Định Kỳ Cho Muôn Vật
Chúng ta đang sống trong một giai đoạn lịch sử hết sức khó khăn và thử thách của đất nước HK nói riêng và của thế giới nói chung. Tin tức cho biết chính quyền đã chuẩn bị khoảng 20,000 vệ binh quốc gia để bảo vệ thủ đô DC cho ngày tuyên thệ nhậm chức của tân tổng thống thứ Tư tuần tới. Khi mới đọc qua con số này trên báo chí tôi cứ tưởng tôi nhằm hay đang ngủ nằm mơ. Chưa bao giờ trong lịch sử đất nước HK chính quyền lại có một số lính khoảng 20,000 người để bảo vệ an ninh cho một cuộc nhậm chức của một tân tổng thống như hôm nay.
Chỉ mới hôm kia tôi đọc một tin tức mới cho biết dạng thể mới của covid-19 virus phát hiện tháng 12 vừa qua tại Anh Quốc gọi là B.1.1.7 đã xâm nhập vào HK. Theo ước tính của các nhà dịch tễ học (epidemiologist) thì có thể biến dạng mới này sẽ tràn lan vào tháng 3 tới đây nếu các tiểu bang không có chương trình để phòng chống. Tuy nhiên bên cạnh những tin tức tiêu cực cũng có những tin tốt, tin mừng. Như trợ cấp chính phủ mới đây. Như thuốc chủng ngừa vaccine sẽ được chích cho nhiều người bắt đầu từ tuần tới.
Tôi nhớ gần 10 năm trước đây tiểu bang NM trong tình trạng hạn hán trầm trọng. Một buổi sáng tôi có dịp trò chuyện với một cụ già trong tuổi 80 về thời tiết và hạn hán. Cụ từ tốn mà bảo với tôi rằng cứ kiên nhẫn chờ mưa sẽ đến và độ nước sẽ được hồi phục. Tôi hỏi tại sao cụ biết. Cụ trả lời: bởi vì tôi đã sống qua các thời kỳ này.
Về một góc độ, khía cạnh, những biến cố trầm trọng trên xứ này và trên toàn thế giới là những điều mới, chưa bao giờ xảy ra. Đúng: đây là lần đầu tiên trong lịch sử, con người phải đối phó với virus covid-19. Nhưng về một góc độ khác, đại dịch toàn cầu đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử loài người. Thậm chí trầm trọng hơn, giết hại nhiều người hơn bội lần hơn covid-19 hôm nay. Như cơn dịch Antonine từ năm 165-180 xảy ra trong đế quốc La-mã đã giết từ 5-10 triệu người, tức khoảng 7-10% dân số; hay cơn dịch hạch dẫn đến đại dịch gọi là cái chết đen (Black Plague) của thế kỷ 14 (1331-1351) đã giết trên 75 triệu (75-200 triệu) tức từ 10-60% dân số Âu Châu. Hay gần hơn là đại dịch cúm năm 1918 khiến trên 50 triệu người toàn thế giới bỏ mạng.
Đây là lý do mà KT viết: Điều chi đã có, ấy là điều sẽ có; điều gì đã làm, ấy là điều sẽ làm nữa; chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời. 10 Nếu có một vật chi mà người ta nói rằng: Hãy xem, cái nầy mới, vật ấy thật đã có rồi trong các thời đời trước ta. 11 Người ta chẳng nhớ các đời trước, và các đời sau những người đến sau cũng sẽ chẳng nhớ đến nữa. (TĐ 1:9-11) Đây là những định kỳ trong cuộc sống trên đất này.
VỀ VUA SÔ-LÔ-MÔN, NGƯỜI CÓ TẤT CẢ
Truyền Đạo là một quyển sách rất đặc biệt trong Kinh Thánh. Đặc biệt bởi vì đây là một quyển hồi ký ghi lại về một cuộc hành trình đi tìm ý nghĩa, mục đích và hạnh phúc cho đời sống dưới ánh mặt trời. Đặc biệt cũng bởi vì đây là quyển sách duy nhất trong Kinh Thánh viết theo quan niệm sống của một người chỉ chú tâm vào đời sống trên đất thay vì vào đời sống vĩnh viễn trên trời như các sách khác. Mới nghe qua về tên của hồi ký là Truyền Đạo qv có thể nghĩ rằng đây là sách của người giảng đạo nhưng từ truyền đạo có nghĩa là diễn giả cho một nhóm hội, người phát ngôn viên hay người thầy dạy. BDM & BD2011 dịch tên sách là Giáo Huấn và dùng chữ giảng sư, tức là thầy dạy thay cho truyền đạo.
