Đức Tin Trong Lửa – Được Chúa Chọn
Tôi sẽ bắt đầu một loại bài mới từ thư 1 Phi-e-rơ với đề tựa Đức Tin Trong Lò Lửa. Chúng ta đã qua 2020, một năm đầy khó khăn, thử thách: covid-19, mùa hè loạn lạc, bạo động, kinh tế khó khăn, suy sụp, dân tình hoang mang, chia rẽ. Bước vào năm 2021, mọi người đều hy vọng: hy vọng về vaccine sẽ giúp đời sống trở lại bình thường như trước covid, hy vọng công ăn việc làm sẽ được phục hồi, hy vọng con em chúng ta sẽ trở lại trường học thay vì tiếp tục online, hy vọng dân tình ổn định, lắng dịu lại.
Trước những khó khăn, thử thách trong suốt năm qua, con cái Chúa trong HT đã quyết tâm trung tín và bền đỗ trong đức tin. Tuy nhiên trong năm mới này, chúng ta không biết những khó khăn, thử thách, hay ơn phước, thành công gì sẽ đến. Mỗi người tin Chúa đều cần mạnh mẽ hơn trong đức tin. Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. (Hê-bơ-rơ 11:1)
Đây là lý do của loạt bài mới dựa theo thư 1P. Để đức tin của con cái Chúa trong HT dù trong lò lửa thử thách của đời sống sẽ ngày càng mạnh mẽ, vững chắc hơn. Đức tin trong lửa mới là đức tin thật và đáng quí.
1P được viết bởi P., 1 trong 12 sứ đồ của ĐCJC. P. là 1 sứ đồ nổi bật trong số 12 người theo ĐCJC trong suốt 3 năm trời. Danh sách của 12 sứ đồ được ghi lại trong cả 3 sách PA: Matt 10, Mác 3, Lu-ca 6 và CV 1. Trong cả 4 danh sách, tên P. đều được liệt ra đầu tiên, không ngoại lệ. Vậy có thể nói P. là lãnh đạo trong số 12 sứ đồ ĐCJC chọn.
P. là người đầu tiên trong vòng các sứ đồ biết rằng ĐCJC chính là Đấng Mê-si, Đấng cứu tội cho con người (Ma-thi-ơ 16:17). P. là 1 trong 3 người gần gủi ĐCJC hơn hết: hiện diện trên núi khi ĐCJC hóa hình, trong đêm cuối tại vườn Gết-sê-ma-nê (dù ngủ gục). P. cũng nổi bật vì tính mau nói, mau làm nhưng chậm nghĩ. Ông là người cả quyết dù ai bỏ Chúa nhưng ông không bao giờ bỏ Ngài. Chỉ vài tiếng sau đó, chính ông đã chối Chúa 3 lần.
Dù chúng ta có thể chê trách P. về tính tình vội vàng, hấp tấp, mau nói, chậm nghe, thiếu suy nghĩ. Hay trách ông vì đã chối Chúa 3 lần. Nhưng không ai có thể trách P. rằng ông không có lòng yêu mến Chúa, sốt sắng về công việc Chúa. Chính P. là người được ĐCJC giao phó trách nhiệm chăn bầy chiên Ngài và là trụ cột của HT đầu tiên tại thành Giê-ru-sa-lem.
Trong HT, trong công việc Chúa chúng ta thà gặp những người nóng nảy cho công việc Chúa như P. hơn là những người hâm hẩm, không nóng, cũng không lạnh.
Tên của P. là Si-môn hay Si-mê-ôn theo tiếng Hê-bơ-rơ. Chúa đặt tên cho ông là P., có nghĩa là hòn đá. Có nơi trong KT gọi P. là Si-môn P. Có lẽ hai tên này được dùng để nhắc người tin Chúa về 2 bản tính cũ và mới: bản tính cũ của Si-môn mau vấp ngã, phạm tội, bản tính mới trong P. cứng cáp như hòn đá, trung tín cho đến cuối.
Theo 5:13, thư được viết từ thành Ba-by-lôn. Đây không phải là thành B. của vua Nê-bu-cát-nê-xa thời CU nhưng là một danh hiệu dùng trong vòng tín đồ khi nói đến thành La-mã. KH 17:5 & 18:10 ví thành La-mã như thành B. ngày xưa vì tội lỗi và sự bắt bớ, tàn ác với HT Chúa và với người tin Chúa.
