Duy Nhờ Ân Điển – Ngài Tìm Kẻ Lạc Mất
Lý do: Những người Pha-ri-si & thầy thông giáo lầm bầm khi thấy ĐCJC giao du cùng tất cả những người thu thuế và có tội. Thậm chí ăn uống với họ: Ma-thi-ơ 9 và Mác 2 cho biết sau khi đã gọi Ma-thi-ơ theo Ngài, ĐCJC & các môn đồ vào nhà ông để ăn thì có nhiều người thu thuế (bạn đồng nghiệp của M.) và những kẻ có tội cùng ăn chung bửa. Và nay họ đến gần Chúa để nghe giảng dạy.
Đối tượng: 4 loại người, 2 nhóm. Nhóm 1: thu thuế và có tội; nhóm 2: Pha-ri-si & thầy thông giáo. Dưới mắt người đời, 2 nhóm người này được xem là nhóm người có tội và nhóm người đạo đức. Nhóm có tội sẽ xuống địa ngục; nhóm đạo đức sẽ vào thiên đàng. Nhóm có tội cần được cứu; nhóm đạo đức chỉ cần được khen tặng, khích lệ để sống tốt hơn.
Chính vì những lời xầm xì, to nhỏ, trách móc của nhóm người đạo đức về nhóm người tội lỗi, cặn bả xã hội mà ĐCJC mới kể 3 ngụ ngôn này.
3 điều trong bài giảng: 1) Tình trạng con người; 2) Giải quyết của ĐCT; 3) Niềm vui và bửa tiệc
TÌNH TRẠNG CON NGƯỜI
3 ngụ ngôn dạy rõ về tình trạng con người: lạc mất. Cả 3 ngụ ngôn đều dạy về sự lạc mất: 1) chiên lạc; 2) đồng tiền lạc; 3) người con đi lạc lối. Mọi người đều là chiên đi lạc cần được người chăn đi tìm; mọi người đều như đồng tiền lạc cần được người đàn bà thắp đèn tìm cho được. Cả hai người con trong ngụ ngôn con trai lạc mất đều tượng trưng cho người có tội cần được cha hồi phục, tha thứ.
Loài người đã lạc mất từ khi A-đam & E-va phạm tội cùng ĐCT và phải ra khỏi vườn địa đàng Ê-đen. Đến thời Nô-e, KT viết: sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn (STK 6:5).
Chính tội lỗi đã khiến con người lạc mất và xa cách ĐCT như lời Ê-sai viết: Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa. 3 Vì tay các ngươi đã ô uế bởi máu, ngón tay các ngươi đã ô uế bởi tội ác; môi các ngươi nói dối, lưỡi các ngươi lằm bằm sự xấu xa. 4 Trong các ngươi chẳng có ai lấy lẽ công bình mà kêu rêu; chẳng có ai lấy điều chân thật mà đối nại. Hết thảy đều cậy sự hư không, nói lời dối trá, cưu mang điều ác và đẻ ra tội trọng. (Ê-sai 59:1-4)
KT cho biết không một người, dù chỉ một người trong tình trạng tự nhiên của tội lỗi có ý muốn tìm kiếm để trở lại cùng Chúa. Lòng người thờ ơ, dững dưng, lạnh nhạt, không hề có ý muốn biết đến ĐCT huống chi đến việc tìm kiếm Chúa: Đức Giê-hô-va từ trên trời ngó xuống các con loài người, đặng xem thử có ai khôn ngoan, tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng. 3 Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế; chẳng có ai làm điều lành, dầu một người cũng không. (TT 14:2-3)
Chẳng có một người nào hiểu biết, chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. (Rô-ma 3:11)
Tội lỗi và lạc mất là 2 chủ đề lập lại rất nhiều lần trong các sách KTCU. Sau khi Chúa giải cứu dân sự ra khỏi vòng nô lệ trong xứ Ê-díp-tô, sách XEDTK và DSK ghi lại ít nhất 14 lần dân sự cay đắng trách móc, chỉ trích, thậm chí lên án ĐCT và tìm cách để giết Mô-se, người được ĐCT dùng để lãnh đạo dân sự. Chu kỳ như sau: 1) Họ gặp khó khăn trong đồng vắng, chán bánh, thiếu nước nên than trách cùng ĐCT, lên án buộc tội Mô-se; 2) ĐCT giải cứu, ban bánh, ban nước; 3) Dân sự ngừng sự ta thán, trách móc thời gian ngắn, nhưng rồi không lâu sau đó lại phàn nàn, trách móc, nổi loạn.
