Được Chúa Chấp Nhận
[Đọc 1C8:8 được Chúa chấp nhận (BDM), đẹp lòng ĐCT (BTT), đem lại gần Chúa hơn.]
Thế vận hội lần thứ 31 đang diễn ra tại Ba Tây. Ước tính có trên 11,000 lực sĩ từ 205 quốc gia đến dự thi giải. Năm 1981 có một cuốn phim tựa là Chariots of Fire (xe ngựa lửa) về 2 lực sĩ Anh Quốc dự giải thế vận hội 1924 tại Paris. Một lực sĩ người Ái-nhĩ-lan (Scotland) tên Eric Liddell là con của một cặp vợ chồng giáo sĩ tại Trung Hoa. Chị của ông cũng là một người rất yêu mến Chúa và không đồng ý với việc thi chạy điền kinh của em vì nghĩ rằng điều này sẽ khiến ông xa Chúa. Khi Eric Liddell vô tình vắng mặt một buổi cầu nguyện vì phải tập dượt, chị ông buộc tội ông không còn tin kính Chúa. Ông trả lời chị ông có ý định sẽ trở nên một người truyền giáo tại Trung Hoa như cha, nhưng trong lúc này, ông không làm đẹp Chúa nếu ông không chạy: Em tin rằng Chúa tạo em với một chương trình. Nhưng Chúa cũng giúp cho em chạy nhanh, và khi chạy, em cảm nhận được sự vui lòng chấp nhận của Ngài.
Trên chuyến tàu từ Anh Quốc sang Pháp để dự thế vận hội, Liddel nghe tin cuộc thi 100m của ông sẽ vào ngày Chúa nhật. Ông từ chối chạy cuộc đua này dù bị áp lực của Hoàng Tử Wales (Prince of Wales) và ban tổ chức thế vận hội. Lý do vì ông tin rằng phải lấy ngày Sa-bát làm nên ngày thánh. Ngày Chúa nhật đó ông giảng tại một hội thánh Church of Scotland tại Paris, và đọc từ Ê-sai 40 với 2 câu cuối: Những kẻ trai trẻ cũng phải mòn mỏi mệt nhọc, người trai tráng cũng phải vấp ngã. 31 Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi. (40:30-31)
Cuối cùng Eric Liddell chạy cuộc thi 400m và đoạt huy chương vàng. Một năm sau đó ông phục vụ Chúa, làm giáo sĩ tại TH. Khi Nhật Bản chiếm TH năm 1945 Liddell bị bắt và mất trong tù. Trong thời gian trong tù, một người bạn tù viết về ông: là một người Cơ Đốc tốt nhất tôi hân hạnh được biết. Một người bạn tù khác sau này trở nên một nhà thần học nổi tiếng HK tên Langdon Gilkey viết về ông: Thật hiếm khi một người có dịp may gặp được một người thánh (saint), nhưng ông gần thánh hơn mọi người tôi biết”
Tất cả chúng ta đều thán phục Eric Lindell và bao nhiêu cuộc đời trung tín hầu việc Chúa cho đến cuối cùng như ông. Tất cả đều tin rằng ông và những người trung tín như ông chắc chắn sẽ được ĐCT chấp nhận, và sẽ luôn ở gần Chúa luôn như lời PL viết trong 1C8:8. Có phải vì từ chối không chạy cuộc đua thế vận hội ngày Chúa nhật? Không. Nhưng vì ông là người được tha thứ tội, người được cứu qua ĐCJC. Dĩ nhiên phần thưởng trên trời của ông chắc sẽ lớn lắm vì tấm lòng yêu mến Chúa và người, vì sự hầu việc trung tín, hy sinh cho đến cuối đời. Vậy được ĐCT chấp nhận, có nghĩa là được cứu, không phải vì việc làm nhưng bởi ân điển qua đức tin như PL viết trong Ê-phê-sô 2:8-9: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình.
Bên cạnh những người gương mẫu, những thánh nhân như Eric Lindell, KT cũng ghi lại một số người được ĐCT chấp nhận lại khác biệt một trời một vực, như trắng với đen, ngày và đêm. Hiếm ai có thể tin những người này lại được cứu! Như tên cướp bị đóng đinh với ĐCJC trên thập giá. Hay như người đề lao (coi tù nhân trong ngục) trong CV 16 khi PL và Si-la bị giam và được giải cứu các mầu nhiệm: Khi ông rút gươm, định tự sát vì thấy các cửa tù mở, thi PL ngăn lại. Trong sự sợ hãi ông hỏi PL và Si-la: Các chúa ơi, tôi phải làm chi cho được cứu rỗi? 31 Hai người trả lời rằng: Hãy tin Đức Chúa Jêsus, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi (CV 16:30-31). Hay như một nhân vật trong KTCU được ghi lại trong sách 2 CV 5 tên Na-a-man. Hiếm ai nghĩ một người như Na-a-man lại được ĐCT chấp nhận để cứu chuộc. Hơn nữa lại được ĐCT chấp nhận sau khi được cứu vẫn tiếp tục phục vụ một vị vua mà vào đền thờ tà thần để thờ lạy!
Trong bài giảng này tôi muốn qv suy nghĩ về 2 câu hỏi ai (người thế nào) được ĐCT chấp nhận, ai là người tưởng như được ĐCT chấp nhận nhưng lại không
NGƯỜI ĐƯỢC ĐCT CHẤP NHẬN
Trước hết, phải là người thật lòng tìm đến ĐCT. Không phải chỉ có những người làm việc lành, việc thiện. Người mà chúng ta thường nghĩ là những người đạo đức lý tưởng. Trong KTTU nhóm người ĐCJC lên án nặng nề nhất là người Pha-ri-si, những người am tường kinh luật và gìn giữ mọi chấm, mọi phết trong kinh luận. Khi nào một người tìm đến Chúa? Khi họ ý thức về những nan đề trong đời sống mà chính họ không giải quyết được, hay bất cứ người nào có thể giúp được.
