Di Sản Một Đời Người
Tôi tin hầu hết qv đây (nếu không nói là tất cả) đều biết hay nghe về 2 người phụ nữ này: công chúa Diana của hoàng gia Anh Quốc và Mẹ Teresa, một nữ tu hy sinh cả đời cho những người nghèo khó nhất trong những người nghèo. Hai người phụ nữ này hoàn toàn khác nhau về gia đình, thân thế, địa vị, nhan sắc, danh phận. Tuy nhiên cả hai đều có hai điều giống nhau: qua đời vào năm 1987 (cách nhau một tuần lễ, trước là công chúa Diana, sau là mẹ Teresa) và cả hai đều để lại một di sản lớn cho đời.
Công chúa Diana sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuộc hoàng tộc Anh Quốc: giàu có, uy quyền, danh tiếng; danh xưng của bà trước khi lập gia đình là quận chúa Diana + nhan sắc + lập gia đình với hoàng tử Charles (đám cưới vào năm 1981 được xem là một đám cưới tuyệt vời nhất của thế kỷ 20). Mẹ Teresa sinh ra và lớn lên trong một gia đình dân giã tầm thường tại một xứ mà ít người nghe biết đến (Macedonia) + không nhan sắc + độc thân suốt đời, không chồng con.
Một số qv đây chắc có xem một số video về cuộc đời của CC Diana, hay CC Di. Qv có thể thấy bà nắm tay những trẻ em mang bệnh AIDS hay ôm những người phung cùi. Thấy bà đi ngang qua một bải mìn nguy hiểm để cổ động cho việc chống dùng mìn trong chiến tranh. Qv chắc cũng biết về những đau khổ trong cuộc đời bà, dù sống trong vàng son nhung lụa nhưng lại hết sức bất hạnh trong hôn nhân, rồi sinh ra ly dị. Và dĩ nhiên về cái chết bất ngờ vì tai nạn xe cộ trong đường hầm từ Anh sang Pháp.
Qv chắc cũng nghe về cuộc đời thánh khiết, hy sinh của Mẹ Teresa cho những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo khổ tại xứ Ấn Độ. Và về cái chết vì căn bệnh kéo dài.
Hầu hết mọi người đều có thể liên hệ và cảm thông với cuộc đời của CC Diana nhưng lại khó liên hệ với mẹ Teresa. Lý do rất đơn giản. Vì CC Di trải qua những cảnh ngộ mà bao nhiêu người khác cũng trải qua: tưởng như có tất cả, như hạnh phúc nhất đời, nhưng lại mất mát, đau khổ vô cùng. Và những việc làm của CC Diana, hầu hết mọi người đều có thể làm được. Nhưng không mấy ai có thể sống hy sinh, thánh khiết như mẹ Teresa. Có lẽ vì vậy mà đám tang của CC Diana khi phát hình toàn cầu thì ước tính có đến 2.5 tỉ người theo dõi và khóc cho cuộc đời bà.
Dù hai cuộc đời, hai cái chết hoàn toàn khác nhau nhưng cả hai đều để lại cho đời một di sản to lớn. Mọi người khi mất đi đều để lại một di sản. Có thể là 1 số tiền của dành dụm sau nhiều năm làm việc nhó nhọc; những kỷ niệm khó quên; tình yêu thương sâu đậm. Tôi tin qv đều biết rõ điều gì muốn để lại cho vợ chồng, con cháu mình. Nhưng bên cạnh vật chất, tình cảm, qv để lại di sản tâm linh, di sản đức tin gì cho thế hệ sau?
BỐI CẢNH CỦA THƯ
Thư 2 Ti-mô-thê có thể được xem như di chúc của sứ đồ PL gởi cho người con tinh thần rất yêu quí và tín cẩn là Ti-mô-thê. Thư là những lời cuối cùng của PL trước khi qua đời, trước khi bị xử tử bởi đại đế Nero. Cuộc đời đầy những biến động đã đến phần kết thúc. PL biết mình sắp về với Chúa và cũng biết rõ di sản mình để lại cho đời là gì.
Người ta thường nói con mắt là cửa sổ tâm hồn. Nhưng tôi tin cửa sổ thật sự của tâm hồn là những lời cuối cùng của một đời người, những lời để lại cho người còn sống. Đến lúc đó những gì chúng ta thật sự quí giá, thật sự quan trọng sẽ được tỏ bày.
