú bị săn đuổi từ sa mạc, đến hang động, từ hang động đến rừng rậm, từ rừng rậm đến những vùng đồi núi cheo leo, hiểm hóc. Trong thời gian này Đa-vít chỉ biết cậy nhờ duy nhất vào sự quan phòng, bảo vệ của ĐCT. Đến cuối đời ông tự xưng mình là người được Chúa xức dầu và kẻ hát êm dịu của Y-sơ-ra-ên (1 Sam 23:1) vì đã viết gần phân nữa các bài trong số 150 TT. Đặc biệt là 9 bài TT được viết trong 12 năm dài đau khổ bị vua Sau-lơ đuổi giết mà chúng ta có thể gọi là những bài hát trong cơn gian truân.
Rồi cuối cùng sau gần 15 năm dài, cậu trai trẻ tuổi 15 được tiên tri Sa-mu-ên xức dầu cuối cùng trở nên vua Y-sơ-ra-ên năm 30 tuổi: Vậy, hết thảy các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến cùng vua tại Hếp-rôn; vua Đa-vít lập giao ước với họ tại Hếp-rôn, trước mặt Đức Giê-hô-va, và chúng xức dầu cho Đa-vít làm vua của Y-sơ-ra-ên. 4 Khi Đa-vít khởi trị vì, tuổi đã được ba mươi (2 Sa-mu-ên 5:3-4). Sau đó vua Đa-vít thắng dân Giê-bu-si và chinh phục được thành Giê-ru-sa-lem và chọn làm thủ đô sau khi thống nhất hai xứ Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Đa-vít cũng thắng lợi nhiều lần trước kẻ thù thường xuyên và nguy hiểm nhất của Y-sơ-ra-ên là giặc Phi-lít-tin như viết trong 2 Sa-mu-ên 5.
Tuy nhiên trong cuộc chiến với giặc Phi-lít-tin không phải lúc nào cũng dễ dàng, thắng lợi hoàn toàn. Đoạn KT trong 2 Sam 23:13-17, 1 Sử Ký 11:15-19 cho biết về một giai đoạn vô cùng khó khăn, đen tối của vua Đa-vít khi bị giặc Phi-lít-tin đuổi bắt phải trốn vào hang động A-đu-lam. Hang động A-đu-lam là nơi mà mười mấy năm trước đó khi Đa-vít bị vua Sau-lơ đuổi giết phải chạy trốn nơi này cùng với cả gia đình ông. TT 142 nói lên sự nao sờn, khốn khó của Đa-vít khi trốn trong hang động này: Ở trước mặt Ngài tôi tuôn đổ sự than thở tôi, bày tỏ sự gian nan tôi. 3 Khi tâm hồn nao sờn trong mình tôi, thì Chúa đã biết nẻo đàng tôi. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi kêu cầu cùng Ngài, Mà rằng: Ngài là nơi nương náu của tôi, Phần tôi trong đất kẻ sống. 6 Xin Chúa lắng nghe tiếng tôi, Vì tôi bị khốn khổ vô cùng; Xin hãy cứu tôi khỏi kẻ bắt bớ tôi, Vì chúng nó mạnh hơn tôi (TT 142:2-3, 5-6)
Lần này Đa-vít đã lên ngôi vua và phải chạy trốn vào hang động cùng một số quan tướng và dũng sĩ vì bị quân giặc Phi-lít-tin đuổi bắt. Quả thật cuộc đời của Đa-vít không dễ dàng, hanh thông như khi nhiều người nhầm nghĩ về ý nghĩa của ơn phước ĐCT.