Một số đông các học giả KT giải thích rằng thư được P. viết vào những năm tháng cuối đời: giữa năm 60, khoảng 62-64. Đây là thời điểm mà đại đế La-mã Nê-rô bắt đầu cuộc khủng bố, bắt bớ người tin Chúa. Vào tháng 7, 64 thành La-mã bị thiêu hủy trong một vụ hỏa hoạn lớn. Theo các sử gia thì chính vua Nê-rô đã đốt thành. Nhưng vua lại đổ lỗi cho người tin Chúa và bắt đầu một cuộc thanh trừng vô cùng tàn khốc.
Theo sử gia La-mã Tacitus, Nê-rô bắt người tin Chúa, tẩm dầu hắc cả người họ, rồi treo lên thập giá dọc 2 bên đường vào cung điện. Khi vua quan có yến tiệc vào buổi tối, thì họ đốt những cây đuốc người đó để làm sáng đường đi. Vua Nê-rô cũng bắt người tin Chúa bỏ vào các đấu trường để họ bị giết bởi thú dữ. Tín đồ bị tù đày, bị treo cổ, ném đá, đốt, đánh đập, tra tấn đến chết. Nhiều người bị chiếm đoạt tài sản. Người thân trong gia đình họ bị bắt bớ, hạch hỏi, thậm chí tù đày, tra tấn. Sự bắt bớ, khủng bố bắt đầu từ thành La-mã rồi lan ra cả đế quốc. Đến cả các xứ ở vùng Tiểu Á. Tất cả chỉ vì họ tin Chúa.
Tín đồ thời đó trả giá đắt cho đức tin của họ vào ĐCJC. Và khi đối diện với thử thách, hoạn nạn, họ phải quyết định. Hoặc để cho đức tin họ bị lò lửa thử thách thiêu hủy, làm cho cháy rụi thành tro bụi. Hoặc lò lửa thử thách sẽ tôi luyện đức tin họ trở nên quí báu như vàng.
Thư 1P viết gởi cho tín đồ sinh sống tại nhiều nơi khác nhau trong vùng Tiểu Á mà P. gọi là những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni. Ít nhất 15 lần trong thư, P. đề cập đến hoạn nạn, thử thách. Trong thư P. dùng 8 từ khác nhau khi viết về những hoạn nạn, thử thách. P. cũng tiên đoán về cơn hoạn nạn rất lớn trong thời vua Nê-rô khi viết trong 1P 4:12 Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường.
Sứ đồ P. gọi những hoạn nạn, khó khăn, bắt bớ, thử thách trong đời sống tín đồ theo 4:12 là lò lửa thử thách. Mục đích của thư 1P này giúp cho người tin Chúa có thể giữ vững đức tin trước lò lửa thử thách, dù khi lửa mới nhén lên hay đang bừng cháy dữ dội. Vì vậy mà loạt bài giảng dựa theo thư có tựa đề là đức tin trong lửa.
Bài giảng sáng nay và tuần tới tập trung vào 2 câu đầu tiên của thư: Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn, 2 theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em!
BA NGÔI ĐCT
Điều đầu tiên chúng ta có thể nhận thấy là chỉ trong 2 câu KT này, sứ đồ P. viết rõ về 3 ngôi ĐCT và 3 điều mà môi Ngôi thực hiện để một người tin Chúa và được cứu tội. Nói cách khác, sự cứu tội và thay đổi đời sống của tín đồ là kết quả từ công việc của cả 3 ngôi ĐCT.
Giáo điều về 3 ngôi ĐCT là một giáo điều khó, thậm chí không thể giải thích cách thỏa đáng cho người nghe. Làm sao ĐCT là một mà lại là 3 ngôi? Nếu ĐCT gồm 3 thân vị và mỗi thân vị với một chức năng và có những việc làm khác nhau thì làm sao có thể là một? Khi dạy rằng ĐCT có ba ngôi có nghĩa là cả 3 ngôi đều là ĐCT, hoàn toàn bình đẳng: ĐCCha là ĐCT, ĐCJC là ĐCT, ĐTL là ĐCT. Chớ không phải vì gọi ĐCJC là Ngôi Hai, là ĐCCon nên con sẽ thấp hơn cha. Hay ĐTL thấp hơn ĐCJC và ĐCCha.