Người thầy dạy này không phải là một người tầm thường nhưng là một vua của một quốc gia, một vị vua khôn ngoan, thông minh, giàu có, thành công không ai bằng, tên Sô-lô-môn. [Một số học giả ngày nay cho rằng tác giả sách không phải là vua S.]
S. là vua thứ 3 của xứ Y-sơ-ra-ên, là con trai của vua Đa-vít. Sách 1 Các vua 3 ghi lại câu chuyện khi S. mới lên ngôi thì trong đêm ĐCT hiện ra cùng ông trong giấc chiêm bao và nói: "Hãy cầu xin Ta bất cứ điều gì ngươi muốn, Ta sẽ ban cho." (3:5 – BDM).
Dù trẻ tuổi nhưng S. không cầu xin giàu sang, uy quyền, tài giỏi. S. trả lời ĐCT: Vậy, xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều lành điều dữ; vì ai có thể đoán xét dân rất lớn này của Chúa? (1CV 3:9). Lời cầu xin này đẹp ý Chúa: 11 Đức Chúa Trời phán với người rằng: Bởi vì ngươi đã cầu xin điều này, mà không xin sự sống lâu, không xin sự giàu có, cũng không xin mạng của những kẻ thù nghịch ngươi, nhưng xin sự thông minh để biết xét đoán, 12 nầy, ta đã làm theo lời cầu xin của ngươi, ban cho ngươi tấm lòng khôn ngoan thông sáng đến đỗi trước ngươi chẳng có ai bằng, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có ai ngang. 13 Vả lại, ta cũng đã ban cho ngươi những điều ngươi không xin, tức là sự giàu có và sự vinh hiển, đến đỗi trọn đời ngươi, trong vòng các vua, sẽ chẳng có ai giống như ngươi. 14 Lại nếu ngươi đi trong đường lối ta, gìn giữ luật pháp và điều răn ta, như Đa-vít, cha ngươi, đã đi, thì ta sẽ khiến cho ngươi được sống lâu ngày thêm. (1 CV 3:11-14)
Không những ĐCT ban cho S. sự khôn ngoan và thông sáng nhưng còn vượt hơn tất cả mọi người trước và sau ông. Thêm vào đó, Chúa hứa ban cho ông những điều ông không xin: sự giàu có, vinh hiển (được nổi danh, tôn trọng) hơn mọi vua chúa thời đó và tuổi thọ.
Câu chuyện này là một bài học quan trọng cho người tin Chúa trong việc cầu nguyện. Lời cầu nguyện của S. cho thấy điều gì ưu tiên trong lòng ông. Cũng vậy lời cầu nguyện cho biết điều gì quan trọng nhất đối với chúng ta, biết ưu tiên trong đời sống. Tôi không nói về lời cầu nguyện bên ngoài khi mọi người nghe, nhưng khi chỉ có tôi và Chúa trong phòng kín là nơi không ai thấy, biết, nghe. Bởi vì khi có người nghe thì lời cầu nguyện chúng ta có thể chủ ý đến họ thay vì ĐCT.
Trong bài giảng trên núi, ĐCJC dạy các môn đồ và đoàn dân đông rằng những người không tin Chúa đặt ưu tiên hàng đầu cho đời là chạy đuổi tìm kiếm vật chất (hình ảnh của quần áo mặc, thức ăn). Nhưng người tin Chúa không nên đặt ưu tiên thứ nhất về vật chất, nhưng phải là ĐCT và sự công chính của Chúa thì mọi sự khác sẽ được ban thêm cho: Vì tất cả những điều này, người ngoại vẫn tìm kiếm và Cha các con ở trên trời biết các con cần tất cả những điều ấy. 33 Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, rồi Ngài sẽ ban thêm cho các con mọi điều ấy nữa. (Matt 6:32-33-BDM)
S. tìm kiếm sự công chính của ĐCT để giúp dân cư, đất nước. S. nghĩ về dân chúng, chứ không chỉ cho mình. Nên Chúa thêm cho ông mọi điều khác mà ông không tìm kiếm, cầu xin. Điều gì ưu tiên hàng đầu trong lời cầu nguyện qv?
