Đức Tin Qua Lửa – Tái Sanh Trong Hy Vọng Sống
Từ hai tuần qua chúng ta đã bắt đầu loạt bài mới trong thư 1 Phi-e-rơ với đề tựa Đức Tin Trong Lò Lửa. Đề tựa này dựa theo chủ đề chính yếu và quan trọng nhất của thư. P. viết thư này cho các tín đồ bị tản lạc khắp các vùng khác nhau trong xứ Tiểu Á đang trải qua những thảm cảnh, khó khăn, hoạn nạn, mất mát vì đức tin trong ĐCJC.
P. ví cảnh ngộ khó khăn tín đồ đang trải qua là lò lửa thử thách. Lò lửa có thể thiêu đốt nhiều vật. Nhưng lò lửa cũng là nơi để làm tinh sạch kim loại, như vàng bạc. Vàng bạc cần qua lò lửa mới có thể lấy được những đất cát, cặn bả để trở nên ròng, tinh sạch. P. viết thư để động viên, khích lệ các tín đồ này rằng khi dù họ đang trong lò lửa thử thách, ĐCT sẽ gìn giữ để đức tin họ sẽ không bị thiêu hủy nhưng trái lại sẽ trở nên tinh sạch, quí báu hơn.
Nhiều tín đồ khi trải qua lò lửa thử thách trở nên cay đắng, luôn mai mỉa, châm biếm, hoài nghi và tàn nhẫn hơn với người và với đời. Đức tin của họ có thể ví như xáp, sẽ tiêu chảy dưới sức nóng của lửa. Nhưng nhiều tín đồ sau khi trải qua mất mát, đau khổ lại trở nên mềm mại, nhân từ, cảm thông với người và với đời hơn. Đây là những người với đức tin như đất xét. Trong tay ĐCT, cục đất xét được uống nắn để trở nên một bình gốm hữu dụng sau khi qua lửa. Cùng một lò lửa thử thách, nhưng hai kết quả hoàn toàn khác nhau.
Mục đích của loạt bài mới theo thư 1P. nhằm để giúp đức tin của con cái Chúa trong HT dù khi trải qua lò lửa thử thách của đời sống như trong năm qua sẽ ngày càng mạnh mẽ, vững chắc hơn. Đức tin trong lửa mới là đức tin thật và đáng quí.
Bài giảng hôm nay dựa theo câu 3-5: Ca ngợi Đức Chúa Trời là Cha Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta! Vì lòng thương xót lớn lao, Ngài đã cho chúng ta được tái sanh với đầy hy vọng sống nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su sống lại từ kẻ chết, 4 để thừa hưởng gia tài không thể bị phá hủy, không hư hoại hay phai tàn đã dành cho anh chị em trên trời, 5 là những người nhờ đức tin được quyền năng của Đức Chúa Trời gìn giữ cho sự cứu rỗi, là điều sẵn sàng để được bày tỏ trong thời cuối cùng. (BDM)
Bài giảng hôm nay tập trung vào một lời dạy rất quan trọng của P. trong câu 3 là về sự sanh lại hay tái sanh. Câu 3 chúng ta được tái sanh với đầy hy vọng sống. Tuần tới khi mừng Tết Tân Sửu, chúng ta sẽ tập trung vào phần thứ 2 của câu này là về hy vọng sống.
Ba điều trong bài giảng hôm nay: 1) Tái sanh là gì? Tại sao điều này quan trọng và cần thiết cho sự cứu rỗi và đức tin? 2) Bằng chứng của sự tái sanh. Có thước đo hay thử nghiệm nào để biết một người thật sự sanh lại hay không? 3) Thay đổi của người tái sanh. Cuộc đời người đã được tái sanh thay đổi thế nào?