Nhiều tín đồ nhầm nghĩ rằng một người được ơn phước Chúa là khi họ hoàn toàn bình an, thuận lợi; trái lại khi phải trải qua khó khăn, hoạn nạn là lúc Chúa sửa phạt và cảnh cáo. Tôi tin ĐCT vẫn luôn ở cùng Đa-vít trong hang động tối tăm, ẩm thấp A-đu-lam dù là lần đầu tiên khi Đa-vít chạy trốn vua Sau-lơ tìm giết hay lần này khi đã làm vua chạy trốn khỏi giặc Phi-lít-tin. ĐCT dạy dỗ và đào luyện niềm tin của những người hầu việc Ngài qua những khó khăn, hoạn nạn, thử thách. Dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; 7 hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra. (1 Phi-e-rơ 1:6-7)
13Vào đầu một mùa gặt kia, ba người trong Nhóm Ba Mươi Dũng Sĩ đi xuống gặp Ða-vít ở hang A-đu-lam, giữa lúc quân Phi-li-tin đang hạ trại trong thung lũng ở Rê-pha-im. 14Ða-vít đang ở trong chiến lũy, còn quân Phi-li-tin thì đóng đồn ngay tại Bết-lê-hem.
Câu 13 còn cho biết giặc Phi-lít-tin đóng quân tại thung lũng Rê-pha-im. Đây là một chi tiết quan trọng được được lập lại vào lần trước đó trong 2 Sam 5. Lý do là nếu làm chủ thung lũng Rê-pha-im, quân Phi-lít-tin sẽ cắt nguồn lương thực, quân sự giữa hai vùng Y-sơ-ra-ên và Giu-đa và đặc biệt bóp chẹt thủ đô Giê-ru-sa-lem [slide]. Một chi tiết quan trọng khác là quân Phi-lít-tin có một đồn binh tại làng Bết-lê-hem là quê hương của vua Đa-vít và chỉ cách Giê-ru-sa-lem vài dặm đường. Có nghĩa là dù Đa-vít là vua Y-sơ-ra-ên nhưng quê hương của vua vẫn còn trong sự kiểm soát, chiếm hữu của giặc Phi-lít-tin. Làm sao lòng vua lại không nghĩ về làng quê nơi ông sinh ra, lớn lên và có nhiều kỷ niệm, cụ thể là nước từ cái giếng gần cổng thành Bết-lê-hem.
Từ quan tướng trong câu 13 được dịch là dũng sĩ hay dũng tướng trong các bản dịch mới. Đặc biệt trong số 30 người dũng sĩ này là 3 người đến hang động A-đu-lam để tham kiến và bàn bạc chiến lược với vua Đa-vít. Thành tích và chiến công của 3 người này được ghi lại rất chi tiết trong đoạn KT trước đó trong 2 Sam 23:8-12. Có người đã dùng cây giáo đánh hạ tám trăm quân thù trong một trận đánh. Hai người kia thì dù khi Quân I-sơ-ra-ên đã rút lui, 10nhưng ông cứ ở lại mà đánh quân Phi-li-tin cho đến khi cánh tay ông đuối sức, và bàn tay ông dính chặt vào cán gươm. nhưng một mình ông cứ đứng trụ ngay giữa cánh đồng mà chống cự và đánh giết quân Phi-li-tin.
Câu 14 cho biết Đa-vít đang ở trong chiến lũy (Bấy giờ Đa-vít ở trong đồn – BTT). Một số bản dịch khác dùng từ chiến lũy, BPT dịch là mật khu. Ý nói lên một nơi có thể ẩn núp, trú ngụ trong lúc hiểm nguy. Hang động A-đu-lam không chỉ là nơi ẩn núp an toàn cho vua và quan nhưng còn là tổng hành dinh của vua điều động quân lính đánh giặc Phi-lít-tin.
Một chi tiết quan trọng khác trong câu 13 là khi quân Phi-lít-tin thắng thế đến nỗi vua Đa-vít phải bỏ trốn vào hang động A-đu-lam là vào đầu mùa gặt. Nếu vua quan Y-sơ-ra-ên thua trận, giặc Phi-lít-tin sẽ tàn phá mùa màng. Đất nước sẽ mất hết thóc lúa, lương thực cho năm đó. Mùa đông đến sẽ thiếu thức ăn: một viên ảnh đen tối không kém gì viễn ảnh của mùa đông covid-19 đen tối một số chuyên gia tiên đoán sẽ xảy ra. Đây là lý do khẩn cấp mà các dũng sĩ phải bất chấp nguy hiểm mà đến gặp vua Đa-vít nơi hang động A-đu-lam để bàn thảo chiến lược cho một cuộc tổng phản công.
