Đồng Tâm Tình Như Đấng Christ
Một câu chuyện kể về người giáo sĩ nổi tiếng Ấn Độ tên Sundar Singh. Một ngày ông có dịp đến viếng một học viện đạo Hindu. Khi trao đổi về đạo giáo, một giảng sư Hindu chất vấn giáo sĩ Sundar về giáo điều gì, triết lý nào, lời dạy nào ông đã tìm được trong Cơ Đốc Giáo mà đạo Hindu không có. Giáo sĩ Sundar trả lời: “Tôi tìm được Jêsus Christ”. Giảng sư ngắt lời và hỏi lại lần nữa, “Nhưng tôi muốn hỏi ông về chân lý gì, giáo điều gì mà ông không tìm được trong đạo Hindu?” Một lần nữa giáo sĩ Sundar trả lời, “Thưa thầy, điều tôi đã tìm được là Jêsus Christ”.
Khi những tôn giáo, triết lý khác dạy con người đi tìm chân lý, hay chính đạo, đi tìm niết bàn, hay thế giới đại đồng thì Kinh Thánh dạy chúng ta phải đi tìm ĐCJC. Vì chính ĐCJC là đường đi, là lẽ thật, là sự sống và lẽ thật. Ngài khẳng định rằng chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha; có nghĩa là không ai có thể đến với ĐCT ngoại trừ đến với Ngài, hay qua Ngài. Chúa cũng nói rằng Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha (Giăng 14:9); tức Jêsus tự nhận rằng Ngài chính là ĐCT.
Niềm tin của người Cơ Đốc hoàn toàn gắn liền với Đấng Christ. Biết Jêsus Christ, biết ĐCT. Có Jêsus Christ, có ĐCT. Qua sự giáng thế hạ sinh của ĐCJC, chúng ta kinh nghiệm được về lòng nhân từ của ĐCT đối với loài người. Qua cuộc đời của ĐCJC, chúng ta biết, hiểu được những lời dạy của ĐCT không chỉ qua những lời dạy, những bài giảng nhưng còn qua chính hành động, công việc, cách cư xử của Chúa với mọi người chung quanh. Khi Chúa chịu chết trên thập giá, ĐCT bày tỏ tình yêu thương bao la qua sự hy sinh của chính Con Độc Sinh cho người có tội như tôi và quí vị. Sau đó qua sự sống lại Chúa đem đến niềm tin, hy vọng mới nơi Đấng đã chiến thắng sự chết. Qua sự ban cho ĐCT cho những người tin nhận Ngài, Chúa đảm bảo với họ về sự chắc chắn của sự cứu rỗi, rằng không có gì có thể cướp lấy được chiên Ngài; đồng thời cũng cho biết rằng Ngài sẽ tiếp tục giúp chúng ta sống xứng đáng.
Chắc quí vị cũng nhớ về câu chuyện Chúa hiện ra cùng 2 môn đồ trên đường Ê-ma-út. Khi đồng hành với họ, ĐCJC, bắt đầu từ Mô-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho cả 2 người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. Cả KT đây có nghĩa là cả CU. Và dĩ nhiên cả TU đều viết về sự giáng sinh, cuộc đời, sự chết, sự sống lại và ý nghĩa của những lời Chúa dạy qua các sách PA, các thư tín. Vậy từ STK đến KH đều chỉ về ĐCJC.
Đoạn KT chúng ta tìm hiểu sáng nay nằm trong lá thư của Phao-lô gởi cho các tín đồ thành Phi-líp. Trong lá thư ngắn 4 đoạn này, PL dùng trên dưới 38 lần từ Christ, hay Jêsus Christ. Nếu KT viết về ĐCJC, các thư tín của PL viết về ĐCJC thì nếu muốn biết ĐCT, muốn hiểu KT chúng ta phải biết, phải hiểu về Đấng Christ.
THẾ NÀO LÀ CÓ ĐỒNG TÂM TÌNH NHƯ ĐẤNG CHRIST?
Trong Phi-líp 2:5-11, PL viết: Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. 9 Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, 10 hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, 11 và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha.
Cũng chính trong lá thư này, PL viết: Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ 9 và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin; 10 cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài, 11 mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết (3:8-11). Chú ý hai lần PL lập lại ý nhận biết ĐCJC (v.8) và biết Ngài (v10). Đây là một ý vô cùng quan trọng. Bởi vì để có tâm tình như Đấng Christ thì chúng ta phải biết Ngài. Nhưng làm sao để biết Chúa? Phải có quan hệ với Chúa.