TÁI SANH LÀ GÌ? QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT CHO CỨU RỖI VÀ ĐỨC TIN
Trong bài giảng tuần qua tôi cũng đã giải thích câu 5 là một yên ủi rất lớn cho người đang qua lò lửa thử thách. Họ có thể tự hỏi rằng trước những mất mát, thử thách, hoạn nạn này, liệu tôi có đủ đức tin và nghị lực để kiên trì tiếp tục cho đến cuối hay không? Hay tôi có thể bỏ cuộc, mất đi sự cứu rỗi quí báu? Câu 5 dạy rằng chính ĐCT và quyền năng của ĐCT sẽ gìn giữ cho sự cứu rỗi của người đang qua lửa đỏ thử thách nên sẽ họ có thể vững tâm rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ. (Phi-líp 1:6)
Trong đoạn KT này, P. dâng lời ngợi khen, cảm tạ ĐCT và dạy tín đồ cũng làm điều này. Lý do của sự cảm tạ là sự sanh lại, hay tái sanh trong hy vọng sống. Tôi chắc rằng rất nhiều qv đây và trên mạng tuyến đều có lần nghe qua từ sanh lại hay tái sanh. Ngay cả người chưa tin Chúa cũng nghe về tín đồ tái sanh. Mọi người đều hỏi tái sanh là gì? Tại sao điều này quan trọng và cần thiết cho sự cứu rỗi và đức tin.
Sự sanh lại hay tái sanh là lời dạy của ĐCJC cùng một lãnh đạo người Do Thái tên Ni-cô-đem. Câu chuyện được ghi lại trong sách Tin Lành Giăng 3. Ni-cô-đem là một người trí thức, quyền thế và giàu có. Ông là thành viên của tòa án công luận, tức tòa án tối cao của dân DT thời bấy giờ, tương tự như tòa án tối cao của HK.
Một đêm N. đến gặp ĐCJC. Lời đầu tiên của N. nói cùng Chúa rằng ông và những người cận ông (thành phần trí thức, quyền thế, giàu có) biết rằng Chúa đến từ ĐCT vì những phép lạ, dấu kỳ thực hiện. Ngay sau khi nghe những lời này từ N. Chúa phán: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời. (Giăng 3:3). Sanh lại hay tái sanh là một từ ghép gồm 2 từ khác biệt. Trong tất cả 7 bản dịch hiện đại, chỉ có BDM dịch là sanh từ thiên thượng. Bởi vì từ anothen có thể dịch lại mới lại hay từ trời, từ nơi cao, từ thiên thượng.
Vậy lời của ĐCJC về sự tái sanh còn có nghĩa là sanh bởi ĐCT. N. nói ông biết Chúa là ai. ĐCJC bảo N. rằng ông không chỉ có thể biết Ngài là ai và chỉ có thể vào nước ĐCT khi được tái sanh. Và sự tái sanh này không đến bởi cố gắng hay dự tính con người nhưng hoàn toàn từ nơi cao, từ ĐCT.
Đoạn 3 PA Giăng ghi lại cuộc gặp gở và lời dạy của ĐCJC cùng N. Đoạn 4 kế đến ghi lại một cuộc gặp gở và lời dạy của ĐCJC cùng một người hoàn toàn tương phản với N. Câu chuyện về ĐCJC và người phụ nữ Sa-ma-ri. N. là người đạo đức, được dân chúng kính trọng; người phụ nữ S. là người có 5 đời chồng và người đàn ông bà đang sống không phải là chồng. Đây là lý do mà bà phải đi lấy nước giếng vào lúc giữa trưa khi trời nắng gắt vì không ai muốn giao tiếp và đều xem rẽ bà. N. có học thức, quyền thế, giàu có; người phụ nữ S. ít học, vô danh, thấp hèn. N. là người nam thuộc dân tuyển DT; người phụ nữ S. là đàn bà thuộc dân S., bị người DT xem thường.