Câu hỏi là đến cuối cuộc đời khi nhìn lại, vua thấy mọi vật chất có đem lại hạnh phúc thật sự cho đời sống hay không? Sách TĐ là quyển hồi ký ghi lại về một cuộc hành trình đi tìm ý nghĩa, mục đích và hạnh phúc cho đời sống dưới ánh mặt trời. Bằng cách nào? Bằng những cách chúng ta thấy rất nhiều người đang chạy đuổi.
Này! Hãy thử điều vui sướng và nếm sự khoái lạc... Ta nghĩ trong lòng rằng phải uống rượu để cho thân mình vui sướng... Ta cất nhà cho mình, trồng vườn nho cho mình, lập cho mình vườn cây trái và vườn hoa, và trồng cây trái đủ thứ ở đó; ta đào hồ chứa nước đặng tưới rừng, là nơi cây cối lớn lên. Ta mua những tôi trai tớ gái, lại có nhiều đầy tớ sanh ra trong nhà ta... Ta lo sắm cho mình những con hát trai và gái, cùng sự khoái lạc của con trai loài người, tức là nhiều vợ và hầu.Truyền Đạo 2:1, 3, 4-8
CUỘC CHẠY TÌM VÀ BÓNG HẠNH PHÚC
Câu trả lời ở ngay những lời đầu tiên của sách: Lời của người truyền đạo, con trai của Đa-vít, vua tại Giê-ru-sa-lem. 2 Người truyền đạo nói: Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. 3 Các việc lao khổ loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi? Ta đã xem thấy mọi việc làm ra dưới mặt trời; kìa, thảy đều hư không, theo luồng gió thổi. (1:1-3, 14)
Ba từ, cụm từ lập đi lập lại rất nhiều lần trong sách. Để nói về quan điểm sống là cụm từ thứ nhất: dưới trời hay dưới ánh mặt trời (>30 lần) có nghĩa là đời sống này là duy nhất, không luân hồi, cũng không có thiên đàng, địa ngục. Chết là hết. Và kết quả của cuộc chạy tìm hạnh phúc được tóm lại trong 2 cụm từ. Cụm từ thứ hai là hư không (phù vân, hư ảo -BDM, vô nghĩa-BD2011) (>30 lần): Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Phù vân, hư ảo! Hư ảo, phù vân! BDM; Vô nghĩa của mọi vô nghĩa, tất cả chỉ là vô nghĩa. (BD2011). Dịch rõ nghĩa hơn là "Mọi việc trên đời đều vô nghĩa! Mọi sự đều hư ảo, phù hoa!
Cụm từ thứ ba diễn tả sự thất vọng của cuộc chạy tìm hạnh phúc dưới trời này, là theo luồng gió thổi (14 lần: Đoạn ta xem xét các công việc tay mình đã làm, và sự lao khổ mình đã chịu để làm nó; kìa, mọi điều đó là sự hư không và theo luồng gió thổi, chẳng có ích lợi gì hết dưới mặt trời. (2:11)
S. kết luận trong sách TĐ: hạnh phúc cũng chỉ là một cái bóng. Nhìn thấy đó nhưng l bao giờ nắm bắt được, giữ được trong tay. Như S. biết bao nhiêu người trong chúng ta cũng đang chạy tìm hạnh phúc dưới trời qua vật chất, hưởng thụ để rồi chỉ kinh nghiệm thất vọng, trống vắng. Khi ĐCT vắng mặt khỏi cuộc đời, cuối cùng không có gì thỏa mãn.