Na-a-man, quan tổng binh của vua Sy-ri, là một người có quyền trước mặt chủ mình, được tôn trọng lắm, bởi vì Đức Giê-hô-va dùng người giải cứu dân Sy-ri; người này vốn mạnh mẽ và bạo dạn, song bị bịnh phung (2 CV 5:1) Đối với người đời, N. là người vô cùng thành công: quan tổng binh của cả xứ Sy-ri (A-ram), một tướng tài giỏi đem lại thắng lợi cho quốc gia, người quyền thế, người được vua tín cẩn, được bao nhiêu người xem trọng (rất trọng). KT còn cho biết cá nhân ông là một người mạnh mẽ và bạo dạn - chiến sĩ dũng mãnh (BDM), dũng sĩ đầy quyền lực (BD2011)
Nan đề là ở chữ song hay nhưng: nhưng bị bịnh cùi. Không một người nào trong đời này lại không gặp phải chữ nhưng. Giàu nhưng không hạnh phúc. Hạnh phúc nhưng lại bịnh hoạn. Làm ăn phát đạt nhưng con cái hư hỏng. Con cái thành tài nhưng gia đình không đầm ấm. Qv có biết một người nào không có chữ nhưng trong đời họ hay không? Nếu biết xin chỉ cho tôi để tôi đến học làm thầy và để lên ngai vàng thần tượng!
Từ tài tử minh tinh sống trong những biệt thư vùng Hollywood hay nơi một bải biển Hawaii tốn mấy mươi triệu đồng, cho đến những đại gia tỉ phú có hàng chục công ty, hàng ngàn công nhân tại hàng mấy chục quốc gia trên thế giới, tất cả đều có những nhưng trong cuộc đời của họ. Từ những nhà học giả thiên phú, thông minh tuyệt đỉnh, uyên bác nhất cho đến những nhà chính trị gia lừng lẫy, tổng thống, thủ tướng, thượng nghị sĩ, tất cả đều có những nhưng trong cuộc đời của họ. Từ những mục sư của các hội thánh gồm mấy mươi ngàn tín đồ cho đến những nhà truyền giảng nổi tiếng nhất, tất cả đều có những nhưng trong cuộc đời của họ.
Tôi nhớ đến nữ tài tử nổi tiếng nhất trong giới phim ảnh HK, Marilyn Monroe, đẹp như thiên thần, thần tượng của trăm triệu thanh niên thiếu nữ lập gia đình với hai người nổi tiếng nhất thời bấy giờ nhưng rồi đều ly dị, nhưng lại bị trầm cảm, khủng hoản, nghiện ngập rồi cuối cùng tự vẫn.
Tôi nghĩ đến nhà vật lý gia tài giỏi và nổi tiếng khắp thế giới tên Stephen Hawking của trường đại học Cambridge. Nhưng phải bịnh ALS không thể nói và cử động thân thể, phải dựa vào máy để nói.
Tôi nhớ đến một vị mục sư mà tôi rất kính phục là MS Rick Warren, là mục sư sáng lập hội thánh Saddle Back có trên 30 ngàn thành viên. Yêu mến Chúa hết lòng, dâng 90% lợi tức từ các sách bán cho công việc Chúa, đem hằng trăm, triệu ngàn người đến với Chúa. Nhưng vào tháng 04 năm 2013 người con trai của ông bà tên Matthew tự tử vì bệnh tâm thần. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài CNN 5 tháng sau khi Matthew mất, Rick nói I have cried every single day since Matthew died!
Vô số nhưng trong đời sống do chính con người tạo ra, nhưng cũng có những nan đề chúng ta không bao giờ hiểu rõ cho đến khi gặp Chúa trên thiên đàng.
Qv cũng có thể kể cho nhau nghe về hằng bao nhiêu người khác vui vẻ, hạnh phúc, vẫn đầy những chữ nhưng trong cuộc đời họ. CN 14:13 viết: Dầu trong lúc cười cợt lòng vẫn buồn thảm; Và cuối cùng sự vui, ấy là điều sầu não. Giàu có bao nhiêu, thành công bao nhiêu, quyền thế bao nhiêu, bằng cấp bao nhiêu, tiếng khen bao nhiêu cũng không tránh được chữ nhưng trong đời sống.
Na-a-man có tất cả nhưng lại bị phung cùi. Và ông biết rõ rằng không ai trong xứ, cả vua quan, thầy thuốc, cả các thần trong xứ đều không thể chửa lành.
v2-6: Vả, có một vài toán dân Sy-ri đi ra bắt một đứa gái nhỏ của xứ Y-sơ-ra-ên làm phu tù, để hầu hạ vợ Na-a-man. 3 Một ngày kia, nó nói với bà chủ mình rằng: Ôi! Chớ chi chúa tôi đi đến cùng ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Người sẽ giải cứu chúa tôi khỏi bịnh phung. 4 Na-a-man đem các lời này thưa lại cho chúa mình, mà rằng: Đứa gái nhỏ ở xứ Y-sơ-ra-ên có nói thể nầy. 5 Vua Sy-ri đáp: Hãy đi, ta sẽ gởi thơ cho vua Y-sơ-ra-ên. Vậy, Na-a-man đi, đem theo mình mười ta lâng bạc (300kg), sáu ngàn đồng vàng (60kg), và mười bộ áo. 6 Người đem bức thơ dâng cho vua Y-sơ-ra-ên; thơ rằng: Khi thơ nầy đạt đến vua, kìa ta đã sai Na-a-man, đầy tớ ta đến cùng vua; vua tiếp được bức thơ nầy ấy để vua giải cứu bịnh phung cho người.