Giăng có chủ ý khi ghi lại 2 cuộc gặp gở của 2 người hoàn toàn khác nhau với ĐCJC. Dù là ai, thuộc giới tính hay dân tộc nào, dù thuộc thành phần nào trong xã hội, cả 2 đều cần phải tái sanh mới có thể biết rõ được Chúa là ai và mới được vào nước ĐCT.
Hai tuần qua chúng ta đã đọc 1 P. 1:1-2, và biết rằng sự cứu rỗi là do sự chọn lựa của ĐCT. Từ trước khi trời đất vũ trụ được tạo dựng, ĐCT đã định trước để chọn cứu một số người theo ý muốn và lòng nhân từ của Ngài. Có thể cả 2 người được chọn và không được chọn đều có cơ hội để nghe về ĐCJC, về sự cứu rỗi, nhưng chỉ có người được chọn mới được ĐTL gọi. Cùng một TL nhưng với người không được ĐTL gọi, TL vô nghĩa, vô lý, đáng bỏ ngoài tai và ngoài tim. Nhưng với người được ĐTL gọi, TL đầy ý nghĩa và hoàn toàn hợp lý, đáng tin nhận.
Khi người được ĐTL gọi hiểu và tin nhận TL thì một mầu nhiệm diệu kỳ xảy ra trong tâm linh họ. Sứ đồ PL gọi là mắt của lòng, hay mắt của tâm linh họ được mở ra. Tâm linh họ được sanh lại, hay tái sanh. Sanh lại vì trước đó dù mọi người đều có tâm linh, nhưng tâm linh người không được chọn, từ chối TL, hoàn toàn chết. Tâm linh của người sanh lại được ĐTL hà hơi của sự sống như khi ĐCT hà hơi của sự sống vào thân xác bụi đất của A-đam để biến A-đam trở nên loài sống.
Trước đó tâm linh chết không hề nghĩ đến ĐCT, không hề muốn nghe lời dạy từ KT, không hề muốn cầu nguyện huống chi đến đi nhà thờ, dâng hiến. Nhưng sau khi sanh lại, ĐCT trở nên điều quan trọng vô cùng trong đời sống; KT thật là lời hằng sống của ĐCT, ý nghĩa, giá trị, ngọt ngào, quí báu làm sao. HT trở nên một gia đình mới. Tiền của không còn chỉ để dùng cho bản thân và gia đình nhưng còn cho công việc Chúa. Thứ tự, ưu tiên đời sống dần dà thay đổi. Thù hằn, cay đắng thay bằng tha thứ, nhân từ. Cuộc đời người được sanh lại hoàn toàn thay đổi.
BẰNG CHỨNG CỦA SỰ TÁI SANH
Qv hỏi: MS ơi có nơi nào KT dạy về bằng chứng của sự tái sanh hay không? Làm thế nào để tôi có thể biết được tôi hay một tín đồ Đấng Christ thật đã được sanh lại? Có thước đo nào hay thử nghiệm nào cho biết một người thật sự sanh lại hay không? Cám ơn Chúa câu trả lời là có và trong thư 1 Giăng. Dĩ nhiên đây không phải là nơi duy nhất để giải thích rõ 3 bằng chứng hay thước đo, thử nghiệm giúp chúng ta biết 1 người có thật tái sanh.
3 bằng chứng, thước đo của sự sanh lại là: 1) Bằng chứng về sự tái sanh qua tính hạnh. Thước đo hay thử nghiệm là tính hạnh và sự vâng phục. 2) Qua tình yêu thương trong quan hệ với người chung quanh. 3) Qua lẽ thật trong KT. Người nhận mình đã được sanh lại tin gì, tin ai?