Sách Quan Xét viết về một thời gian khoảng 480 năm dài trong lịch sử dân sự Y sau khi chinh phục được đất hứa. Một ấn tượng chính của sách lập đi lập lại là về chu kỳ của tội lỗi: 1) Dân sự Chúa bình an, sung túc rồi bắt chước thờ tà thần trong xứ; 2) Chúa nhắc nhở nhưng họ vẫn tiếp tục làm ngơ, phạm tội; 3) Chúa sai giặc xâm chiếm lãnh thổ, đe dọa tính mạng, tài sản dân sự; 4) Họ kêu van, xin Chúa tha thứ, thương xót; 5) ĐCT tha thứ, sai quan xét giải cứu dân sự Ngài. Chu kỳ lập lại! Tổng cộng có ít nhất 15 vị quan xét được Chúa dấy lên trong khoảng thời gian 480 năm đó để giải cứu dân sự bội ơn, bội nghịch cùng Ngài.
Và hiện con người vẫn còn đang lạc mất trong thế giới này: vì chúa của thế gian này là ma quỉ. Con người đang sống trong lãnh thổ của kẻ thù cùng ĐCT vì ma quỉ là kẻ thù của ĐCT. Đây cũng là lý do ma quỉ tìm mọi cách để làm cho con người không nghĩ đến ĐCT, không muốn nghĩ đến ĐCT và không hề có ý muốn trở về cùng Ngài.
GIẢI QUYẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
KTCU gồm những câu chuyện giải thích tình trạng tội lỗi, lạc mất của loài người. Nhưng quan trọng hơn KTCU viết về giải quyết của ĐCT trước tình trạng tội lỗi của loài người. Dù dân sự mau quên công ơn Chúa, bội ơn, và bội phản mà chạy theo các tà thần khác, ĐCT vẫn tiếp tục yêu thương, tha thứ, kiên trì, nhẫn nại tìm kiếm dân Ngài. Cuối cùng ĐCT hy sinh cả Con Độc Sinh là ĐCJC, xuống thế gian chịu chết cho tội lỗi con người.
KTCU là câu chuyện ĐCT đi tìm dân sự Ngài. KTCU là câu chuyện về ân điển như cả 3 ngụ ngôn đều dạy về ân điển: sự cứu chuộc những người có tội của ĐCJC hoàn toàn bởi ân điển. Và ĐCT chủ động đi tìm để cứu chiên, tìm đồng tiền, tha thứ & yêu thương không điều kiện với đứa con hoang đàng.
Một từ vô cùng quan trọng trong niềm tin Cơ Đốc là ân điển. Ân điển là gì? Định nghĩa phổ thông nhất của ân điển là món quà mà chúng ta không đáng nhận lãnh.
Ví dụ: qv được một tiệm ăn mướn làm việc 40 tiếng mỗi tuần với mức lương $10/giờ. Mỗi tuần tổng số lương lãnh qv chắc nhận là $400, hay $1200/tháng nếu việc làm đúng theo điều kiện và đòi hỏi của người quản lý, của chủ tiệm. Điều kiện là nếu bệnh, qv có thể nghĩ ở nhà nhưng sẽ không nhận lương. Một tháng qv bệnh cả suốt 1 tuần lễ nên mức lương lãnh cuối tháng là $800 thay vì $1200. Ân điển là khi qv không chỉ nhận đủ $1200 dù nghĩ suốt 1 tuần nhưng còn nhận thêm $200, tổng cộng $1400 để giúp mua thuốc, trả tiền bác sĩ.
Ân điển ĐCT trong KT với loài người là gì? Giăng 3:16 – Sự ban cho Con Một là ĐCJC đến thế gian để chịu chết cho tội con người là ân điển. Lu-ca 19:10 Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất. Lu-ca 15 về 3 ngụ ngôn con chiên lạc mất khi người chăn đi tìm một chiên lạc mất cho kỳ được, cho đến khi tìm được và đem chiên về ràng; ngụ ngôn đồng tiền lạc mất khi người phụ nữ thắp đèn, quét nhà, tìm đủ mọi nơi trong nhà cho đến khi tìm được đồng bạc; và ngụ ngôn về con trai hoang đàng khi cha mừng đón đứa con hoang trở về hoàn toàn không điều kiện; và trong cả 3 ngụ ngôn, ân điển là khi chiên lạc, đồng tiền lạc, con lạc trở về thì cha mở tiệc mừng thật lớn cho cả bạn hữu và người lân cận cùng đến chung vui.