7 đoạn cuối của sách CVCSĐ từ đoạn 21-28 cho biết bối cảnh của lá thư 2 Ti-mô-thê. Sau khi đã từ biệt các trưởng lão của HT Ê-phê-sô, PL quyết định trở về thành Jerusalem. Một tiên tri tên A-ga-bút khi nghe quyết định này thì lấy dây lưng của Phao-lô trói chân tay mình, mà nói rằng: nầy là lời Đức Thánh-Linh phán: Tại thành Giê-ru-sa-lem, dân Giu-đa sẽ trói người có dây lưng nầy như vậy, mà nộp trong tay người ngoại đạo. (CV 21:11). Các tín đồ nghe lời này thì khóc và khuyên PL đừng đi đến Jerusalem. Nhưng PL trả lời: Anh em làm chi mà khóc lóc cho nao lòng tôi? Vì phần tôi sẵn lòng chẳng những để bị trói thôi, lại cũng sẵn lòng vì danh Đức Chúa Jêsus chịu chết tại thành Giê-ru-sa-lem nữa (CV 21:13).
PL không chết tại thành J. dù bị dân Giu-đa trong thành làm loạn, lập mưu để giết. PL bị bắt giam trước hết tại J. sau giải đi đến một thành phố cảng và bị giam hơn 2 năm tại đó. Khi còn trong tù, Chúa phán cùng PL: Hãy giục lòng mạnh mẽ, ngươi đã làm chứng cho ta tại thành Giê-ru-sa-lem thể nào, thì cũng phải làm chứng cho ta tại thành Rô-ma thể ấy. (CV 23:11). Chúa biết ông sẽ bị giải đi đến thành La-mã. Và cũng là ước vọng của PL được giảng TL tại thủ đô của đế quốc La-mã và đại đế Caesar.
Trong thời gian 2 năm bị tù tại đó, PL có dịp làm chứng cho quan tổng đốc Phê-lít, người đại diện đại đế La-mã cai quản cả xứ Giu-đê, và vua A-ríp-ba. PL khán cáo lên đại đế Caesar. Họ giải PL đến thành La-mã bằng thuyền. Trên đường, thuyền bị chìm và PL bị rắn độc cắn. Nhưng ý Chúa là PL sống để đến thành La-mã. Sách CV 28 chấm dứt với thời gian 2 năm PL giảng TL tại thành LM khi bị giam lỏng.
Sau 2 năm bị giam lỏng, PL được thả và đi đến xứ Tây Ban Nha (xem Rô-ma 15:24, 28). Nhưng không lâu PL bị bắt và bị giam tại thành La-mã. Lần này không phải bị giam lỏng, nhưng trong ngục tối tại tù Marmetime. Một nơi tối tăm, lạnh lẽo, không nhà vệ sinh, không cửa sổ vì dưới lòng đất. Chỉ có một lỗ để cai ngục ném thức ăn vào. Chính trong ngục tối này, PL viết lá thư 2 Ti-mô-thê.
KỲ QUA ĐỜI ĐÃ GẦN
Thư 2 Timothy là lá thư cuối đời của PL. Một lá thư đầy tình cảm và hết sức cảm động. Tôi nhớ cảm xúc khi nhận được lá thư đầu tiên của mẹ tôi từ VN năm 1980 sau khi đến HK: đọc đi đọc lại bao nhiêu lần trong nước mắt. Tôi nghĩ thư cuối này của PL đối với Timothy quí báu đến chừng nào. Cám ơn Chúa đã mở cánh cửa sổ tâm hồn của PL để chúng ta có thể thấy được phần nào tấm lòng của ông với Chúa và với công việc Chúa giao phó.
PL biết ngày cuối của đời đã đến khi ông viết: Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. (2 Tim 4:6). PL đang bị tù trong ngục tối vì lệnh của chính quyền La-mã; PL cũng biết mình sắp qua đời, có lẽ biết mình sẽ bị xử tử. Tuy vậy PL xem những điều này như lễ quán, tức của lễ dâng cho ĐCT: nói cách khác ông xem cuộc đời mình và những gì xảy ra cho mình đều làm của lễ dâng cho ĐCT.