Bằng chứng về sự tái sanh qua tính hạnh Nhờ điều này chúng ta biết rằng mình đã biết Ngài: Ấy là chúng ta tuân giữ các điều răn của Ngài. 4 Người nào nói: “Tôi biết Ngài”, nhưng không tuân giữ các điều răn của Ngài là người nói dối, chân lý không ở trong người đó. 5 Người nào tuân giữ lời Ngài thì tình yêu thương Đức Chúa Trời trong người ấy thật toàn hảo, nhờ đó chúng ta biết mình ở trong Ngài: 6 Người nào nói mình ở trong Ngài cũng phải sống như chính Ngài đã sống. (1 Giăng 2:3-6 – BDM)
Người sanh lại sẽ ngày càng vâng lời dạy KT và ngày càng thay đổi tính hạnh. Chúng ta sẽ thấy bằng chứng của trái TL trong đời sống. Cư xử, lời nói, thái độ, hành động khác xưa. Trái TL rõ hơn trong cuộc đời họ. Tôi xin giải thích rõ không phải người sanh lại không còn phạm tội hay luôn luôn thể hiện phẩm tính như trái TL. Họ chắc chắn vẫn phạm tội, vẫn có lúc bày tỏ các tính xác thịt. Tuy nhiên một điều chắc chắn là những tính xác thịt ngày càng giảm đi, trái TL ngày càng tăng trưởng. Và người được sanh lại chắc chắn sẽ rất đau khổ và hối hận mỗi khi phạm tội và luôn cầu xin ĐTL giải cứu họ ra khỏi quyền lực tối tăm của tội lỗi để sống trong ánh sáng của nước Trời.
Sự thay đổi về phẩm tính không chỉ ở mức ngừng những điều tội lỗi, sai quấy. Trước trộm cắp nay không chỉ đừng tiếp tục phạm tội, nhưng phải chịu khó làm việc để có thể giúp đở cho người thiếu thốn. Trước hay nối dối, giờ không chỉ ngừng nói dối, phải nói thật. Nhưng không chỉ nói thật mà nói thật để đem lại lợi ích cho người nghe. Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn. 29 Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến. (Ê-phê-sô 4:28-29)
Sự thay đổi toàn diện và vượt trên tiêu chuẩn bình thường về đạo đức được ĐCJC dạy trong bài giảng trên núi qua lời các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng… song ta phán cùng các ngươi. Ngày xưa chớ giết người, Chúa dạy Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình rằng: Ra-ca, thì đáng bị tòa công luận xử đoán; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hành phạt. (Ma-thi-ơ 5:22). Ngày xưa chớ phạm tội tà dâm, Chúa dạy: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi. (5:28) Ngày xưa hãy yêu người lân cận, ghét kẻ thù nghịch mình, Chúa dạy: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, 45 hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác. (5:44-45)
Thực tế là người tin Chúa thường không thể hiện tính hạnh mới như lời KT dạy. Đây là cớ khiến cho người chưa tin Chúa vấp phạm. Vì nếu chúng ta xưng mình sanh lại nhưng lại tiếp tục cư xử, nói năng, hành động như vẫn còn chết trong tâm linh, thì chúng ta đáng chịu lời chế diễu và buộc tội là đạo đức giả. Chúng ta cần ăn năn và cầu xin ĐTL thật sự giúp chúng ta thay đổi để giữa lời tuyên xưng và phẩm tính xứng hiệp với nhau.
P. hiểu rõ khoảng cách giữa lời tuyên xưng về đức tin và đời sống tính hạnh nên nhắc các tín đồ trong thư: 12 Hãy sống một cuộc sống lương thiện giữa những dân ngoại, là những kẻ vẫn nói xấu anh chị em như là người làm ác, họ sẽ thấy các việc lành của anh chị em mà tôn vinh Đức Chúa Trời trong ngày Ngài thăm viếng. (1 Phi-e-rơ 2:12)
2) Qua tình yêu thương. Tình yêu thương trong quan hệ với người.