Bài giảng hôm nay không phải về giáo điều 3 ngôi. Tôi chỉ muốn nêu lên những áp dụng rất cụ thể và quan trọng về giáo điều này, cho dù chúng ta không thể giải thích cách hoàn toàn thỏa đáng. Áp dụng đầu tiên là tình yêu thương. KT dạy rõ trong 1 Giăng 4:8-9: Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau; vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời. 8 Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương.
Lời dạy ĐCT là sự yêu thương hoàn toàn hợp lý. Bởi vì từ đời đời, trước khi trời đất, vũ trụ, con người được tạo dựng thì tình yêu thương đã hiện diện giữa 3 ngôi ĐCT. Cha yêu Con, Con yêu Cha, Cha yêu TL, TL yêu Con. Nhưng chúng ta không thể nói về một Thượng Đế 1 ngôi yêu thương. Đấng đó yêu ai? Tình yêu thương luôn luôn phải có đối tượng. Chúng ta không thể nói tôi yêu, nhưng chỉ có thể nói tôi yêu người này hay vật nọ. Vậy giáo điều 3 ngôi ĐCT giúp chúng ta hiểu về ý nghĩa của tình yêu thương bởi vì từ đời đời cho đến đời đời, 3 ngôi ĐCT luôn yêu thương nhau.
Áp dụng thứ hai là sự hiệp một. Trong đêm cuối đời, ĐCJC cầu nguyện cho các môn đồ 2 điều quan trọng: tình yêu thương và sự hiệp một. Và khi cầu nguyện cho tình yêu thương & sự hiệp một, ĐCJC nói: Lạy Cha thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy… Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con. (Giăng 17:11, 23)
Tình yêu thương & sự hiệp một trong 3 ngôi ĐCT không chỉ đời đời, nhưng toàn vẹn và tuyệt đối. Ba ngôi có cùng một vinh hiển và tôn quí dù có chức năng và việc làm khác nhau. Cha dự định, Con thực hiện, ĐTL trợ giúp nhưng không hề có sự so sánh, phân bì hay áp trị.
Và trong 2 câu đầu của thư 1P, P. dạy chúng ta rất rõ về chức năng khác nhau của 3 ngôi ĐCT trong sự cứu tội và thay đổi đời sống của người tin Chúa. Sự cứu tội và thánh hóa đời sống của tín đồ là kết quả từ công việc của cả 3 ngôi ĐCT: 1) được chọn theo sự biết trước của ĐCCha, 2) được nên thánh bởi ĐTL, và 3) được phần trong sự rải huyết (hay cứu tội) của ĐCJC. Đây là một đoạn KT dạy rất rõ về sự ban cho và vai trò của 3 ngôi ĐCT trong đời sống người tin Chúa.
Một người được cứu vì được ĐCCha chọn. Họ được cứu không phải vì công đức hay đời sống thánh khiết, nhưng khi được nên thánh bởi ĐTL. Và sự nên thánh bởi ĐTL chỉ có thể xảy ra khi họ chấp nhận (vâng phục) hoàn toàn vào ĐCJC và vào sự đổ huyết chuộc tội của ĐCJC. Sự nên thánh bởi ĐTL không chấm dứt với sự tin nhận Chúa vào đời sống cho sự cứu tội nhưng vẫn tiếp tục hằng ngày trong cuộc đời người tin Chúa.
ĐƯỢC CHÚA CHỌN
Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn, 2 theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha. Được Chúa chọn là một giáo lý rất khó cho nhiều người. Khó không phải chỉ vì khó hiểu nhưng khó còn bởi vì khó tin. Vì giáo lý này sinh ra nhiều câu hỏi rất khó phức tạp. Như nếu một người tin Chúa bởi vì được Chúa chọn thì ĐCT có công bằng hay không? Tại sao Chúa lại chọn một số người nhưng lại không chọn số khác. Một câu hỏi khác là nếu người ta tin Chúa vì được Chúa chọn, thì cần gì phải làm chứng đạo, cần gì phải nói về ĐCJC. Chẳng phải vì Chúa đã chọn họ nên trước sau, sớm muộn họ cũng sẽ nghe và tin TL hay sao?