Tất cả các tôn giáo trên thế giới này đều dạy rằng con người phải đi tìm Trời, tìm niết bàn, chân lý. Ngoại trừ đạo Chúa dạy không phải con người tìm Trời, TĐế, ĐCT nhưng chính ĐCT đã chủ động tìm cứu con người. Nói tóm lại, tôn giáo là những lời dạy con người có thể đi tìm ĐCT nhưng Tin Lành dạy không phải con người tìm Chúa, nhưng Chúa tìm cứu loài người. Không phải vì họ xứng đáng, đẹp đẻ hay quí báu gì. Trái lại.
Chúa tìm thấy dân Ngài trong sa mạc, giữa hoang dã với tiếng gào thét quạnh hiu. Chúa bao phủ, chăm sóc người, che chở người chẳng khác gì con ngươi mắt Ngài. 11 Như chim phụng hoàng khuấy động tổ mình, bay lượn qua lại quanh con mình, dang rộng cánh ra hứng đỡ, rồi cõng chim con trên hai cánh.12 Một mình CHÚA hướng dẫn dân Ngài, không có thần nào khác. (PTLLK 32:10-12 – BDM)
Hỡi Ép-ra-im, thể nào ta bỏ được ngươi? Hỡi Y-sơ-ra-ên, thể nào ta lìa được ngươi? Thể nào ta sẽ đãi ngươi được như Át-ma, hay là làm cho ngươi như Sê-bô-im? Lòng ta rung động trong ta; lòng thương xót của ta cả đều nóng nảy. (Ô-se 11:8)
Ân điển là Rô-ma 5:8, đang khi chúng ta vẫn còn là người phạm tội, ĐCJC chịu chết cho tội chúng ta. Khi chúng ta làm ngơ, thờ ơ, dững dưng, lạnh nhạt chối bỏ ĐCT, ĐTL vẫn nhẫn nại nhắc nhở, khuyên răn, dạy dỗ để chúng ta tỉnh ngộ mà trở về cùng Cha.
Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. 7 Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. 8 Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. (Rô-ma 5:6-8)
Theo lẽ tự nhiên, chúng ta đáng chịu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời như những người khác. 4 Nhưng Đức Chúa Trời giàu lòng thương xót, yêu quý chúng ta vô cùng, 5 nên dù chúng ta đã chết vì các vi phạm mình, Ngài làm cho chúng ta cùng sống với Chúa Cứu Thế. Ấy chính nhờ ân sủng mà anh chị em được cứu. (Ê-phê-sô 2:13-5 – BDM)
Trong bài giảng sáng nay, tôi muốn giải thích một điều quan trọng về ân điển trong 3 ngụ ngôn này. Con người không thể nào có thể tìm được ĐCT, có thể tỉnh ngộ mà trở về cùng Cha nếu ĐCT không chủ động tìm chúng ta trước.
Khi nói về việc đi tìm, dù là tìm một người hay một vật hay một nơi chốn nào đó, thì chúng ta phải nói đến ba điều chính sau đây: 1) tấm lòng hay ước muốn đi tìm; 2) chi tiết, tin tức về đối tượng của việc tìm kiếm; 3) bản đồ hay hướng dẫn về phương cách. Tôi xin giải thích.
Điều đầu tiên nếu không có lòng hay ý muốn đi tìm thì dù có bản đồ tinh vi nhất hay tin tức rõ nhất về đối tượng cũng vô ích. KT dạy rõ là con người hoàn toàn không có tấm lòng hay ý muốn tìm kiếm ĐCT. Trong trạng thái tự nhiên, theo bản chất tội lỗi, không một người nào muốn tìm đến ĐCT. Tại sao? Bởi vì mọi người sống trong thế giới này đều ở dưới sự cai trị của ma quỉ.
Một người chỉ có ý muốn tìm biết Chúa sau khi ĐTL chạm lòng, khiến họ suy nghĩ, ban cho ước nguyện tìm đến Chúa. KT cho biết chính Chúa chủ động tìm cứu con người qua sự ban cho ĐTL nhắc nhở, cảm động, thúc đẩy con người có ý muốn tìm hiểu, lắng nghe về ĐCT và trong những ngày sau rốt này ban cho ĐCJC xuống thế để chịu chết cứu tội cho loài người.