Kẻ nào nói mình ở trong sự sáng, mà ghét anh em mình, thì còn ở trong sự tối tăm. 10 Ai yêu mến anh em mình, thì ở trong sự sáng, nơi người đó chẳng có điều chi gây cho vấp phạm. 11 Nhưng ai ghét anh em mình, thì ở trong sự tối tăm, làm những việc tối tăm, và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người. (1 Giăng 2:9-11)
Người đã được sanh lại nhận được tình yêu thương của ĐCT qua sự hy sanh, cứu tội của ĐCJC. Khi bắt đầu kinh nghiệm được tình yêu thương đó, lòng họ cũng bắt đầu thay đổi. ĐTL làm cho lòng họ giảm bớt rồi mất đi sự thù hận, cay đắng, ghen tị. Và thay vào đó với sự tha thứ, nhân ái, cởi mở.
Nói đến tình yêu thương, mọi người đều nghĩ ngay về 1 Cô-rinh-tô 13. Tuy nhiên ít ai nghĩ đến 1 Cor 12. Đoạn KT đó viết về điều gì? Về ân tứ, tức những tài năng khác nhau ĐTL ban cho người tin Chúa để thực hiện những việc khác nhau trong HT. Theo quan điểm phổ thông hôm nay, tài năng quan trọng nhất, hơn cả tính hạnh. Trong những câu cuối của đoạn 12 khi kết thúc phần thảo luận về ân tứ, sứ đồ PL viết: Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn. (1 Cô-rinh-tô 12: 31). Và sự ban cho lớn hơn hết, con đường tốt lành hơn là gì? Tình yêu thương.
Mở đầu đoạn KT nổi tiếng về tình yêu thương, PL viết rất rõ rằng nếu một người có khả năng, tài nghệ để thực hiện được những điều lớn lao nhất, mầu nhiệm nhất nhưng cũng vô ích, không ý nghĩa, giá trị nếu không có tình yêu thương. Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng. 2 Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì. 3 Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi.
4 Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhân từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, 5 chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, 6 chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. 7 Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. (1Cô-rinh-tô 13:1-7)
Trong đêm cuối đời, 2 điều ĐCJC cầu nguyện nhiều lần cho các môn đồ: sự hiệp một và tình yêu thương. Chúa dạy: Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. 35 Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta. (Giăng 13:34-35).
Vậy nếu thiếu vắng tình yêu thương như Chúa dạy trong đời sống, thì làm một người có thể nhận rằng tôi đã được sanh lại?
3) Bằng chứng, thước đo về lẽ thật, tức niềm tin, giáo điều dựa vào lẽ thật lời Chúa. Chính thống trong giáo điều. Niềm tin dựa vào sự thật KT
20 Về phần các con được Đấng Thánh xức dầu và tất cả các con đều có sự hiểu biết. 21 Ta đã viết cho các con, không phải vì các con không biết chân lý nhưng vì các con biết chân lý và vì không có sự dối trá nào từ chân lý mà ra. (1 Giăng 2:20-21 – BDM)
MS Tim Keller viết: tình yêu thương không có sự thật chỉ là cảm xúc; có thể động viên, nâng đở nhưng không hề cho thấy lỗi lầm, sai sót. Sự thật không tình yêu thật là nghiệt ngã. Hay sự thật không tình yêu thương chỉ là tàn nhẫn, và tình yêu thương không sự thật chỉ là giả dối (Warren Wiersbe). Niềm tin Cơ Đốc phải dựa vào sự thật. Chớ không như chúng ta thường nghe nhiều người nói: tin gì cũng được, miễn là tin thật lòng, tin hết lòng, tin chân thành. Đây là điều nguy hiểm dẫn đến vô số tai hại.
Người được sanh lại là người tin KT là lời hằng sống, trung thực, không sai lầm của ĐCT. Không phải vì có những điều KT dạy trái với trào lưu xã hội ngày nay nên chúng ta thay đổi lời Chúa để trở nên “hợp thời” hơn.