Lá thư này được PL viết vào lúc cuối đời, khi ông bị giam cầm trong tù ngục tại thành La-mã. PL đầu tiên gặp Chúa khi trên đường đến thành Đa-mát để tìm bắt và giết những người tin Chúa, vào khoảng năm 35. Đến khi ông viết thư này cho hội thánh thành Phi-líp độ 26 năm đã qua (thư viết vào khoảng năm 61). Đến lúc này PL đã trải qua biết bao nhiêu kinh nghiệm trong quan hệ với Chúa, trong cuộc đời hầu việc Chúa. 3 cuộc truyền giáo từ các xứ vùng Tiểu Á đến Âu Châu, rồi cả đến thành La-mã. PL cũng đã lập ra bao nhiêu hội thánh và môn đồ hóa bao nhiêu tín đồ. Vậy đó mà ông chỉ ao ước được biết Chúa, dù đã có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài.
Khi PL dạy hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, ông không nói về một Đấng Christ huyền bí, xa xôi nào đó nhưng Đấng chúng ta có thể biết được, có thể hiểu được, có quan hệ với Ngài. Người phật tử có thể nói họ tin Phật, tin lời Phật dạy nhưng không thể nói họ biết tâm tình của Phật, có quan hệ cá nhân với Phật.
Đây là điều quan trọng mà người tin Chúa cần hiểu rõ và ghi nhớ: ĐCJC, Đấng Christ, Đấng mà chúng ta tôn thờ không phải là Đấng chỉ ngự trên nơi cao hay chỉ diện hiện nơi hội thánh, nhà nguyện; Ngài cũng không phải là một thượng đế xa xôi nào đó nhưng là Đấng gần gũi, Đấng chúng ta có thể có quan hệ cá nhân, có thể hiểu được, học làm theo, có thể bắt chước không chỉ hành động nhưng còn cách suy nghĩ, tâm tình. Đấng đó sống trong lòng mỗi người tin Ngài.
Một vài bản dịch Anh ngữ dùng từ thái độ (attitude). Nhưng từ tâm tình là một từ rất ý nghĩa và sâu sắc. Thái độ bày tỏ qua sắc mặt, dáng vẽ, qua hành động, lời nói. Nhưng tâm tình là điều sâu kính trong tâm hồn, trong ý nghĩ, trong con tim của một người. Vật trang sức chúng ta có thể mang vào rồi cởi ra. Thái độ có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh, tình huống, đối tượng, thậm chí theo áp lực. Vợ chồng có thể cải nhau dữ dội trên đường đến nhà thờ, nhưng khi chân bước vào cửa nhà thờ, khi nhìn thấy cặp vợ chồng nào đó họ không thích, lập tức mặt mày vui mẻ, miệng cười tươi, “anh chị có khỏe không?”
Nhưng tâm tình là điều không ai có thể thấy được. Dù miệng nói cười nhưng có khi tâm hồn héo úa như khi mất người yêu. Dù khi bác sĩ mổ bụng dạ để thay tim, thay thận, họ cũng vẫn không biết được tâm tình của người đó. Đây là phần sâu kín nhất của một người, là kết tụ của nhiều năm tháng trong đời, qua nhiều kinh nghiệm sống, qua sự hiểu biết, kiến thức mà tạo nên tâm tính.
Vậy khi PL viết hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ, ông hàm một ý vô cùng đặc biệt và quan trọng: ĐCT muốn người tin theo Ngài hiểu rõ tận tường, sâu kín, chứ không phải cách hời hợt bên ngoài. Một người có thể tưởng mình biết người khác nhưng chưa chắn biết, hiểu được tâm tình của của người đó.
Dù ở đâu, làm gì, dù xa hay gần chúng ta vẫn có thể hướng tâm tình của chúng ta về những người thân yêu, về nơi chốn mình thương mến. Người đang làm việc nhưng lòng vẫn có thể nghĩ về người yêu. Người miền Nam có câu ca dao: Chiều chiều ra đứng cửa sau, trông về quê mẹ ruột đâu chín chiều. Ruột đâu đây không phải là đau bụng vì ăn khó tiêu, bị đau ruột dư hay ruột bị cắt mỗ. Ruột đau vì đây là tâm tình của một người xa quê mẹ. Vậy từ tâm tình trong câu KT này cũng có thể cắt nghĩa nôm na là bụng ruột!