Xem lại các bài giảng về thư Ê-phê-sô, 2 năm trước đây tôi cũng đã chia sẻ về đề tài này. Tuy nhiên như lời P. căn dặn: Dầu anh em biết rõ ràng và chắc chắn trong lẽ thật hiện đây, tôi cũng sẽ nhắc lại những điều đó cho anh em chẳng thôi. (2 Phi-e-rơ 1:12), tôi sẽ nhắc lại những điều này.
Trước khi giải thích về giáo lý được chọn, tôi muốn giải thích rõ về 3 điều KT dạy về sự cứu rỗi. KT dạy rõ: 1) ĐCT muốn mọi người được cứu; 2) Con người có sự tự do lựa chọn; 3) ĐCT đã định trước và chọn một số người để họ được cứu, được ở trong Chúa.
Tôi sẽ nêu lên một số KT dẫn chứng 3 điều này và sau đó sẽ giải thích 3 điều này không hề mâu thuẫn với nhau.
ĐCT Muốn Mọi Người Được Cứu
KT dạy rõ rằng ĐCT muốn cho mọi người đều được cứu, không muốn một người nào hư mất hay phải chịu hình phạt đời đời nơi địa ngục. Hãy nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên? (Ê-xê-chi-ên 33:11)
Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn. (2 Pet 3:9); Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. (1 Tim 2:4)
Con Người Có Sự Tự Do Lựa Chọn
KT cũng dạy rằng con người có sự tự do lựa chọn.
Ngày nay, ta bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng ta đã đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự rủa sả. Vậy, hãy chọn sự sống, hầu cho ngươi và dòng dõi ngươi được sống (PT 30:19)
Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự, hoặc các thần mà tổ phụ các ngươi đã hầu việc bên kia sông, hoặc các thần dân A-mô-rít trong xứ mà các ngươi ở; nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va. (Josh 24:15)
Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu. (Giăng 6:37) Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. (Matt 11:28)
ĐCT Đã Định Trước Và Chọn Một Số Người Để Họ Được Cứu
Nhưng KT cũng dạy trong rất nhiều nơi về sự tiền định và chọn lựa của ĐCT với một số người để họ được cứu, được ở trong Chúa. Vì thời gian nên tôi chỉ nêu lên vài câu: Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn ta, bèn là ta đã chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi và kết quả, hầu cho trái các ngươi thường đậu luôn: lại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhân danh ta cầu xin Cha, thì Ngài ban cho các ngươi. (Giăng 15:16) Khi được Chúa gọi, các môn đồ nghe lời kêu gọi và quyết định đi theo Ngài. Tuy nhiên Chúa cũng giải thích họ quyết định đi theo Chúa là bởi vì họ là những người đã được chọn. Họ không được chọn bởi vì họ quyết định hy sinh bỏ nghề đánh cá, nghề thu thuế để theo Chúa. Họ quyết định hy sinh bỏ nghề đánh cá để theo Chúa bởi vì họ đã được Chúa chọn.
Đoạn KT trong Rô-ma 8:28-30 chúng ta đã nghe đọc có câu: Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; 30 còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. Chú ý thứ tự trong 2 câu KT này: 1) ĐCT biết trước, 2) ĐCT đã định, chọn, 3) ĐCT gọi kẻ Ngài chọn; 4) Kẻ Chúa chọn được xưng công bình, có nghĩa là được cứu tội; 5) Kẻ Chúa chọn xưng công bình cũng sẽ được làm cho vinh hiển hay được thánh hóa và vinh hiển bởi ĐTL. Vậy khởi điểm là từ việc ĐCT biết trước và chọn những người sẽ nghe, tin vào Tin Lành.
Nghe lời này, người ngoại quốc hân hoan và tôn vinh Đạo Chúa; những người đã được định để hưởng sự sống vĩnh phúc đều tin nhận Chúa. (CV 13:48) Những người tin nhận Chúa là những người đã được định để hưởng sự sống vĩnh phúc, đời đời. Họ tin vì được chọn, chớ không phải được chọn vì tin.
Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát. 36 Nhưng ta đã nói: Các ngươi đã thấy ta, mà chẳng tin. 37 Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu. (Giăng 6:36-37). Người Pha-ri-si nghe lời Chúa nhưng không tin vì Cha không đem họ đến với ĐCJC. Những người ĐCCha đem đến với ĐCJC sẽ tin, sẽ tìm đến để nhận bánh sự sống.
Rõ hơn nữa là lời dạy của PL trong Ê-phê-sô: Trước khi sáng tạo vũ trụ, Đức Chúa Trời đã chọn chúng ta trong Chúa Cứu Thế để chúng ta trở nên thánh hóa không có gì đáng trách trước mặt Ngài. 5Vì yêu thương và theo mục đích tốt đẹp của ý định Ngài, Đức Chúa Trời đã tiền định cho chúng ta làm con nuôi của Ngài nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su, 6 để chúng ta ca ngợi ân sủng vinh quang mà Đức Chúa Trời đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài. (Ê-phê-sô 1:4-6-BDM)
Câu 4-5 dạy ĐCT từ trước khi sáng thế đã chọn chúng ta trong ĐCJC với mục đích để được thánh hóa, được làm con nuôi. Làm thế nào để được làm được thánh hóa? Trước hết phải được chọn để được tha thứ, sau đó được cứu chuộc. Nguyên nhân gì, lý do gì ĐCT chọn chúng ta làm con nuôi Ngài? Có phải bởi vì chúng ta dễ thương, giỏi, ngoan, hiền? Không. Chỉ vì yêu thương. Chỉ vì ân điển, sự ban cho không xứng đáng nhận lãnh.
Tôi muốn qv hiểu thật rõ và nhớ kỹ điều này: Trong Đấng Christ, ĐCT tha thứ, cứu tội, nhận làm con nuôi, ban mọi phước thiêng trên trời, làm cho thánh hóa, ban cho ĐTL vì một lý do duy nhất: tình yêu thương. Hoàn toàn không phải bởi tôi hay, tôi giỏi, tôi hiền, tôi tốt, tôi phục vụ, dấng thân, hy sinh.
ĐCT chọn qv và tôi không vì bất cứ một lý do nào khác ngoài tình yêu thương, ân điển. Tại sao điều này quan trọng? Bởi vì như PL giải thích trong câu KT quen thuộc trong Ê-phê-sô 2:8-9: để không ai có thể khoe mình, để làm việc Chúa định cách tự nguyện, vui lòng từ lòng biết ơn chân thành, sâu sa nhất.
PL viết: Vì tôi vốn thấp kém nhất trong vòng các sứ đồ; không xứng đáng được gọi là sứ đồ vì tôi đã bắt bớ hội thánh của Đức Chúa Trời. 10 Nhưng nhờ ân sủng Đức Chúa Trời tôi được như ngày nay (1 Cor 15:9-10) Lý do gì PL trở nên sứ đồ Đấng Christ? Nhờ ân sủng. Lý do gì tôi được chọn làm mục sư? Nhờ ân sủng.
Để không ai có thể khoe khoang vì bất cứ lý do gì PL giải thích cho các tín đồ HT Cô-rinh-tô như sau: Anh chị em hãy xem xét lúc Chúa kêu gọi anh chị em. Giữa vòng anh chị em không có mấy người khôn ngoan theo trần tục, không mấy người có quyền thế, cũng không có nhiều người quý phái. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những điều dại dột trong thế gian để làm hổ thẹn những người khôn. Đức Chúa Trời đã chọn những điều yếu đuối trong thế gian để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28 Đức Chúa Trời đã chọn những gì hèn hạ, bị khinh khi trong thế gian và những điều không ra gì để hủy bỏ những điều trọng đại. 29 Cho nên loài người không ai có thể khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Nhờ Đức Chúa Trời mà anh chị em ở trong Chúa Cứu Thế Giê-su, là Đấng Đức Chúa Trời đã làm thành sự khôn ngoan, công chính, thánh khiết và cứu chuộc cho chúng ta. 31 Như Thánh Kinh đã chép: "Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa." (1:26-31-BDM). Không mấy người khôn ngoan là nói khéo cho ý anh em đều ngu cả!