Thật đây là một thời điểm và hoàn cảnh vô cùng khó khăn cho vua Đa-vít. Một vị vua trẻ tuổi đang bị giặc chiếm đóng quê hương, bị thua trận đến nỗi phải chạy trốn trong hang động. Giặc Phi-lít-tin lại chiếm đóng thung lũng Rê-pha-im, cắt chận giao thông, viện trợ và lương thực giữa hai miền nam bắc. Và mùa gặt lại đang xảy ra. Nếu thắng vua quan, dân sự sẽ còn hy vọng cho năm tới; nếu thua viễn ảnh của mùa đông và năm tới cho vua và dân thật đen tối vì giặc sẽ tàn phá mùa màng, không có thức ăn.
ƯỚC MƠ BÌNH DỊ CỦA VUA ĐA-VÍT
Trong hoàn cảnh đen tối đó vua bày tỏ một ước mơ cùng 3 dũng sĩ, một ước mơ chân thật, bình thường, giản dị vô cùng là được uống nước từ giếng đầu làng Bết-lê-hem, nơi vua sinh ra và lớn lên. 15Bấy giờ Ða-vít ước ao và nói, “Ôi, ước gì có ai cho tôi uống nước giếng ở cổng thành Bết-lê-hem!” Có phải Đa-vít khát nước vì hang động A-đu-lam không có nước? Chắc chắn không.
Lời của Đa-vít bày tỏ một ước mơ từ sâu kín nhất tâm hồn của một người trong hoàn cảnh khó khăn, đen tối: được trở lại, sống lại một kỷ niệm quen thuộc, thân thương nhất trong đời. Uống được một chút nước từ cái giếng đầu làng, là nguồn nước quen thuộc Đa-vít đã uống hằng ngày khi sinh sống, lớn lên tại làng thôn đó. Ước mơ này cũng thể hiện lòng mong mỏi của Đa-vít được Chúa thực hiện lời hứa Ngài.
Tôi cám ơn Chúa vì lời KT ghi lại những tâm trạng, suy nghĩ thật nhất, ý nghĩa nhất của con người trong cảnh ngộ túng cùng nhất. Khi đó mọi người đều muốn tìm đến sự yên ủi từ những kỷ niệm thân thương nhất, gần gũi nhất, bình thường nhất: một miếng nước từ cái giếng đầu làng. Có thể trong trí của vua Đa-vít là hình ảnh của những gương mặt quen thuộc của bè bạn, người thân đã cùng đến lấy nước giếng đó trong bao nhiêu năm trời lớn lên tại Bết-lê-hem.
Trong cơn đại dịch covid-19 chẳng phải chúng ta cũng có những ước mơ bình dị như vua Đa-vít mong được uống nước giếng đầu làng hay sao? Mong được đến thăm con cháu, được ẩm bồng cháu nhỏ mới sinh. Mong được uống cà-phê Starbuck và học KT cùng anh em nam giới. Mong được ngồi cùng bàn để ăn uống trò chuyện với anh chị em trong HT. Tôi sẽ không bao giờ quên được sự quí báu của việc HT nhóm lại thờ phượng mà không phải giữ khoản cách, không phải đeo khẩu trang, có thể tự nhiên tay bắt mặt mừng, ôm nhau trong tình yêu của Đấng Christ.
Hình ảnh của nước trong KT không chỉ nói lên sự khát về thể chất nhưng luôn nói về sự khao khát về tâm linh. Đa-vít không khát nước thể xác, nhưng vua khao khát tìm lại được lời hứa của ĐGHV, khao khát rằng lời hứa đó vẫn còn tin cậy được, rằng ĐCT sẽ thực hiện lời hứa của Ngài. Có vua nào lại không thể uống nước từ giếng của chính quê hương mình.