Sau khi thử nghiệm mọi cách, mọi thứ trên đời, S. nhận thấy tất cả đều hư không, như luồng gió thổi. Mãi cho đến cuối sách, S. mới ngước mắt lên trời và kết thúc sách với lời dạy quan trọng này: Con đã nghe hết mọi lời khuyên dạy rồi. Tóm lại, hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và vâng giữ các điều răn Ngài, vì đó là bổn phận của mọi người. 14Vì Đức Chúa Trời sẽ xét xử mọi việc, dù lành hay dữ, kể cả mọi việc kín giấu. (TĐ 12:13-14 – BDM)
ĐỊNH KỲ CHO MUÔN VẬT
Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định. 2 Có kỳ sanh ra, và có kỳ chết; có kỳ trồng, và có kỳ nhổ vật đã trồng; 3 Có kỳ giết, và có kỳ chữa lành; có kỳ phá dỡ, và có kỳ xây cất; 4 có kỳ khóc, và có kỳ cười; có kỳ than vãn, và có kỳ nhảy múa; 5 có kỳ ném đá, và có kỳ nhóm đá lại; có kỳ ôm ấp, và có kỳ chẳng ôm ấp; 6 có kỳ tìm, và có kỳ mất; có kỳ giữ lấy, và có kỳ ném bỏ; 7 có kỳ xé rách, và có kỳ may; có kỳ nín lặng, có kỳ nói ra; 8 có kỳ yêu, có kỳ ghét; có kỳ đánh giặc, và có kỳ hòa bình. 9 Kẻ làm việc có được ích lợi gì về lao khổ mình chăng? 10 Ta đã thấy công việc mà Đức Chúa Trời ban cho loài người là loài người dùng tập rèn lấy mình. 11 Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành trong thì nó. Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người; dầu vậy, công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng, người không thế hiểu được. 12 Vậy, ta nhìn biết chẳng có điều gì tốt cho loài người hơn là vui vẻ, và làm lành trọn đời mình. 13 Lại, ai nấy phải ăn, uống, và hưởng lấy phước của công lao mình, ấy cũng là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 14 Ta biết rằng mọi việc Đức Chúa Trời làm nên còn có đời đời: người ta chẳng thêm gì được, cũng không bớt chi đặng; Đức Chúa Trời làm như thế, để loài người kính sợ trước mặt Ngài.
Thời gian hoàn toàn giống nhau cho tất cả mọi người từ khi mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn, từ đông sang hè. Không ai có nhiều hơn, cũng không ai có ít hơn 24 tiếng mỗi ngày dù người đó là hoa hậu, minh tinh, bác sĩ, luật sư, tỉ phú gia, tổng thống, vua chúa, hay bác học gia tài giỏi xuất chúng hay bình thường như hằng tỉ người trên địa cầu. Mọi người đều hoàn toàn bình đẳng khi nói về số lượng thời gian trong một ngày, một năm cho cuộc sống dưới trời này.
Thời gian ấn định tuổi tác con người, mùa màng trong năm. Thời gian ngăn định sự bắt đầu và sự kết thúc của mọi cuộc sống, mọi hoạt động cho cuộc sống dưới ánh mặt trời này. Thời gian cũng thiết lập thì tiết và kỳ định cho muôn loài, muôn vật trên đất. Không ai làm chủ được thời gian cũng không ai thu ngắn hay kéo dài nó lại được. Khi thời gian trôi qua, một khi giờ phút, năm tháng đã qua đi, thì sẽ biến mất vĩnh viễn, không bao giờ trở lại. Không ai có thể nắm giữ, kéo níu thời gian trở lại. Vương vấn đến mấy rồi năm tháng, rồi ngày vui cũng sẽ qua đi. Quyến luyến thế nào cũng không mua lại được tuổi xuân!
Chỉ trong 8 câu ngắn ngủi, vua Sô-lô-môn đề cập đến 14 thì tiết, kỳ định khác nhau [slide]. Đây là những thời gian hoàn toàn đối nghịch, tương phản nhau, như sinh và tử, giết hại và chữa lành, phá dỡ và xây cất, hay chiến tranh và hòa bình. Dù đây không phải là một danh sách hoàn toàn đầy đủ nhưng nó hết sức quan trọng và tiêu biểu cho các thời điểm khác nhau trong đời sống chúng ta. Không ai sống trong đời lại không một lần kinh nghiệm điều Sô-lô-môn đã viết. Vua không cố vấn chúng ta trong cách thức tìm chọn thời gian nào đúng đắn, thích hợp. Vua chỉ quan sát rằng trong cuộc sống, chắc chắn chúng ta sẽ phải trải qua những thời điểm này.