Khi Đa-vít là vua Y-sơ-ra-ên, Sy-ri là nước yếu, phải dâng lễ hàng năm. Nhưng đến lúc này, xứ chia cắt làm hai. Miền Bắc là Y-sơ-ra-ên, thủ đô là Sa-ma-ri, vua dân thờ tà thần, phạm tội cùng ĐCT. Xứ cũng không còn mạnh như xưa nên bị giặc Sy-ri đánh phá bắt dân làm nô lệ. Giặc Sy-ri bắt một đứa bé gái người Y. để làm nô lệ, phục dịch vợ N. Dù bé gái này có thể cay đắng, không nói về cơ hội chửa bệnh cho chủ, nhưng em không làm như vây. Trái lại em có lòng muốn giúp: Ôi! Chớ chi chúa tôi đi đến cùng ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Người sẽ giải cứu chúa tôi khỏi bịnh phung. Chúng ta sẽ trở lại đứa gái nhỏ bị bắt từ xứ Y. làm phu tù hầu hạ vợ N. sau.
Khi nghe lời đứa gái nô lệ, N. không chỉ biết rất rõ và chắc chắn rằng không một thầy thuốc nào trong xứ, không một thần nào, vua chúa nào có thể giúp cho cái nhưng bị bịnh phung cùi của ông. Nhưng còn nghĩ về một hy vọng mới, cho dù có thể rất mong manh. Biết bao nhiêu người thà tìm đến thầy nầy, thầy nọ dù tốn kém đến mấy nhưng lại từ chối tìm đến ĐCT.
Có thể ông cầu may, hay có thể vì đời sống của cô gái nô lệ này trong nhà mà N. bắt đầu tin vào tiên tri nào đó của ĐCT nào đó của dân Y. Lắm khi làm chứng hữu hiệu nhất lại qua cách thức đơn giản nhất: nói về điều mình kinh nghiệm được với Chúa, về quyền năng của Chúa trong đời sống mình.
Thay vì đi thẳng đến tiên tri Ê-li-sê ở Sa-ma-ri để được chửa bệnh, N. lại đến vua Sy-ri trước. Có thể ông phải xin phép vua trước khi đi, nhưng cũng có thể ông muốn đi như một tổng quan trưởng thay vì như một người cùi cần được chửa. Vì danh dự, vì chức phận, cho dù phải tìm giúp cho nan đề! Khi đi, N. đem theo thư gởi từ chính vua, 300kg bạc, 60kg vàng, và 10 bộ đồ. Tôi nghĩ N. vẫn còn kiêu ngạo, tự phụ về chức phận, địa vị nên mới đi với thư vua, với tiền bạc, đồ đạc như vậy. Có thể ông nghĩ thư của vua Sy-ri, vàng bạc, quần áo sẽ mua được cho ông sự hồi phục bệnh cùi. Thay vì đi thẳng đến tiên tri Ê-li-sê, N. đầu tiên đến gặp vua Y.
c7: Khi vua Y-sơ-ra-ên đọc thơ rồi, liền xé quần áo mình, và nói rằng: Ông ấy sai người đến cùng ta để ta chữa khỏi bịnh phung cho họ, ta há phải là Đức Chúa Trời, có quyền làm sống làm chết sao? Khá nên biết và xem thấy rằng người tìm dịp để nghịch cùng ta (2CV 5:7)
Sau khi đọc thư, vua Y. làm gì? Vua xé quần áo. Xé quần áo là hành động bày tỏ cho sự đau buồn. Tại sao? Vì nghĩ rằng vua xứ Sy-ri tìm cớ để gây chiến cùng xứ Y. Vua than gì? ta há phải là Đức Chúa Trời, có quyền làm sống làm chết sao? Cả vua Y. cũng không thể làm gì được cho nan đề của N. Cả hai vua của 2 xứ không thể chửa lành căn bệnh của N.
Khi đọc lời than của vua Y. ta há phải là Đức Chúa Trời, có quyền làm sống làm chết sao? chúng ta nghĩ rất bình thường. Nhưng trong thời đó các thần của một quốc gia chỉ là sản phẩm của nền văn hóa và sức mạnh của quốc gia đó. Như dân xứ Ca-nan thờ thần Ba-anh và bao nhiêu thần khác.
Và thường vua chúa dùng tôn giáo để kiểm soát, thống trị dân chúng. Thường vua là đại diện cho trời trên đất như TQ ngày xưa vua được gọi là Thiên Tử (tức con trời!). Chắc qv cũng nhớ đại đế Nê-bu-cát-nê-xa lập tượng của chính mình để mọi dân thờ lạy! Cũng chính vì lý do này mà N. đi đến gặp vua Y. Vì nghĩ rằng vua có quyền trên mọi tiên tri trong xứ.
Người HK ngày nay có sự cách biệt giữa tôn giáo và chính quyền. Nhưng điều này đã có từ KTCU. Qv nhớ lý do gì mà ĐCT từ bỏ vua Sau-lơ? Vì ông dâng của lễ thay vì tiên tri Sa-mu-ên. Dĩ nhiên vua dâng của lễ trong đền thờ, nhưng vua không thể kiêm luôn chức vụ của thầy tế lễ dâng lễ trước ĐCT. N. nghĩ ĐGHV cũng như thần các nước khác, có thể được “mua” bằng của le đắt tiền; nghĩ vua Y. có thể điều khiển tiên tri của ĐGHV như vua các nước khác. Nhưng N. đã lầm. Và ông học được bài học quan trọng này từ tiên tri Ê-li-sê.