GIÁ ĐẮT CỦA ƯỚC MƠ BÌNH DỊ
Khi nghe lời tâm sự của vua Đa-vít về ước mơ bình dị đó, 3 dũng sĩ can trường đã âm thầm, lặng lẽ vượt vòng bao vây của giặc Phi-lít-tin để đem về cho vua một bình nước từ giếng làng Bết-lê-hem. Từ hang động A-đu-lam đến Bết-lê-hem cách khoảng 12-14 miles, một khoảng đường khá xa và vô cùng nguy hiểm. Với một chút trí tưởng tượng, chúng ta có thể nghĩ đến hình cảnh họ tụ họp tại một góc nào đó trong hang động để âm thầm bàn luận và dự tính với nhau để thực hiện công tác táo bạo đầy nguy hiểm này. Có lẽ họ dự định là khi 2 người đối phó với quân Phi-lít-tin thì 1 người lẻn đến giếng nước để lấy cho đầy một vò nước cho vua. Tôi tự hỏi tại sao không ai lại làm một cuốn phim về sự kiện này!
KT hoàn toàn im lặng về chuyến đi lấy nước từ giếng đầu làng Bết-lê-hem và những hành động can đảm của họ khi phải đối diện với giặc Phi-lít-tin. Chỉ một câu ngắn gọn như sự việc này rất dễ dàng, đơn giản ai cũng có thể làm được: Ba dũng sĩ ấy bèn xông qua trại của quân Phi-li-tin, đến giếng nơi cổng thành Bết-lê-hem, lấy nước, và đem về cho Ða-vít. (2 Sam 23:16). Chỉ một câu ngắn gọn nhưng chất chứa biết bao nhiêu lòng can đảm, và ý nghĩa, tình cảm của họ không chỉ với vua Đa-vít nhưng với cả đội quân Y-sơ-ra-ên.
Dĩ nhiên chúng ta thấy được tấm lòng tận trung và yêu mến với vua Đa-vít của các dũng sĩ này. Họ sẵn sàng hy sinh chịu chết để hoàn thành một ước mơ của Đa-vít, dù nhỏ nhoi, bình thường, đơn giản như một bát nước từ giếng của quê hương. Nhưng lòng tận trung của họ không phải chỉ với vua mà còn với cả đội quân Y-sơ-ra-ên. Nếu họ lấy được nước từ giếng làng Bết-lê-hem nơi quân Phi-lít-tin đang có đồn trại canh gác thì đạo quân Y-sơ-ra-ên có thể phản công và chiến thắng. Bình nước từ giếng đầu làng Bết-lê-hem không chỉ thỏa mãn ước mơ của vua Đa-vít, nhưng còn đem lại sự phấn khởi và hy vọng to lớn cho quan tướng và binh sĩ đang trốn trong hang động A-đu-lam tối tăm. Nếu 3 dũng sĩ đã có thể vượt qua vòng đai kiểm soát của quân Phi-lít-tin trong thung lũng Rê-pha-im để vào đến tận thành Bết-lê-hem là nơi có đồn gác, lính canh lấy nước từ giếng, thì 30 dũng sĩ và đạo quân chắc chắn có thể đánh bại kẻ thù để chiếm lại thung lũng Rê-pha-im, làng Bết-lê-hem và đem vua Đa-vít trở về lại thủ đô Giê-ru-sa-lem.
Dù cảm động trước tấm lòng yêu mến và hy sinh của 3 dũng sĩ này, vua Đa-vít từ chối uống nước họ đem về: Tuy nhiên, Ða-vít không uống nước ấy, nhưng đổ nó ra, dâng lên CHÚA, 17và nói, “Lạy CHÚA, xin đừng để con làm điều nầy nữa. Ðây há chẳng phải là máu của những người đã liều mạng đi lấy nó về sao?” Vì thế Ða-vít không uống nước ấy. (2 Sam 23:16-17). Tại sao vua lại đổ nước? Chẳng phải khinh thường sự hy sinh của 3 tướng này hay sao?
Qv nhớ phong tục của người Nhật Bản xem rất trọng danh dự và lòng trung tín với vua chúa. Họ sẵn sàng tự tử trước mặt vua khi thất bại một nhiệm vụ đã nhận. Cũng vậy sẵn sàng hy sinh để thực hiện mạng lệnh vua là một danh dự, nghĩa khí của người anh hùng. Và khi vua muốn chứng minh là người bề trên có quyền hành lãnh đạo, đáng để quan tướng vâng phục, vua sẽ nhận lấy lễ vật.