Nếu có sự lựa chọn, hầu hết tất cả chúng ta đều chọn cho mình một bên của thời điểm, của kỳ định. Giữa sự sống và sự chết, dĩ nhiên chúng ta thích chọn sự sống. Giữa giết hại và chữa lành, chúng ta sẽ chọn chữa lành. Giữa phá dỡ và xây cất, chúng ta chọn xây cất. Ai lại không muốn chọn tiếng cười để thay cho tiếng khóc. Giữa than vãn và nhảy múa, dĩ nhiên ta thích nhảy múa, vui mừng. Giữa yêu thương và thù ghét, có ai lại không muốn được yêu thương. Và dĩ nhiên giữa chiến tranh và hòa bình, mọi người đều ao ước hòa bình.
Tất cả chúng ta đều ao ước được chọn lựa, sinh sống trong thời điểm này hơn là thời điểm khác. Tuy nhiên không ai có thể sống như chỉ có một thời điểm, một kỳ định trong cuộc sống dưới ánh mặt trời. Tất cả chúng ta đều yêu chuộng cuộc sống, hòa bình, tiếng cười, nhảy múa, tình yêu, và sự ôm ấp. Thế nhưng, mọi người rồi sẽ kinh nghiệm sự chết, chiến tranh, than khóc, than vãn, thù ghét. Đây là tất cả những điều trái lại điều mà con tim chúng ta thầm ước nguyện. Không ai dự tính cho những thời điểm này xảy ra nhưng chúng vẫn xảy ra, ngoài dự tính, ngoài ý định, ngoài khả năng kiểm soát của tôi và qv.
Vua S. muốn nhắc tất cả chúng ta rằng thời gian và những kỳ định trong cuộc sống nằm trong quyền quyết định, kiểm soát của ĐCT, chứ không tùy thuộc vào con người. Chúng ta có những mơ ước, muốn thế này thế nọ, nhưng không ai có thể định chắc cho mình khi nào điều đó sẽ xảy ra hay sẽ xảy ra thế nào. Bao nhiêu lần chúng ta dự tính một đàng, nhưng khi sự việc xảy ra lại hoàn toàn trái với ý định của mình.
Khi còn trẻ chúng ta có thể khăng khăng, cả quyết rằng thời điểm này, định kỳ nọ tốt hơn, đúng hơn, phải hơn. Nhưng đến khi lớn tuổi chúng ta hiểu được nhiều điều mà trước đây chưa hiểu. Chúng ta ý thức rằng lắm khi cả hai thái cực đều có mục đích, ý nghĩa, giá trị riêng của nó. Một cuộc đời chỉ kinh nghiệm một cực đoan của những định kỳ mà Sô-lô-môn đã ghi lại thì hoặc sẽ trở nên nông cạn hoặc sẽ trở nên cay đắng.
Nếu cuộc sống lúc nào cũng dư dật, bình lặng, không bao giờ biết khổ cực, mất mát thì con người cũng sẽ trở nên yếu đuối trước khó khăn, thử thách, sẽ hời hợt, dững dưng trước nỗi khổ của người chung quanh. Nhưng nếu đời sống chỉ toàn những mất mát, xung đột, tranh chấp, nếu phải sống triền miên trong chiến tranh thì hiếm ai có thể giữ được lòng nhân từ, sự quan tâm đến những người chung quanh họ.
Trẻ em sung sướng quá dễ sinh ra lười biếng, ỷ lại nhưng khổ quá sẽ sinh ra bất mãn, thù ghét đời và người. Người vợ, người mẹ mà phải sống âm thầm, nín lặng trước những ngược đãi, hành hung của chồng con mãi rồi trong lòng rồi sẽ sinh ra cay đắng, oán hờn. Thế nhưng cũng không ai muốn nghe một người nói hoài không dứt. Trong các xứ nghèo khó, hay chiến tranh, chúng ta thấy những đứa bé gái tuổi 10, 12 ẳm em mình, lo lắng, chăm sóc cho em như một người mẹ trong gia đình. Sự khổ cực, hoàn cảnh thiếu thốn khiến cho em trưởng thành trước tuổi. So lại với trẻ em sống tại xứ này, bao nhiêu trẻ em trong lứa tuổi đó có thể chăm sóc cho chính mình, huống chi cho các em của mình.