Chỉ khi một người hoàn toàn tan vỡ trong lòng, ý thức về những nan đề trong cuộc đời mình không phương nào giải quyết được thì họ hướng mắt lên trời, nước mắt đổ ra mà tìm cầu Chúa. Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu. (TT 51:17)
v8-9: Khi Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, hay rằng vua Y-sơ-ra-ên có xé quần áo mình, thì sai nói với người rằng: Cớ sao vua xé quần áo mình? Na-a-man hãy đến tôi, ắt người sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có tiên tri. 9 Vậy, Na-a-man đến với ngựa và xe dừng tại cửa nhà Ê-li-sê. (2CV 5:8-9)
Đi một vòng thật xa, cuối cùng N. cũng chỉ phải làm theo lời của đứa bé gái nô lệ: tìm đến tiên tri ở Sa-ma-ri! Chú ý KT viết khi đến nhà Ê-li-sê, ông đến với ngựa và xe! Đây là bằng chứng của một người có quyền chức cao trọng. Qv có nan đề gì mà chạy đi đây, đi đó bao lâu rồi, nhưng vẫn chưa tìm đến Chúa? Hay vẫn còn nghĩ về ngựa và xe, về danh phận, về tài của, về sắc đẹp, tài năng của mình khi đến với Chúa?
Chú ý lời Ê. Na-a-man hãy đến tôi, ắt người sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có tiên tri. Ông nhận mình là tiên tri của ĐGHV chứ không phải thầy thuốc chửa bệnh. Trách nhiệm chủ yếu và quan trọng nhất của người tiên tri không phải là chửa bệnh cùi. Họ không có khả năng cũng không có quyền năng làm điều đó. Tiên tri được ĐCT gọi để nói sự thật về Chúa, để khiến dân sự ăn năn tội của họ đối với Chúa. N. chỉ muốn được chửa bệnh phung cùi nhưng đầu tiên và quan trọng hơn hết là ông cần được chửa căn bệnh tâm linh sinh bởi tội lỗi. Tiên tri là người có thể giúp ông làm điều đó.
c10: Ê-li-sê sai một sứ giả nói với người rằng: Hãy đi tắm mình bảy lần dưới sông Giô-đanh, thịt ngươi tất sẽ trở nên lành, và ngươi sẽ được sạch. Ê-li-sê không đích thân đến với N. mà chỉ sai một sứ giả. Sau khi nghe lời này N. rất giận dữ và bỏ đi. Giận là phải vì sông Giô-đanh chỉ là một con sông nhỏ hẹp và nước dơ. Tại sao Chúa lại khiến tiên tri Ê. nói với N. điều này? Vì N. chỉ có thể đến với ĐCT bằng hai bàn tay không, không bạc vàng, quần áo, không thư của vua, không xe, không ngựa, không quyền chức, địa vị. Chỉ khi N. hay một người ý thức về sự nghèo khó của mình, về sự bất lực của mình trước nan đề đời sống, đến với tấm lòng tan vỡ, họ mới có thể đến với ĐCT với niềm tin và chỉ bởi niềm tin vào Chúa. Như lời ĐCJC: Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! 4 Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi! (Mathio 5:3-4)
Chúa nhật 21 tháng 8, 2016
Trong tuần qua bên cạnh những thắng thua, những kỷ lục của lực sĩ các môn trong kỳ thế vận hội tại Ba-tây, có 2 tin lớn. Tin thứ nhất về 4 người lực sĩ bơi lội, trong đó một người nổi tiếng và là đội trưởng của đội tuyển bơi lội HK tên Ryan Lochte. Chúa nhật tuần trước (Aug 14) họ cho biết đã bị cướp chỉa súng lấy đồ, và những tên cướp này giả trang phục như cảnh sát. Tuần qua một vị thẩm phán của Ba-tây ra lệnh tịch cho 4 vận động viên bơi lội HK này nộp lại passport cho cảnh sát Ba-tây và ở lại để điều tra. Ryan đáp máy bay về trước đó. Và khi 2 người còn ở lại sắp vào máy bay để về lại HK thì bị giữ lại để thẩm vấn. Họ được thả ra lại để về nước vài ngày trước đây sau khi phải bồi thường $11,000. Lý do là bởi vì 4 người này có hình trên một video thu lại tại một cửa tiệm như 7-11 ở đây. Chuyện thật là họ vào tiệm đó, vào nhà cầu rồi phá vở một món đồ. Khi ra bị một người security guard chỉa súng và bắt phải bồi thường rồi mới được đi. Mới hôm qua ông Ryan Lochte viết xin lỗi trên Instagram: I want to apologize for my behavior last weekend – [vì đã không cẩn thận và vô tư hơn] for not being more careful and candid in how I described the events of that early morning. Hầu hết các báo chí tại HK đều đả kích những lời xin lỗi đầu môi chót lưỡi này. Cho đến giờ 3 người kia cũng chưa hề lên tiếng để xin lỗi cùng tổ chức thế vận hội Ba-tây hay dân chúng Ba-tây vì đã nói dối và làm xấu danh thành phố Rio de Janeiro, ban tổ chức, và cả nước Ba-tây.