Rồi PL nói về di sản của đời mình cùng Timothy: Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. 8 Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài. (4:7-8)
Câu kỳ qua đời của ta gần rồi có 2 từ rất đặc biệt. Từ thứ nhất là kỳ qua đời chỉ được dùng 2 lần trong 13 thư viết của PL: Philip 1:23 khi ông viết về ý muốn đi về với Chúa và 4:7. Từ này có hình ảnh của một chiếc tàu nhổ neo ra khơi, hay một lều trại dở lên để dọn đi đến một nơi khác. Tiếng nguyên thủy phát âm hoàn toàn giống như analysis, nên đây cũng là từ phiên âm. Analysis có nghĩa là phân tích hay xem xét cách cẩn thận với lý lẽ. Có nghĩa là kỳ qua đời cũng chính là thời gian để suy nghiệm, xem xét lại cuộc đời mình, về những gì mình để lại khi qua đời. Một câu nói rất nổi tiếng của triết gia Hy Lạp Socrates là: một đời sống không suy xét là một cuộc đời không đáng sống (an unexamined life is not worth living). Hay nói như PL: tôi chạy, chẳng phải là chạy bá vơ; tôi đánh, chẳng phải là đánh gió (1 Cor 9:26)
Từ thứ hai dịch là gần rồi. Từ này có nghĩa là hiện đến (như khi thiên sứ hiện đến cùng những kẻ chăn chiên) hay xảy đến. Có nghĩa là người ta không biết chắc khi nào việc đó sẽ xảy đến. Không ai biết được ngày mình sanh ra đời, cũng không ai biết được ngày mình qua đời. ĐCT sẽ để sự đó xảy đến trong thời điểm và ý chỉ của Chúa, chứ không theo lịch định hay ý muốn của loài người. Khi dùng từ này PL có ý rất rõ là ngày qua đời của ông đã được ĐCT định liệu, chứ không nằm trong dự tính của ông.
Có ai ngờ khi CC Diana bước vào chiếc xe Mercedes để đi từ Anh sang Pháp với người yêu thì kỳ qua đời, giờ ĐCT định sẽ xảy đến. Chính vì vậy ĐCJC kể câu chuyện ngụ ngôn về người giàu có có những dự tính làm ăn lớn: Ruộng của một người giàu kia sinh lợi nhiều lắm, 17 người bèn tự nghĩ rằng: Ta phải làm thể nào? Vì không có đủ chỗ chứa hết sản vật. 18 Lại nói: Nầy, việc ta sẽ làm: ta phá cả kho tàng và cất cái khác lớn hơn, thâu trữ sản vật và gia tài vào đó; 19 rồi sẽ nói với linh hồn ta rằng: Linh hồn ơi, mầy đã được nhiều của để dành dùng lâu năm; thôi, hãy nghỉ, ăn uống, và vui vẻ. 20 Song Đức Chúa Trời phán cùng người rằng: Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai? (Lu-ca 12:16-20)
Hay như lời khuyên của Gia-cơ: Hỡi anh em, là kẻ nói rằng: Hôm nay hoặc ngày mai, ta sẽ đi đến thành kia, ở đó một năm, buôn bán và phát tài, 14 song ngày mai sẽ ra thế nao, anh em chẳng biết! Vì sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay. 15 Anh em phải nói trái lại: Ví bằng Chúa muốn, và ta còn sống, thì ta sẽ làm việc nọ việc kia. (Gia-cơ 4:13-14)
DI SẢN ĐỂ LẠI TÙY THEO MỤC ĐÍCH ĐỜI SỐNG
Mỗi chuyến đi, mỗi cuộc du ngoạn, cuộc hành trình đều có điểm đến. Mỗi cuộc đời giá trị, ý nghĩa, đáng sống đều có một mục đích rõ ràng. Dù mục đích đó là tạo một tài sản, tạo một thành tích, tạo một danh tiếng hay hưởng thụ thả cửa. Với PL mục đích của cuộc đời (mà ông cũng gọi là cuộc chạy) rất rõ: Biết ĐCJC và giúp người khác biết Ngài (know Christ and make Him known). Vì vậy ông ủy thác cho Timothy trách nhiệm là Ta ở trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng: 2 hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi. (2 Tim 4:1-2)
Giảng đạo hay giảng TL là trách nhiệm, mục đích lớn nhất, quan trọng nhất của HT Chúa. Như 4 mục đích của HT chúng ta: 1) Truyền giảng TL; 2) Thờ phượng ĐCT; 3) Thông công trong Chúa; 4) Trang bị tín đồ. Việc truyền giảng TL không chỉ nói về TL, nhưng còn phải đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi. Vì vậy HT cần 3 mục đích kia. Đây cũng là phần khó khăn hơn hết. Tại sao? PL cũng giải thích trong thư này: Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, 4 bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn. (4:3-4). Đây là những người muốn nghe về ơn phước Chúa ban, nhưng không muốn nghe về sự sửa phạt của Chúa; muốn nghe về những gì sẽ nhận được khi tin Chúa nhưng không muốn nghe về những gì phải cho đi khi theo Ngài. Muốn nghe những lời động viên, khích lệ nhưng không muốn nghe những lời bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, dạy dỗ.