ĐCT có định kỳ cho muôn vật để nhắc loài người rằng không có gì là mãi mãi, vĩnh cửu trong cuộc sống dưới trời này. Để không ai có thể tự hào, hảnh diện về điều mình đang có. \
Kinh nghiệm được cả 2 kỳ định giúp chúng ta trở nên thông cảm hơn, mềm mại hơn, nhân từ hơn, hiểu biết hơn. Và cũng giúp chúng ta khiêm nhường hơn. Nhắc chúng ta rằng tiếng cười, sự ôm ấp, cuộc sống, hòa bình, sự trù phú không phải là vĩnh viễn nhưng những điều này có thể mất bất cứ lúc nào. Thay vào đó là tiếng khóc, sự chết, chiến tranh, mất mát. Những kỳ định này cũng dạy chúng ta rằng Thượng Đế, Đức Chúa Trời, chớ không phải loài người là Đấng Chủ tể, Đấng kiểm soát thời gian và mọi định kỳ trong cuộc sống. Người đã sống qua những thời điểm khác nhau biết quý trọng những gì mình đang có và bớt phàn nàn về những gì chưa có hay không có.
Tôi muốn qv hiểu Đấng kiểm soát thời gian, quyết định mọi định kỳ trong cuộc sống quyền năng và vĩ đại thế nào. Nếu khoảng cách giữa trái đất chúng ta đang sinh sống và mặt trời, nguồn ánh sáng của trái đất và cả thái dương hệ là 96 triệu miles được ví như độ dầy của một tờ giấy này, thì qv có biết là khoảng cách giữa trái đất và ngôi sao gần nhất là một sắp giấy 70 feet chiều cao. Mặt trời là một ngôi sao trong số hàng nghìn tỉ ngôi sao khác nằm trong một dãy thiên hà gọi là Milky Way (Ngân Hà). Kích thước của dãy thiên hà chứa mặt trời là một đống giấy cao 310 miles. Và dãy ngân hà chứa mặt trời chỉ nhỏ hơn một hạt cát trong đại dương bao la.
Sách Hê-bơ-rơ và Cô-lô-se cho biết chính ĐCJC sáng tạo vũ trụ bao la này và đang giữ mọi thiên thể trong vũ trụ này bằng chính lời phán của Ngài. STK cho biết trong moi vật trong vũ trụ được sáng tạo bởi lời phán, ngoại trừ chính tay ĐCT đã nắn tạo con người từ bụi đất và hà hơi của chính Ngài vào để ban sự sống cho con người. Con người được sáng tạo cách đặc biệt và diệu kỳ như chính lời tác giả TT đã viết: Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm. (TT 139:14). Và tác giả cũng viết thế này về thời gian trong đời sống con người đã được ĐCT định liệu từ trước khi sinh ra: Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; Số các ngày định cho tôi, Đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy. (TT 139:16)
Một ông lão sống với người con trai trên đỉnh của một ngọn đồi. Hai cha con có một con ngựa để chở những vật thực đem bán và để di chuyển đến làng gần bên. Một ngày bỗng nhiên con ngựa quý giá đó của cha con lại bỏ đi đâu không biết. Tìm hoài cũng không ra. Những người bạn và hàng xóm đến an ủi hai cha con về con ngựa lạc mất. Ông lão cám ơn nhưng hỏi lại, "Làm sao quý vị biết rằng đây là điều rũi?" Không lâu sau đó, một ngày thình lình con ngựa trở về. Không chỉ một mình nó mà với nhiều con ngựa hoang khác. Lần này những người bạn và hàng xóm đến để chúc mừng cho hai cha con về bầy ngựa mới. Ông lão cảm ơn nhưng hỏi lại, "Làm sao quý vị biết rằng đây là điều may?" Rồi người con trai của ông thử một con ngựa rừng, té xuống và gẫy chân sinh tàn tật. Bạn và hàng xóm lại đến để chia buồn với ông lão về sự tật nguyền của người con. Ông lão cảm ơn nhưng rồi như những lần trước vặn hỏi, "Làm sao quý vị biết rằng đây là điều rũi?" Sau đó chiến tranh xảy ra, tất cả trai tráng trong làng gồm cả con cháu các bạn và hàng xóm của ông lão phải nhập ngũ. Người con trai của ông được miễn dịch vì cái chân tàn tật của anh.