Câu chuyện thứ hai hoàn toàn trái lại với câu chuyện trước, về nữ lực sĩ điền kinh 5000m, Abbey D’Agostino. Trong cuộc chạy đua vòng loại, một lực sĩ người New Zealand thên Nikki Hamblin bị vấp té và khiến cho cô Abbey cũng bị té. Khi đứng lên, thay vì tiếp tục cuộc chạy cô dừng lại để đở người thi đấu cùng mình lên. Sau đó khi cả hai bắt đầu chạy lại thì chính Abbey lại quỵ xuống vì đầu gối bị thương tích. Nikki lần này nâng người đã giúp mình lên rồi cả hai hoàn tất cuộc chạy. Sau đó khi chụp hình người ta mới biết cô chạy với đầu gối bị 3 chấn thương rất nặng.
"That girl is the Olympic spirit right there," Hamblin said of D'Agostino. "I went down and I was like 'What's happening? Why am I on the ground?'
"Then suddenly this hand on my shoulder, like 'Get up, get up, we have to finish this' and I was like 'Yep, yep, you're right. This is the Olympic games – we have to finish this.'
"I've never met this girl before, and isn't that just so amazing?"
Hamblin continued: "Regardless of the race and the result on the board, that's [giây phút] a moment that you're never, ever going to forget. The rest of your life, it's going to be that girl shaking my shoulder, like 'Come on, get up'."
Hamblin later told a New Zealand radio station: "When I look back on Rio 2016, I'm not going to remember where I finished, I'm not going to remember my time... but I'll always remember that moment."
Trong một cuộc phỏng vấn sau cuộc chạy với đầu gối bị thương nặng, Abbey nói: Tôi cầu nguyện trong suốt cuộc chạy và biết rằng với sức riêng tôi không chạy nổi, nhưng ĐCT có thể! Cô là một người yêu mến Chúa và luôn tử tế với mọi người theo lời huấn luyện viên tại trường Darmouth, nơi cô đang đi học.
Nếu hỏi câu chuyện nào động viên, khích lệ, gây cảm xúc thì chắc rằng mọi người đều bảo câu chuyện về 2 nữ lực sĩ điền kinh. Và hầu hết mọi người đều lắc đầu, bỉu môi, chê bai khi nghe câu chuyện của 4 nam lực sĩ bơi lội. Tại sao? Bởi vì hầu hết mọi người, dù là người không tin Chúa cũng biết đúng sai, hạ tiện và cao thượng. Nói cách khác, hầu hết đều hiểu và biết rõ tiêu chuẩn của các lực sĩ thế vận hội đại diện danh dự một quốc gia. Nhưng không phải chỉ có các lực sĩ thế vận hội, mỗi gia đình, mỗi đoàn thể, mỗi trường học, mỗi hội thánh đều có những tiêu chuẩn để được chấp nhận là thành viên.
Huống chi ĐCT và nước Trời của Chúa. Huống chi với người tin Chúa. Vậy câu hỏi ai được ĐCT chấp nhận có thể trả lời cách đơn giản. Chúng ta biết qua KT người được ĐCT chấp nhận: ý thức, ăn năn tội lỗi; tin Chúa thật lòng và đời sống thay đổi với ngày càng thể hiện trái TL. Đây cũng là những người thật sự có sự thay đổi trong đời sống họ, thể hiện trái TL trong việc làm, lời nói, thái độ, cách cư xử với mọi người. Nhưng khó hơn là làm sao để biết những người tưởng mình được ĐCT chấp nhận nhưng lại không.
Câu trả lời đây là chúng ta không thể biết chắc chắn, rõ ràng vì không ai, ngoài ĐCT, thật sự biết rõ điều gì trong lòng, trong tâm hồn một người đã xưng mình tin Chúa. Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy hành động, lắng nghe lời nói, tìm hiểu thái độ với người chung quanh, tức nhìn trái của cây để có thể biết. Như chính ĐCJC cũng đã dạy: Các con nhận biết người ta nhờ hoa quả của họ. Không ai hái nho nơi bụi gai hay hái vả nơi chà chôm. 17 Cũng vậy cây lành sinh quả lành, cây độc sinh quả độc. 18 Cây lành không thể sinh quả độc, cây độc cũng không sinh quả lành. 19 Cây nào không sinh quả lành sẽ bị đốn và ném vào lửa. 20 Thế thì, các con nhận biết người là nhờ quả của họ (Ma-thi-ơ 7:16-20) "Không phải hễ ai nói với Ta: "Lạy Chúa, lạy Chúa, đều sẽ vào Nước Thiên Đàng đâu, nhưng chỉ những người làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời. (Matt 7:21 - BDM)
Tuần qua chúng ta đọc trong 2 CV 5 về câu chuyện của quan tổng binh Na-a-man. [Ôn lại] Sau khi nghe lời những người tôi tớ ông nhún mình dưới sống Giô-đanh 7 lần thì được lành bệnh phung cùi.
Na-a-man với hết thảy người đi theo, bèn trở lại cùng người của Đức Chúa Trời; người đến đứng trước mặt Ê-li-sê, mà nói rằng: Bây giờ, tôi nhìn biết rằng trên khắp thế gian chẳng có chúa nào khác hơn Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên. Ấy vậy, tôi xin ông nhậm lễ vật của kẻ tôi tớ ông. 16 Nhưng Ê-li-sê đáp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng ta phục sự mà thề rằng ta chẳng nhậm gì hết. Na-a-man ép nài Ê-li-sê nhậm lấy, nhưng người từ chối. (2 CV 5:15-16)
Thái độ của Na-a-man sau khi được chửa lành bệnh thế nào? Khiêm nhường (đứng trước mặt, kẻ tôi tớ), biết ơn, hiểu rõ rằng chính bởi quyền năng của ĐGHV mà ông được chửa lành. Nhưng quan trọng hơn hết là ý thức rằng: Bây giờ, tôi nhìn biết rằng trên khắp thế gian chẳng có chúa nào khác hơn Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên. Không có chúa nào khác hơn ĐCT của Y. từ Na-a-man? Chúa của ông là vua Sy-ri, là các thần trong xứ, nhất là thần Rim-môn. Rim-môn là thần của nắng, gió, mưa, bão tố. Đây là một thay đổi hết sức lớn trong suy nghĩ, niềm tin của N. Lớn lên trong xứ Sy-ri, làm quan lớn trong triều vua, niềm tin vào thần là điều hết sức quan trọng cho đường thăng tiến trong sự nghiệp.