Nhiều năm trước đây, một trào lưu thịnh hành trong vòng đạo Chúa gọi là “đạo đức mới” (new morality). Một số nhà thần học và mục sư, linh mục họp lại để thảo luận về đạo đức mới này. Hầu hết đều đồng ý rằng chỉ có một bó buộc duy nhất cho đạo đức mới này là tình yêu thương. Mọi hành động phát xuất từ tình yêu thương miễn không hại đến ai đều hợp lý và được chấp thuận. Nam nữ yêu nhau nên ăn ở với nhau trước khi lập gia đình không có gì sai quấy cả. Một linh mục im lặng trong suốt thời gian thảo luận. Thấy vậy hội nghị hỏi vị linh mục này nghĩ sao về giới hạn đạo đức duy nhất là tình yêu thương. Linh mục trả lời với lời ĐCJC: Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta. (Giăng 14:15). Tình yêu thương không thể tách rời khỏi sự thật của lời KT và sự vâng lời ĐCJC.
THAY ĐỔI CỦA NGƯỜI TÁI SANH
Sự thay đổi của người tái sanh là sự thay đổi toàn diện, từ trong ra ngoài, trong tất cả mọi phương diện của đời sống, từ mơ ước, dự tính, từ những suy nghĩ hằng ngày đến lời nói, thái độ, hành động, từ cách cư xử với người trong gia đình, cho đến quan hệ với bè bạn, thân hữu.
PL viết về sự thay đổi hoàn toàn và mới mẻ này như sau: Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới. 18 Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. (2 Cô-rinh-tô 5:16)
Sứ đồ Giăng tóm tắt sự thay đổi toàn diện này như sau: Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì hẳn chẳng phạm tội; nhưng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì tự giữ lấy mình, ma quỉ chẳng làm hại người được. 19 Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ. 20 Nhưng chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến, Ngài đã ban trí khôn cho chúng ta đặng chúng ta biết Đấng chân thật, và chúng ta ở trong Đấng chân thật, là ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, Con của Ngài. Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời. (1 Giăng 5:18-20)
Chú ý 3 câu KT này đều bắt đầu với lời chúng ta biết rằng. Giăng viết để người được sanh lại, môn đồ Đấng Christ biết chắc về sự cứu rỗi và niềm tin của họ. Không còn hoài nghi, không còn bị giao động vì những lời dạy sai lầm của ma quỉ.
Khi đọc 3 câu KT này dễ nhất chúng ta nên hiểu theo thứ tự từ 20-18. Câu 20 Nhưng chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến, Ngài đã ban trí khôn cho chúng ta đặng chúng ta biết Đấng chân thật dạy người sanh lại là người được ban cho trí tuệ để biết Đấng chân thật. Từ trí khôn đây là trí tuệ như Mat 22:37 yêu ĐCT với hết tấm lòng, linh hồn và trí tuệ.
Câu 19 Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ dạy người sanh lại có một danh tính (identity) mới hoàn toàn thuộc về ĐCT. KT dạy thế gian này thuộc quyền cai trị của ma quỉ. Vậy trong thế gian chỉ có 2 loại người: người thuộc về vương quốc của ma quỉ, dưới quyền cai trị của ma quỉ và người thuộc về vương quốc nước Trời, dưới quyền làm chủ của ĐCT.
Vậy người sanh lại là người đã được ĐCT đổi danh tính. Từ con cái ma quỉ sang con cái ĐCT. Từ quyền cai trị của ma quỉ sang quyền cai trị, làm chủ của ĐCT. Ai là chủ của đời sống người sanh lại? ĐCT.
Câu 18 Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì hẳn chẳng phạm tội; nhưng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì tự giữ lấy mình, ma quỉ chẳng làm hại người được. Người sanh lại là người có đời sống thay đổi. Xưa đắm mình trong vũng bùn tội lỗi mà không hề ý thức đúng sai, phải trái. Nay ý thức rõ không thể tiếp tục phạm tội.