Tất cả chúng ta đều bị giới hạn bởi thời gian. Chúng ta chỉ biết về quá khứ và thấy được hiện tại. Không một ai biết trước tương lai, ngoại trừ Đấng tạo ra thời gian, kỳ định. Chúng ta đánh giá mỗi sự việc, biến cố xảy ra trong đời sống theo cái nhìn hữu hạn của hiện tại. Nhưng S. viết: Tôi quan sát những công việc Đức Chúa Trời ban cho loài người để họ làm. 11 Mọi sự Ngài làm đều đúng thời, đúng lúc.
Khi ý thức rằng mọi sự việc đều có thì tiết, có kỳ định, chúng ta sẽ biết kiên nhẫn chờ đợi, chịu đựng và hơn hết tin cậy vào Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cũng nhắc dạy rằng, "Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng". Từ đến trọ trong câu Kinh Thánh hết sức ý nghĩa vì nó hàm ý rằng sự than khóc chỉ tạm thời. Khi buổi sáng đến thì sự vui mừng sẽ trở lại. Một số qv có thể đang trải qua những thử thách, khó khăn, đau buồn, mất mát. Một số khác có thể đang trải qua sự than khóc, thù ghét, oán hận, chiến tranh. Hay có thể những gì qv đã dày công xây dựng đang bị phá hủy, vất bỏ, ruồng rẫy. Nỗi đau thương, sự mất mát của qv có thể rất lớn, tưởng như không có gì trong cuộc đời này có thể hoàn trả hay bồi đấp lại. Xin hãy nhớ lại lời của Sô-lô-môn về các kỳ định trong đời sống. Và cũng xin nhớ về lời viết của thánh đồ Phao Lô trong sách Rô-ma 8:28, "Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định".
Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo và thiết lập thời gian, kỳ định cho đời sống mỗi người. Mỗi thì tiết, kỳ định đều có mục đích, giá trị và ý nghĩa cho những người hết lòng đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Chính Chúa sẽ làm mọi điều tốt đẹp trong thời điểm đã định trước bởi Ngài. Đây là một hy vọng rất lớn để qv có thể trông cậy.
S. cũng nhận xét một điều khác vô cùng quang trọng: Mọi sự Ngài làm đều đúng thời, đúng lúc. Tuy Đức Chúa Trời có đặt vào tâm trí loài người ý niệm về cõi đời đời, cũng không một ai thấu hiểu được đầu đuôi gốc ngọn công việc Ngài làm. Chúa đặt trong lòng mỗi người một ý niệm về cõi đời đời, vĩnh hằng. Có nghĩa là trái với kỳ định cho muôn vật dưới trời này thì sẽ có một nơi khác, thế giới khác, thời điểm khác mọi việc sẽ còn đến đời đời.
Hồi ký của Sô-lô-môn hay sách Truyền Đạo là một quyển sách dù xưa nhưng hết sức thực tế để giúp chúng ta suy nghĩ về cuộc sống dưới trời này. Trong cuộc sống tất bật hiện tại hiếm khi chúng ta có cơ hội để dừng lại lắng nghe kinh nghiệm của người từng trải. Đến cuối quyển hồi ký, vua Sô-lô-môn có lời khuyên nhắc đọc giả: " Hãy suy tưởng đến Đấng Tạo Hóa khi còn trong tuổi thanh xuân, Trước khi những ngày hoạn nạn chưa đến, Trước những năm mà con không còn thấy vui thỏa nữa" (12:1-BDM). Một lời khuyên khôn ngoan của một người từng trải, đáng để chúng ta ghi nhớ và làm theo.
Hạnh phúc đến khi chúng ta biết cám ơn Thượng Đế vì những gì mình đang có thay vì nuối tiếc, cay đắng về những gì không có. Khi chúng ta ý thức rằng suối mơ hay thiên thai khác với thực tế của cuộc sống dưới trời này. Quan trọng hơn hết khi chúng ta dù sống dưới trời vẫn ngước mắt lên trời để nhận sự trợ giúp, nhận ý nghĩa từ Đấng Sáng Tạo chúng ta. Như một tác giả trong Kinh Thánh đã viết: "Tôi ngước mắt lên trên núi: sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Chúa Trời, là Đấng đã dựng nên trời và đất" (TT 121:1).