Người thật sự tin Chúa phải là người thay đổi suy nghĩ, quan niệm về điểm tựa cho đời sống, tức nơi nương cậy, nơi đặt trọn niềm tin trong đời sống. Khi KT viết về con tim (heart), hay tấm lòng, như niềm tin trong tim, thì có nghĩa là trung tâm của mọi điều qv tin cậy, hy vọng cho đời sống. Làm thế nào để thay đổi tấm lòng, con tim? Chỉ khi qv thay đổi mọi điều qv tin cậy, hy vọng cho đời sống. Kẻ này nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa chiến. Nhưng chúng tôi nhờ cậy danh CHÚA, Đức Chúa Trời chúng tôi (TT 20:7) Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, Chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; 6 Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, Thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con. 7 Chớ khôn ngoan theo mắt mình; Hãy kính sợ Đức Giê-hô-va, và lìa khỏi sự ác (CN 3:5-7)
Trước đó, N. tin vào thần này, thần nọ, nhưng giờ ông chỉ tin vào một ĐCT. Trước đó, N. có thể tin vào sức mình, vào quyền chức, địa vị, vào tiền của, nay ông biết rằng chỉ có ĐGHV mới là nguồn trông cậy duy nhất cho đời sống.
Na-a-man bèn tiếp rằng: Tuy chẳng nhậm lấy, tôi xin ông cho phép người ta ban cho kẻ tôi tớ ông đủ đất bằng hai con la chở nổi vì từ rày về sau, kẻ tôi tớ ông chẳng muốn dâng của lễ thiêu hay là tế lễ chi cho thần nào khác hơn là Đức Giê-hô-va. 18 Song, nguyện Đức Giê-hô-va tha thứ cho kẻ tôi tớ ông điều này: Mỗi khi chủ tôi vào trong đền thờ Rim-môn đặng thờ lạy, thì chống trên cánh tay tôi, nên tôi cũng phải quì lạy trong đền thờ Rim-môn. Vậy, khi tôi quì lạy trong đền thờ Rim-môn, nguyện Đức Giê-hô-va tha thứ điều đó cho kẻ tôi tớ ông (2 CV 5:17-18)
Điều rõ ràng trong câu 17 là N. xác nhận từ rày về sau ông chỉ dâng của tế lễ cho bất cứ một thần nào khác ngoại trừ ĐGHV. Nhưng tại sao lại hỏi xin Ê-li-sê đất để chở về xứ Sy-ri? Tôi đọc một số sách giải kinh và bài giảng về đoạn KT này thì có mấy cách giải thích như sau:
N. vẫn còn mới trong đức tin nên cần một dấu tích để nhắc ông về ĐCT của Y. Như du khách khi đi xa mang về những món đồ từ nơi xa để nhắc họ về xứ đó, về chuyến đi.
N. dùng đất để làm bàn thờ cho ĐGHV khi về xứ
N. dùng đất để khi vào đền thờ Rim-môn với vua thì rải đất nơi ông quỳ để xác nhận rằng ông chỉ thờ lạy ĐCT của Y.
Cả 3 giải thích đều nói về một ý là đức tin của N. đã thật sự thay đổi và ông muốn bày tỏ đức tin đó khi về xứ Sy-ri để mọi người thấy và biết, ngay cả vua, ngay trong đền thờ thần Rim-môn. Có người có thể cho cách bày tỏ niềm tin của N. khi dùng đất là mê tín dị đoan, hay thiếu hiểu biết. Nhưng như trong 1C8 và Rô-ma 14, cách bày tỏ niềm tin này có thật sự là vấn đề trọng yếu hay không? Hay niềm tin mới và ước muốn bày tỏ niềm tin mới vào ĐCT mới là vấn đề trọng yếu? Dĩ nhiên là niềm tin mới và tấm lòng chân thành muốn bày tỏ niềm tin đó cho mọi người. KT nhắc chúng ta rằng: Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng. (1 Sa-mu-ên 16:7). Qua thời gian và sự trưởng thành, con đỏ trong Chúa như N. sẽ thay đổi và ý thức về cách thức thờ phượng không đúng này, hay nhiều điều khác nữa trong đời sống. [Thí dụ: việc dâng hiến, sự phục vụ]
Nhưng còn về việc vẫn vào đền thờ Rim-môn với vua thì sao? Điều này có đúng hay không? Có ít nhất hai điều không ai có thể phủ nhận:
1) N. là người mới tin Chúa, là con đỏ trong Chúa.
2) N. rất thành thật với tiên tri Ê-li-sê, với ĐCT về việc vào đền thờ Rim-môn thờ lạy với vua. Không ai buộc ông phải nói điều này.
3) N. ý thức rõ rằng điều ông vào đền thờ R. để thờ lạy với vua Sy-ri là việc sai quấy. Chính vì vậy ông xin ĐCT tha thứ cho ông.