PL biết rõ, hiểu rõ, kinh nghiệm nhiều rằng khi làm việc Chúa, khi sống cho Chúa chắc chắn sẽ có lúc thuận lợi, lúc khó khăn; lúc thêm vào, lúc mất mát; lúc đông đúc, lúc thưa thớt; lúc thuận cảnh, lúc nghịch cảnh; lúc người khen, lúc người chê; lúc người thương, lúc người ghét. Dù hoàn cảnh thế nào, PL khuyên Ti-mô-thê: giảng TL, cố hết sức khuyên dạy người tin Chúa.
Đến khi biết mình sắp qua đời, PL suy nghiệm lại, xem xét lại đời mình có thực hiện trọn 2 mục đích này hay không. Kết luận của việc tự xét mình là: Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin (4:7) Đây là thành quả của cả cuộc đời, 30 năm hầu việc Chúa. PL không viết về của cải vật chất để lại: về mấy trăm ngàn trong ngân hàng, vài căn nhà, chung cư cho mướn, những mẫu đất đáng giá hàng tỉ bạc. PL không viết về thành tích của ông trong suốt 30 năm hầu việc Chúa: mấy mươi hội thánh ông lập, mấy ngàn người tin Chúa, bao nhiêu hội thánh có số tín đồ trên 100, 1000, 10,000. PL không viết về công lao khó nhọc trong 30 năm hầu việc Chúa như đã viết trong 2 Cor 11:23-29 làm việc khó nhọc, bị tù đày, bị đánh đập, bị ném đá, bị chìm tàu lênh đênh trên sông biển, chịu đói, chịu khác, bị nguy hiểm trên đường đi, trên sông, trong thành phố, trên biển cả, và với những anh em giả dối, lòng ngay thật lo lắng, yêu thương HT Chúa. Nhưng qv có biết câu 30 PL viết gì không? Nếu tôi phải tự hào, tôi sẽ tự hào về những điều yếu đuối của tôi. (2 Cor 11:30 – BDM). Tại sao? Bởi vì biết rằng ông làm được mọi sự là nhờ Đấng Christ ban cho ông.
Thay vì kể sự nghiệp để lại, công khó tạo dựng, khi suy nghiệm lại cuộc đời theo Chúa và hầu việc Chúa, PL viết: Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin (4:7) Có nghĩa là những trận chiến, cuộc chạy Chúa đặt để trong cuộc đời, PL hoàn tất. PL không nói về kết quả nhưng nói về sự vâng phục, chấp nhận những cuộc chiến, cuộc chạy Chúa giao; không nói về kết quả nhưng nói về sự tận trung, làm hết lòng, hết sức để hoàn thành việc Chúa giao.
Hình ảnh về trận chiến, cuộc chạy là hình ảnh về việc Chúa giao phó không dễ dàng hay nhanh chóng. Trái lại nó đòi hỏi cố gắng, nổ lực, hy sinh, cực nhọc. Chiến trận đòi hỏi sự luyện tập, trang bị kỷ lưỡng, cần có chiến thuật, chiến lược tùy theo tình huống, nhân lực, thời điểm, địa lý. PL viết về áo giáp, thuẩn khiên của người ra trận trong Ê-phê-sô 6. Người ta gọi những kẻ đào ngũ, bỏ hàng ngủ là những kẻ hèn nhát, phản đồng đội, phản quốc gia.
Khi viết Ta đã đánh trận tốt lành PL nói ông không bỏ cuộc, không đào ngủ, không hèn nhát nhưng chiến đấu cho đến cuối cùng. Khi đánh giá tín đồ, người ta thường xem bao nhiêu ơn phước Chúa ban cho họ. Khi đánh giá mục sư, người hầu việc Chúa, người ta thường xem bao nhiêu tín hữu trong hội thánh, bao nhiêu hội thánh thành lập, bao nhiêu người tin Chúa. Chúng ta chỉ chú trọng vào kết quả. Nhưng PL chú tâm vào sự hy sinh, lòng can trường, sự tận trung cho đến phút cuối, cho đến khi xong cuộc chiến.
Cũng vậy PL viết Ta đã xong cuộc chạy tức là đã hoàn tất cuộc chạy, đã vượt qua mức cuối. PL không viết về thời gian ngắn hay dài, lâu hay mau, dưới hay trên kỷ lục. PL không viết về kết quả hay kỷ lục, cũng không so sánh với một ai cả, nhưng viết về sự kiên trì, không bỏ cuộc, cố hết tâm sức, nhìn về mức cuối để hoàn tất cuộc chạy.