Muốn hiểu được bụng ruột, biết được tâm tình rất khó. Điều kiện cần thiết là phải có một quan hệ sâu đậm, một tình cảm sâu đậm, một sự gần gũi mật thiết. Vợ chồng chỉ khi chung sống với nhau bao nhiêu năm trời họa mới có thể hiểu được tâm tình của nhau. Bè bạn, phải là bạn tri âm mới có thể hiểu được tâm tình của nhau.
Bảo Thúc Nha, một danh tướng của nước Tề qua đời. Tướng Quản Trọng nước Tề than khóc như mưa như gió. Có người lấy làm lạ hỏi tại sao không thân thích, không ruột thịt mà lại thương tiếc dữ vậy? Quản Trọng gạt nước mắt giải thích: “Lúc còn hàn vi ta đi buôn với Bảo Thúc. Khi chia lời lúc nào ta cũng lấy phần hơn, thế mà Bảo Thúc không cho ta tham vì biết ta đang gặp quẫn bách. Lúc gặp người doạ nạt, ta nhẫn nhịn. Bảo Thúc không cho ta là người hèn nhát lại biết ta bao dung. Ta bàn với Bảo Thúc bao nhiêu việc hỏng, Bảo Thúc không cho ta ngu mà chỉ bảo chỉ tại chưa gặp thời, gặp lúc. Sinh ta ra là cha mẹ, nhưng biết ta là Bảo Thúc”. KT cho chúng ta ĐCT biết mỗi con cái Ngài rõ hơn Bảo Thúc biết Quản Trọng.
Vậy nếu chúng ta muốn học làm theo lời dạy PL, trước hết chúng ta phải có một quan hệ mật thiết, gần gũi với Đấng Christ. Làm thế nào có quan hệ mật thiết, gần gũi? Phải có thời gian và có cố gắng trong quan hệ đó. Một người tin Chúa không thể tự động biết Chúa, biết tâm tình của Chúa sau nhiều năm tháng. Có người dù đã tin Chúa 10, 20 năm vẫn chưa biết gì về Ngài; bởi vì có khi nào họ bỏ thời gian để đọc KT, để học KT, để cầu nguyện, để có giờ im lặng mà lắng nghe tiếng Chúa phán dạy. Biết Chúa từ mục sư, từ sách giải kinh, từ cha mẹ, từ trường thần học là những điều tốt nên làm nhưng chưa đủ. Chính mỗi cá nhân phải nổ lực, cố gắng bỏ thời gian, công sức để tập biết Ngài, để có quan hệ gần gũi với Chúa.
Chú ý PL không viết hãy có cùng một sự hiểu biết về tâm tình Đấng Christ. Nhưng có đồng một tâm tình. Tư đồng đây là cùng một. Đồng không chỉ là biết nhưng là có cùng, mang cùng một tâm tình như Đấng Christ. Chúa yêu thương tội nhân, người có đồng tâm tình như Đấng Christ cũng yêu thương tội nhân. Chúa quí trọng điều gì, người đồng tâm tình cũng quí trọng điều đó. Chúa cầu nguyện cho sự hiệp một trong hội thánh, trong vòng tín đồ, người có cùng tâm tình cũng phải lấy sự hiệp một, giữ sự hòa thuận trong hội thánh làm trọng. Chúa ghét người giả dối, miệng lưỡi hai lời, người đồng tâm tình như Chúa cũng ghét những lời môi miệng, dối trá, hai lời gây hiềm khích, hiểu lầm, chia rẽ trong vòng hội thánh. Chỉ khi có đồng một tâm tình như Đấng Christ, chúng ta mới không còn thấy những lời Ngài dạy là một gắng nặng, đòi hỏi mà chúng ta phải thực hiện nhưng những điều đó nhẹ nhàng, tự nhiên. Đây là ý nghĩa của lời Chúa dạy: Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. 29 Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. 30 Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng. (Ma-thi-ơ 11:28-30)
TÂM TÌNH CỦA ĐẤNG CHRIST
Quí vị hỏi: tôi chưa hề gặp hay thấy Đấng Christ thì làm sao biết tâm tình của Ngài? Cám ơn Chúa vì lời PL viết không để cho chúng ta đoán mò. Ông giải thích cụ thể thế nào là tâm tình của Đấng Christ trong câu 6-8. Dĩ nhiên đây chỉ là một phần của tâm tình của Đấng Christ. PL nêu ra 3 điều chính yếu về tâm tình của Đấng Christ trong đoạn KT này: 1) Tận Trung, 2) Khiêm nhường, 3) Hy sinh.