Một con đỏ trong Chúa có sự thành thật về điều sai quấy và xin tha thứ tội là điều đáng chê trách hay đáng khen ngợi? Khen ngợi. Qv chắc có gặp qua một số tín đồ đi nhà thờ bao nhiêu năm trời, biết KT, tự hào về gia đình hầu việc Chúa, nhưng lại không ý thức được những điều hết sức sai quấy trong cách đối xử của họ với người chung quanh, trong lời nói, hành động, giao tiếp xã hội.
Nhưng hầu hết qv đều gặp qua rất nhiều anh chị em trong Chúa, là con đỏ vài ba năm trước, nhưng giờ đã thay đổi hết sức. Họ ý thức về những điều sai quấy ngày trước khi chưa hiểu biết nên hôm nay thay đổi. Qv nghĩ điều gì quan trọng? Làm đúng một việc rồi dừng lại không thay đổi, hay có thể bắt đầu sai quấy nhưng với thời gian thay đổi, trưởng thành. Qv nghĩ N. có thể là người con đỏ sẽ trưởng thành theo thời gian hay không? Qv có nghĩ khi trở về xứ, N. sẽ ngỏ lời cảm ơn đứa bé gái DT bị bắt làm nô lệ, phục vụ trong nhà và đối xử với cô một cách khác, thậm chí sẽ thả cô trở về lại với gia đình kèm theo một số tiền bồi thường hay không?
ĐCJC dạy chúng ta nhìn trái để biết cây, chứ không nhìn cây để biết trái! Trái là kết quả của cây. Hành động, lời nói, cách cư xử, thái độ hằng ngày là trái. Kiến thức KT, truyền thống gia đình có nghĩa gì nếu đời sống một tín đồ không hề thể hiện trái TL lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Trái lại khi nhận xét chỉ thấy một số tính của thế gian, của người không tin Chúa: gian dâm, ô uế, trụy lạc, 20 thờ thần tượng, phù phép, thù hận, gây gổ, ghen ghét, giận dữ, ích kỷ, chia rẽ, phe đảng, 21 ganh tị, say sưa, ham ăn mê uống, và những điều tương tự. (Ga-la-ti 5:19-21 – BD2011)
Qv có nhớ câu chuyện ĐCJC kể về 2 người cầu nguyện: một người thu thuế và người Pha-ri-si. Người nào là người được tha thứ, được ĐCT chấp nhận lời cầu nguyện? Người thu thuế khi ông thật sự ý thức và ăn năn tội: Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện như vầy: "Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài vì tôi đây không phải như bọn người phàm, tham ô, bất lương, gian dâm, hoặc như tên thu thuế này. 12 Tôi kiêng ăn mỗi tuần lễ hai lần. Tôi dâng phần mười tất cả các lợi tức. 13 Nhưng người thu thuế đứng đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà thưa: "Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót con là kẻ tội lỗi! 14 Ta bảo các con, người này về nhà được kể là công chính chứ không phải người kia. Vì ai tự tôn cao sẽ bị hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được tôn cao.” (Lu-ca 18:11-14 - BDM)
NGƯỜI TƯỞNG MÌNH ĐƯỢC CHẤP NHẬN
Để tương phản rõ N., con đỏ trong Chúa và người tưởng đã được ĐCT và người khác chấp nhận, KT viết về bé gái bị bắt làm nô lệ phục vụ cho vợ N. và Ghê-ha-xi, tôi tớ của Ê-li-sê (20-27).
KT chỉ viết ngắn về thái độ và việc làm của đứa gái nhỏ xứ Y. bị bắt làm nô lệ trong nhà N.
Vả, có một vài toán dân Sy-ri đi ra bắt một đứa gái nhỏ của xứ Y-sơ-ra-ên làm phu tù, để hầu hạ vợ Na-a-man. 3 Một ngày kia, nó nói với bà chủ mình rằng: Ôi! Chớ chi chúa tôi đi đến cùng ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Người sẽ giải cứu chúa tôi khỏi bịnh phung. (2-3). Thay vì cay đắng, em bé gái này là một nhân chứng sống cho ĐCT trong vòng dân ngoại. ĐCT có thể dùng mọi người, trong mọi hoàn cảnh để làm chứng cho Ngài. Tương phản với đứa bé gái nô lệ này là người theo tiên tri Ê-li-sê, Ghê-ha-xi.
Khi Na-a-man đã lìa khỏi Ê-li-sê, đi cách xa xa, 20 thì Ghê-ha-xi, tôi tớ của Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, nói thầm rằng: Kìa, chủ ta có dong thứ (quá dễ dàng) cho Na-a-man, người Sy-ri, không nhậm lễ vật mà người đã đem đến. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ chạy theo người và lãnh lấy vật chi nơi người [nhận lấy vật gì mới được] (19-20)
Chú ý sự tương phản giữa lời của tôi tớ N. sau khi ông giận, bỏ đi, không làm theo lời tiên tri Ê-li-sê và lời của Ghê-ha-xi. Tôi tớ N. nói với N. rằng việc Ê-li-sê kêu ông nhún mình dưới sông Giô-đanh là việc dễ, không khó làm. Khó là phải dẹp qua sự kiêu ngạo. Còn Ghê-ha-xi thì bảo thầy mình lại quá dễ dàng với N. Tại sao lại không nhận lễ vật muốn tặng cho? Bánh ít đi, bánh qui lại. Tiền trao, cháo múc. Việc ĐCT chửa bệnh thế nào miễn phí được?