Tôi xin dẫn chứng từ một vài thí dụ trong KTCU.
Trái lại với tấm lòng cứng cỏi, thờ ơ, lạnh nhạt của con người với Chúa, KT cho thấy rõ rằng Chúa chủ động đi tìm kẻ có tội, người lạc mất:
Ngay sau khi A-đam & E-va phạm tội, ĐCT gọi để tìm họ khi họ núp giữa bụi cây Khi nghe tiếng CHÚA, Đức Chúa Trời đi lại trong vườn lúc chiều mát. A-đam và vợ ẩn nấp giữa lùm cây trong vườn để tránh mặt CHÚA, Đức Chúa Trời. CHÚA, Đức Chúa Trời gọi A-đam hỏi: “Con ở đâu?” (STK 2:8-9 – BDM)
ĐCT hứa dòng dõi người nữ sẽ đạp đầu rắn, tức tiên tri về ĐCJC Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người (STK 2:15)
Cũng chính Chúa không chỉ kết áo bằng lông thú cho 2 người nhưng còn mặc lấy cho họ: Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho. STK 2:21
Những câu chuyện trong STK cho thấy hình ảnh của ĐCT luôn luôn quân tâm đến con người và phúc lợi con người. ĐCT trong KTCU không phải là một ĐCT bàng quang, dững dưng, không hề quan tâm, để ý, lo lắng đến loài người. Trái lại khi con người phạm tội, Chúa đau lòng, nổi giận vì có ai khi yêu thương lại không nổi giận khi thấy người mình thương mến đi sai đường lạc lối.
Khi thấy loài người trong thời Nô-e không ngừng phạm tội và mọi ý tưởng đầy những độc ác xấu xa, KT viết: CHÚA thấy tội ác của loài người trên đất thật lớn lao, mọi khuynh hướng, tư tưởng của lòng họ lúc nào cũng xấu xa. CHÚA hối tiếc vì đã dựng nên loài người trên đất, và đau buồn trong lòng. (STK 6:5-6 - BDM) Nếu bàn quan trước tội lỗi con người, ĐCT đã không đau buồn hay hối tiếc. Hai tình cảm này nói lên lòng yêu thương, quan tâm của ĐCT với loài người.
Dù được ĐCT yêu thương, chọn lựa từ các dân tộc để trở nên dân tuyển, trở nên con dân Chúa nhưng dân sự lại luôn chạy đuổi theo các tà thần khác và quên Chúa. Lòng Chúa luôn hướng về dân Ngài, nhưng lòng dân Ngài luôn xa cách, mau quên đi ơn phước Chúa ban, mau trách móc và mau bội phản Đấng cứu họ.
Tuy nhiên ĐTL vẫn làm việc trong đời sống một số người được ĐCT gọi, biệt riêng để làm tiên tri nhắc nhở dân sự về tội lỗi của họ và nhắc họ trở lại với Chúa. Cuối cùng Ngôi Hai ĐCT phải xuống thế làm người để tìm cứu những kẻ có tội, những người lạc mất. Đây cũng chính là ý nghĩa của 2 ngụ ngôn đầu tiên về người chăn đi tìm một con chiên lạc mất cho đến kỳ được, về người đàn bà thắp đèn, quét nhà để tìm một đồng bạc lạc mất cho đến khi tìm được.
Nếu ĐCT Không Bày Tỏ, Con Người Làm Sao Có Thể Biết Chúa Là Ai?
Khi nói về việc đi tìm, dù là tìm một người hay một vật hay một nơi chốn nào đó, thì chúng ta phải nói đến ba điều chính sau đây: 1) tấm lòng hay ước muốn đi tìm; 2) chi tiết, tin tức về đối tượng của việc tìm kiếm; 3) bản đồ hay hướng dẫn về phương cách.
Để tìm chúng ta phải biết mình tìm kiếm điều gì, vật gì hay người nào. Để tìm kiếm ĐCT chúng ta cần phải biết Ngài là ai để có thể nhận diện khi tìm được. Ví dụ: tôi nhờ qv đi tìm một món đồ. Qv hỏi món đồ gì? Tôi nói món đồ đó đó! Không hề cho biết chi tiết, không hề giải thích về món đồ đó là gì thì dù qv có muốn giúp tôi đến mấy cũng không thể tìm được món đồ đó.