Tuy nhiên hành động của vua Đa-vít hoàn toàn trái lại với vua chúa thời đó. Thay vì nhận lấy bình và uống nước trong bình, vua lại đổ xuống đất. Không phải vì khinh thường các tướng nhưng vì coi trọng sự hy sinh và lòng can đảm đó như một món quà lớn ĐCT ban cho vua. Vua dâng bình nước trả bằng chính xương máu của 3 tướng cho ĐCT, như một của lễ quán với rượu nho theo luật pháp Mô-se (Xuất 29:41).
Lễ quán bằng rượu có nghĩa là lấy rượu đổ trên vật thiêu dâng cho ĐCT. PTTLK 32:38 gọi là rượu của lễ quán. Sứ đồ PL trong thư Phi-líp và thư cuối cùng 2 Ti-mô-thê cũng dùng hình ảnh của lễ quán đổ ra để dâng cho ĐCT khi nói về cuộc đời ông trong những ngày sau rốt: Cho dù tôi có phải bị đổ ra như làm lễ quán rưới trên sinh tế và lễ vật của đức tin anh em thì tôi cũng thỏa lòng và cùng vui với tất cả anh em. (Phi-líp 2:17 – BHĐ2010) 6Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. (2 Tim 4:6)
Đa-vít xem trọng, rất trọng sự hy sinh và lòng can đảm của 3 dũng sĩ nên đã dùng nước như một của lễ quán quí báu dâng lên cho ĐCT.
Người lãnh đạo phải học gương Đa-vít, xem trọng công khó và sự hy sinh của dân sự Chúa cho công việc nhà Ngài. Không phải chỉ với những việc to lớn, nổi bật, quan trọng nhưng cả những việc tầm thường. Hơn hết là tấm lòng của người cống hiến. 2 đồng xu của người bà góa đáng quí hơn bao nhiêu lần số tiền lớn của người giàu có dư giả.
KTCU viết về một vị vua lớn của xứ Y-sơ-ra-ên là vua Đa-vít. KTTU viết về một vị vua lớn bao ngàn vạn lần hơn Đa-vít là ĐCJC. Đa-vít mơ ước được uống nước giếng làng Bết-lê-hem, nơi ông sinh ra lớn lên. 3 dũng sĩ nghe lời mơ ước đó, can đảm hy sinh cả mạng sống để thực hiện, đem nước giếng về cho vua Đa-vít. Nhưng vua Giê-xu hoàn toàn khác với vua Đa-vít. ĐCJC biết rõ ước mơ của mỗi tấm lòng chúng ta cần được nước hằng sống và Ngài hy sinh chính thân Ngài để mang nguồn nước đó đến cho những người tìm kiếm Ngài.
Tin Lành Giăng ghi lại hai câu chuyện về nước hằng sống ĐCJC ban cho người tin Ngài. Trong Giăng 4 câu chuyện Chúa gặp người đàn bà Sa-ma-ri tại giếng nước đang lúc giữa trưa. Qv biết câu chuyện này. Và trong Giăng 7 khi Chúa lên thành Giê-ru-sa-lem dự lễ vượt qua, là một lễ lớn và quan trọng nhất của dân Y-sơ-ra-ên.
Đa-vít làm vua nên các tướng hy sinh tìm nước thỏa mãn ước nguyện vua. Nhưng dù ĐCJC là Vua của muôn vua, Chúa của muôn chúa, Ngài lại hy sinh để thỏa mãn ước nguyện của tấm lòng khô hạn của con người tội lỗi. Thậm chí người đó là một phụ nữ Sa-ma-ri có 5 đời chồng và đang sống với một người đàn ông không phải chồng bà. Đây là một người không đáng hầu việc vua, huống chi đến việc vua lại hy sinh cho bà ấy! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi; 14 nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời. 15 Người đàn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa. (Giăng 4:13-15)
Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. 38 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh thánh đã chép vậy. 39 Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy (Giăng 7:37-39).