Qv chắc có biết hay xem trên tv về một số mục sư đặc biệt chửa bệnh. Họ có những buổi nhóm đặc biệt để đặt tay cầu nguyện chửa bệnh. Có lần tôi xem trên tv một mục sư bảo rằng chỉ cần mua khăn đã được ông đặt tay cầu nguyện thì bệnh sẽ lành! Thật vậy sao? Nếu việc chửa lành bệnh là một phép lạ của ĐCT thì làm sao có thể gọi là phép lạ nếu xãy ra hằng ngày, xảy ra mỗi lần người mục sư đặt tay cầu nguyện. Như vậy làm sao có thể gọi là phép lạ? Để N. biết rõ rằng việc chửa lành bệnh là do ĐCT, tiên tri Ê-li-sẽ qua người sứ giả bảo ông chỉ cần nhún mình dưới sông Giô-đanh. Và việc tiên tri từ chối quà tặng rất lớn của N. là cũng để xác nhận rằng chính ĐCT chửa lành bệnh cho ông, chứ không phải từ Ê.
Vậy Ghê-ha-xi đuổi theo Na-a-man. Khi Na-a-man thấy có người đuổi theo mình thì ông từ trên xe nhảy xuống, đến đón và hỏi: "Mọi sự bình an chăng?" 22 Ghê-ha-xi đáp: "Bình an. Có điều là thầy tôi sai tôi đến nói: "Có hai tiên tri mới vừa từ vùng đồi núi Ép-ra-im đến, xin ngài hãy cho họ ba mươi ký bạc và hai bộ quần áo để thay đổi" 23 Na-a-man đáp: "Xin hãy nhận lấy sáu mươi ký." Rồi ông nài ép Ghê-ha-xi hãy nhận. Ông cho cột sáu mươi ký bạc và hai bộ quần áo để thay đổi vào hai bao, rồi sai hai người đầy tớ mang đi trước mặt Ghê-ha-xi. 24 Khi họ đến chân đồi, thì Ghê-ha-xi lấy hai bao ấy khỏi tay họ để đem cất trong nhà mình, rồi cho hai người ấy đi về, và họ ra về.
Ghê-ha-xi là người theo Ê-li-sê. Hiểu biết KT. Thấy phép lạ ĐCT thực hiện qua Ê. Biết rõ đời sống của thầy mình là người thế nào. Giữa một N., con đỏ trong Chúa, người còn hỏi xin tha thứ về việc vào đền thờ tà thần để quì lạy với vua mình phục vụ và một Ghê-ha-xi, tín đồ lâu năm, tập sự, đệ tử của tiên tri thì ai có thể nghĩ rằng người ĐCT từ chối và trừng phạt lại là Ghê-ha-xi.
Lý do gì Ghê-ha-xi làm điều này? Lòng tham của. KT dạy rõ: Còn những kẻ ham làm giàu bị rơi vào vòng cám dỗ, mắc vào cạm bẫy và nhiều dục vọng điên dại và tổn hại, là những điều làm người ta nhảy vào chỗ hư hoại, diệt vong. 10 Mê tham tiền bạc là cội rễ mọi điều gian ác; cũng vì đeo đuổi nó mà một số người đã lầm lạc lìa bỏ đức tin, và bản thân họ bị nhiều nỗi khổ đau xâu xé (1 Ti-mô-thê 6:9-10 – BDM)
Một bài học: theo Chúa, làm việc Chúa không phải để được của. Nếu trong thâm tâm người tin Chúa nghĩ rằng, dù không nói ra, nếu tôi tin Chúa, nếu tôi làm việc Chúa, chắc chắn Chúa sẽ ban thưởng tài của, thành công cho tôi, thì đã nghĩ rất sai. Ơn phước ĐCT ban cho người trung tín với Ngài có thể không phải như người đời thường nghĩ nhưng là sự thay đổi cuộc đời sinh bông trái TL, là quan hệ gần gũi với Chúa và với người chung quanh.
Trong xã hội, thế giới chúng ta đang sống, có những người hết sức đẹp đẽ, hết sức giàu có, học thức, tài giỏi, hiểu biết nhưng bên trong là một tấm lòng xấu xí. Lại có những người có lòng nhân từ, yêu thương, tha thứ, rộng lượng, nhưng bề ngoài lại không đẹp, thậm chí có lúc xấu xí. Hình ảnh ĐCT chửa lành bệnh phung cùi cho N. và khiến Ghê-ha-xi trở nên phung cùi là hình ảnh của một thế giới mà ĐCT sẽ cai trị: dáng vẽ bề ngoài sẽ tương xứng với tâm hồn bên trong. Đến lúc đó mọi người sẽ biết rõ về mọi người khi nhìn họ. Ai xấu xí bên trong, độc ác bên trong, giả dối bên trong, sẽ hiện rõ ra bên ngoài. Cũng vậy người có tâm hồn cao thượng, đẹp đẽ, yêu Chúa, yêu người, sẽ nên đẹp đẽ bên ngoài.
Hôm nay chúng ta vẫn còn sống trong thế giới mà con người chi có thể đoán biết, đánh giá tâm linh, con tim của một người qua trái của đời họ. Vì vậy có lúc chúng ta sẽ lầm: tốt tưởng là xấu, xấu lại tưởng là tốt. Nhưng ĐCT không lầm bởi vì dù Ghê-ha-xi có thể dấu mọi người nhưng vẫn không thể dấu được ĐCT.
Với sự khôn ngoan Chúa ban cho, chúng ta cần nhận xét để hiểu biết người. KT cho chúng ta biết một số điều rõ ràng về ai là người được ĐCT chấp nhận và từ chối. Nhưng việc xét đoán, xử phạt, khen thưởng là của ĐCT. Chúng ta hãy làm điều thuộc về phần mình và hãy để ĐCT làm những việc thuộc về Ngài.