Có thể một vài qv đây tự hỏi: không phải tôi nghe lời kêu gọi tin Chúa sau khi nghe về sự cứu rỗi, rồi cầu nguyện tin Chúa hay sao? Không phải khi đáp ứng lời kêu gọi tin Chúa, khi cầu nguyện nhận ĐCJC vào lòng là tôi đã chọn Chúa hay sao?
Nếu tôi hỏi qv tại sao qv cầu nguyện tin nhận Chúa, qv trả lời thế nào? Vì tôi hiểu sau khi được giải thích? Biết bao nhiêu người hiểu về sự cứu rỗi nhưng tại sao họ không tin? Chẳng phải người Pha-ri-si biết nơi nào Đấng Mê-si sẽ sinh ra hay sao nhưng lại không tin. Tôi tin vì biết mình có tội. Qv nghĩ có người nào không biết mình có tội hay không? Tôi tin vì tôi khiêm nhường hơn anh chị!
Tôi dùng một ví dụ để giải thích điều này: Giả sử qv đem hai dĩa thức ăn đến cho một con chó, một dĩa rau và một dĩa thịt. Qv nghĩ con chó sẽ chọn dĩa thức ăn nào? Dĩ nhiên là thịt. Không phải bởi vì nó không thể chọn dĩa rau, nhưng vì nó không hề muốn chọn dĩa rau. Chọn dĩa thịt là chọn theo bản tính tự nhiên, bản tính bẩm sinh của chó.
[Chuyện Trạng Quỳnh ăn cắp mèo của vua] Qv có thể đem chuyện Trạng Quỳnh ăn cắp mèo của vua rồi bắt mèo phải ăn cơm với tương mà làm ví dụ tương phản. Nhưng ngay trong chuyện đó, bản tính tự nhiên của mèo không phải là ăn cơm với rau, mà là với thịt, với cá.
KT dạy rất rõ rằng từ sau khi A-đam & E-va ăn trái cấm phạm tội cùng ĐCT thì cả dòng dõi loài người đều mang bản tính tội lỗi, có nghĩa là nếu để tự nhiên chúng ta sẽ không bao giờ “chọn” ĐCT, chọn sống theo lời dạy KT, chọn làm theo sự nhắc nhở của ĐTL. Câu chuyện Ca-in giết em A-bên giải thích rất rõ về bản tính tội lỗi, bất chất tình thân máu mủ.
Đa-vít viết: Thật vậy, tôi vốn gian ác từ khi sinh ra, Tôi vốn tội lỗi từ khi được hoài thai trong bụng mẹ. (TT 51:5-BDM) Theo bản tính tự nhiên, con người không thể không phạm tội. Ai dạy trẻ thơ nói dối? Ai dạy trẻ thơ dành đồ chơi, dấu đồ chơi? Không cần ai dạy cả. Có dạy chăng là dạy phải nói thật, phải chia sẻ đồ chơi với bạn, phải nice với bạn. Trái với Khổng Lão con người không nhân chi sơ tính bổn thiện nhưng nhân chi sơ tính bổn tội, bổn ác.
PL giải thích rất rõ điều này trong đoạn 2:1-3: Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, 2 đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch [những người không vâng lời]. 3 Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác.
Vậy khi một người sau khi nghe Tin Lành, cầu nguyện tin Chúa là bởi vì ĐTL đã làm cho lòng họ muốn đến với Chúa. Như con chó trước thấy dĩa thịt thì chọn ngay lập tức, bây giờ lại muốn ăn rau, trái với bản tính tự nhiên. Người muốn đến để tin nhận Chúa là người đi ngược lại với bản tính tự nhiên của loài người vì đã được Chúa gọi, cũng là người đã được Chúa định và chọn từ trước sáng thế để được ở trong ĐCJC.
Nói tóm lại thế này: người nghe và tin nhận TL về sự cứu rỗi của ĐCJC là người ĐCT đã biết trước và chọn để họ được nghe TL, để khi nghe họ cảm động, để khi cảm động, họ tin nhận ĐCJC. Một người tin Chúa là một người được chọn. Không phải khi tin Chúa rồi, họ mới được chọn.
Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn, 2 theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em!