ĐCT sáng tạo loài người nên Chúa biết chúng ta là ai để đi tìm. Nhưng nếu ĐCT không khải thị về Ngài cho con người thì làm sao con người biết ĐCT là Đấng thế nào để có thể nhận biết. Tôi nghe một người nói tôi phải tự tìm niết bàn. Và con đường của tôi, niết bàn tôi đến có thể khác với của anh chị. Mỗi người có thể đều khác nhau!? Nếu vậy làm sao một người biết niết bàn đó ra sao, thế nào để đi tìm? Và giả có tìm được làm sao biết đúng sai, thật giả ra sao?
Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành trong thì nó. Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người; dầu vậy, công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng, người không thế hiểu được. (Truyền Đạo 3:11)
Những kẻ vốn chẳng cầu hỏi ta thì đã hỏi thăm ta; những kẻ vốn chẳng tìm ta thì đã gặp được ta. Ta đã phán cùng một dân chưa kêu cầu danh ta, mà rằng: Ta đây, ta đây! (Ê-sai 65:1)
Nếu ĐCT Không Cho Biết Con Đường, Làm Sao Con Người Có Thể Tìm?
Ví dụ: lạc đường khi tìm khách sạn ngoài thành phố Boston, MA, đi lạc đến gần biên giới tiểu bang New Hampshire.
Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta. (Khải Huyền 3:20)
Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường được? 6 Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. 7 Ví bằng các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài. (Giăng 14:5-7)
We may gain fresh amazement if we compare the story Jesus told with a somewhat similar story in the literature of Mahayana Buddhism. In a famous “Lotus Sutra” the story is told.1 A young man leaves his father’s house and is gone for many years, “twenty or thirty or forty or fifty.” His father searches for him and moves to another country, where he becomes immensely wealthy. The son, on the other hand, continues his wanderings as a despised beggar.
One day the son happens to come to the town where his father lives. He does not recognize his father, but stares with curiosity at the princely magnificence of this elderly man. Fanned by attendants, the father sits on a throne under a jeweled awning, his footstool decorated in gold and silver. He is concluding business deals in gold bullion, corn, and grain with a surrounding crowd of merchants and bankers. The beggar is thoroughly alarmed. “People like me don’t belong here,” he thinks. “Let me get out of here before I am seized to do forced labor.” But the father has recognized his son at first sight and sends his servants after him. They bring him back, kicking and screaming in terror. Sure that he will be put to death, he faints dead away. The father sprinkles cold water on him, and tells the servants to let him go. He does not identify himself to his son, or his son to his servants.
Instead, he sends servants to find him again in the slum section of the city, and to bring him back with an offer of employment. The servants disguise themselves as street people, smearing dirt on themselves and wearing rags, so as to gain the trust of this beggar. Their mission succeeds, and the poor man is set to work at the lowliest of tasks. (The estate is not equipped with septic tanks.)
The father watches his son through a window as he is shoveling manure, or, rather, basketing it. He, too, smears on dirt and puts on rags so as to go and talk to his son and encourage him on the job. The son works faithfully on the grounds, but continues to live in a shack nearby.
Many years later, the father expresses great appreciation for the son’s faithful work; he declares that he will treat him as a son and make him his heir. The son is indifferent to all the wealth that is now declared to be his; he continues to live in his shack and work on the estate.
After some twenty years, “the householder perceives that his son is able to save, mature and mentally developed; that in the consciousness of his nobility he feels abashed, ashamed, disgusted, when thinking of his former poverty.” Aware of his approaching death, the householder calls his relatives, officials, and neighbors, and declares before them all, “This man is my natural son, the heir of all that I possess.”
The moral at the end of the story is that “as we have always observed the moral precepts under the rule of the Knower of the world, we now receive the fruit of that morality which we have formerly practised.” What is the difference between these two stories? One word describes it: grace! Amazing grace! Watch the father in the parable told by Jesus. Far down the road he sees that familiar figure. He sweeps up the skirt of his robe, thrusts it into his belt, and runs down the road to meet his son. He flings his arms around him, hugs him to his chest, and kisses the dusty cheeks of that swineherd. “Father,” the son begins, “I have sinned against heaven and against you. I am no longer worthy to be called your son.”
Clowney, Edmund P.. Preaching Christ in All of Scripture (pp. 55-56). Crossway. Kindle Edition.