Lẽ ra một người như PL phải kể rất nhiều thành quả đạt được trong lúc cuối đời, trong di chúc thư. Nhưng PL chỉ viết Ta đã giữ trọn đức tin. Trên đường Đa-mách, PL đã được Chúa cứu, được Chúa cải hóa, thay đổi đời sống, thay đổi mục đích sống. Trong cuộc đời theo Chúa, ông đã kinh nghiệm được tình yêu thương, sự thành tín, nhân từ, tha thứ của Chúa. Chúa đã giúp ông hiểu rằng sự cứu rỗi không đến bởi việc làm hay công đức nhưng bởi ân điển. Đến khi sắp qua đời PL vẫn giữ trọn vẹn niềm tin yêu trong Chúa, về những điều Chúa đã truyền cho. PL không nghi ngờ, không hoang mang, nhưng biết chắc Đấng ông tin. PL không thay đổi sứ điệp về TL dù gặp thời hay không gặp thời (dù trong thuận cảnh hay trong nghịch cảnh), dù có bị từ khước, chê bai, xua đuổi, hay khinh thường. PL không lợi dụng TL hay danh Chúa để làm giàu, để được tiếng tăm, để được kẻ khen, người chuộng nhưng giữ trọn đức tin rằng chính ĐCT sẽ là Đấng ban thưởng cho ông.
Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài. (4:8) Mão triều thiên này không chỉ dành cho các thánh đồ như PL, như mẹ Teresa, nhưng cho mọi (tất cả) kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài, tức luôn hướng lòng dạ, tâm tưởng, hướng mục đích của đời sống vào ngày cuối cùng khi ĐCJC trở lại.
KT viết về những người có rất nhiều tiềm năng hay ân tứ nhưng lại không đánh trận tốt lành, không xong cuộc chạy, không giữ trọn đức tin. Như vị vua đầu tiên của dân Giu-đa là vua Sau-lơ. Cao lớn, đẹp trai, tài giỏi, can đảm. Được Chúa chọn (xức dầu) làm vua. Nhưng cuối đời bị lòng ghen tị, ganh ghét như trăm vòi của bạch tuộc quấn chặt lấy rồi để rễ của sự cay đắng làm mất đi ân điển Chúa ban. Như Sam-sông, người ĐCT biệt riêng cho việc giải cứu dân Ngài từ trước khi ra đời. Sức mạnh phi thường. Nhưng vì tham đắm nhan sắc mà mất sức phi thường, mất hai mắt, mất sự tự đo. Hay như Đê-ma. Người PL gọi là bạn đồng lao trong Chúa trong hai thư Cô-lô-se và Phi-lê-môn, nhưng đến những ngày cuối đời của PL vì ham hố đời này đã bỏ ta rồi.
Theo quan điểm đời này thì qua thư này cuộc đời hầu việc Chúa của PL là thất bại. Đến cuối đời, bị tù đày, bị xử tử; không còn ai bên cạnh ngoại trừ bác sĩ Lu-ca thỉnh thoảng đến thăm; mọi người trong xứ Tiểu Á đều lìa bỏ; bị Đê-ma bỏ rơi vì mê đắm đời này dù đã theo PL nhiều năm. Nhưng PL hiểu rằng di sản của ông không phải trong kết quả mà người đời tôn vinh, khen tặng, nhưng trong lời viết: Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin (4:7)
Thành công của ngày hôm nay không bảo đảm hoàn tất cuộc chạy, đánh trận tốt lành, giữ vững đức tin cho đến kỳ đã định. Điều quan trọng trong di sản của PL là lòng tận trung, kiên trì, hết lòng, hết sức làm công việc Chúa dù hoàn cảnh thế nào, dù thuận cảnh hay nghịch cảnh. Sự bắt đầu quan trọng nhưng kết thúc quan trọng hơn hết.
Một số con cái Chúa có thể thất vọng khi nhìn lại thành quả năm qua. Dựa vào lời dạy của PL, tôi khuyên qv chớ nên ngả lòng. Cứ tiếp tục tận trung hầu việc Chúa. Nếu sự cứu rỗi không đến bởi việc làm hay công đức, thì phần thưởng cũng không tùy theo kết quả nhưng bởi lòng chân thành, lòng tận trung, lòng yêu mến Chúa và anh chị em trong Chúa. Chớ ngã lòng, giảng TL, khuyên dục, động viên nhau, dù gặp thời hay không gặp thời. Hãy nhớ rõ lời cuối của PL khi nhìn lại việc đã qua trong năm nay và khi chuẩn bị cho năm tới đến: hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi… Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. 8 Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài. (2 Ti-mô-thê 4:2, 7-8)
