Đến Với Sự Sáng Lớn
Giáng sinh thường đem đến cho chúng ta cảm giác bình an, ấm áp. Đặc biệt khi nhìn những ánh đèn lấp lánh trên cây giáng sinh, khi bước vào sảnh đường thờ phượng trang trí đẹp đẽ cho mùa lễ, khi nghe những bài thánh ca giáng sinh quen thuộc “Đêm xuống êm đềm, chuông thánh van rền…” Nhiều người tóm gọn ý nghĩa về giáng sinh là mùa gia đình sum họp, mùa của quà tặng. Số khác cho rằng đây là mùa yêu thương, an bình và hy vọng. Chúng ta cảm thấy ấm lòng khi nghĩ về những điều này, khi cảm nhận sự bình an của mùa lễ. Tuy nhiên đây không phải là ý nghĩa của Giáng Sinh theo lời Kinh Thánh.
Lu-ca ghi lại câu chuyện về Ma-ri và Giô-sép phải đi từ làng Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê đến Bết-lê-hem để khai sổ dân theo lệnh của đại đế Sê-sa Au-gút-tơ. Bấy giờ Ma-ri đang mang thai, sắp đến ngày sinh nở. Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến. Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở. (Lu-ca 2:6-7)
Hài nhi Giê-xu sinh ra trong chuồng chiên, máng cỏ bởi vì nhà quán không có đủ chỗ. Một thực tế hoàn toàn tương phản với hình ảnh chúng ta thường nghe, thấy trong mùa lễ. Hầu hết các bức thiệp giáng sinh đều mô tả hình ảnh của chuồng chiên, máng cỏ thơ mộng, êm đềm, với hài nhi Giê-xu nằm ngủ say trong máng cỏ bình an, bên cạnh là Mari và Giô-sép âu yếm chăm nhìn con trai đầu lòng vừa sinh. Trên cao thiên sứ bay lượn bảo vệ, chúc phước. Trước máng cỏ là những người chăn chiên cùng các bác sĩ từ đông phương quì dâng lễ vật cho con trẻ mới sinh. Thật ra đây chỉ là những hình ảnh thi vị hoá, thơ mộng hoá, êm đềm hoá đêm Chúa giáng sinh hơn 2000 năm trước đây. Thực tế về giáng sinh ghi lại trong Kinh Thánh hoàn toàn khác với những ý nghĩ phổ thông này.
Thực tế: chuồng chiên máng cỏ là nơi ở của chiên cừu, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tối tăm nên không một người mẹ nào muốn sinh con đầu lòng nơi đó cả. Thực tế: vì không còn một nơi nào khác để tá túc nên Mari và Giô-sép đành phải trú ngụ nơi chuồng chiên máng cỏ. Thực tế: theo lời Kinh Thánh, phản ứng đầu tiên của tất cả nhân vật trong câu chuyện giáng sinh, từ những kẻ chăn chiên, cho đến Ma-ri và Giô-sép khi thiên sứ hiện ra cùng họ không phải là bình an hay vui mừng nhưng vô cùng sợ hãi.
Chúng ta sẽ trở lại những chi tiết này trong phần tới của bài giảng.
Tuy nhiên sứ điệp giáng sinh quan trọng và khó cho con người văn minh hiện đại chấp nhận hơn hết là từ tiên tri Ê-sai viết hàng 700 năm trước khi Đức Chúa Giê-xu Christ hạ sinh: Dân đi trong nơi tối tăm đã thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự chết. (Ê-sai 9:1). Thế gian, theo sứ điệp giáng sinh của Ê-sai là nơi tối tăm, xứ thuộc về bóng của sự chết, đầy dẫy tội lỗi. Con người không thể tự cứu, tự thoát ra khỏi bóng tối của tội lỗi. Vì vậy thế gian cần một sự sáng lớn để xua tan bóng của sự chết, để giải cứu con người ra khỏi tội.
Trước thế giới tối tăm, người không tin Chúa sống như lời hai bài hát: 1) đừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng (TCSơn); 2) hãy cố yêu đời mà sống, lâu rồi đời mình cũng qua (Vũ Thành An).
Tại sao người không tin Chúa không tìm đến sự sáng lớn? 1) Sợ hãi; 2) Kiêu ngạo. Cả hai lý do này sinh ra bởi tội lỗi. Chính tội lỗi khiến mọi người đều cảm thấy sợ hãi không muốn đến với ĐCT; hay sinh lòng kiêu ngạo, tự phụ: tôi không cần Đức Chúa Trời.
BÓNG TỐI VÀ SỰ SÁNG
Trong thời tiên Ê-sai, dân sự xứ Y-sơ-ra-ên sống trong tối tăm mờ mịt. Tình cảnh cực kỳ đen tối của dân sự được tiên tri Ê-sai tóm tắt như sau: Dân chúng đi lang thang khắp xứ, bị hoang mang và đói khổ. Khi họ đói họ đâm ra giận dữ và ngước lên nguyền rủa vua cùng Thượng Đế mình. Chúng nhìn quanh, khắp xứ chỉ thấy khốn đốn, tăm tối, và bi thảm, cái bi thảm của dân bị buộc phải xa xứ. (Ê-sai 8:21-22 – BPT) Trước bóng tối đó, dân sự làm gì? Hành động của họ không khác gì dân sự từ đó đến nay.
Nhìn quanh xã hội dân chúng không thấy gì ngoài hoạn nạn, tối tăm và sầu thảm – một hoàn cảnh cực kỳ đen tối. Tìm đến vua quan, chính quyền, dân chúng chỉ thêm phẩn nộ vì không ai quan tâm, không ai giải quyết những nan đề trước mắt. Trái lại vua quan ai nấy đều tham lam, chỉ lo gom góp, bòn chắt cho phúc lợi cá nhân và gia đình họ. Không chỉ tham lam nhưng còn vô cùng độc ác, phạm tội cùng ĐCT. Vua Mê-na-hem hãm đánh Típ-sắc bởi vì thành ấy không khứng mở cửa cho; nên người đánh nó, và mổ bụng hết thảy người đàn bà có nghén ở đó. (2 CV 15:16)
Dân sự tìm cầu cả đồng bóng và thầy bói, là kẻ nói ríu rít líu lo, với hy vọng tìm ra giải pháp cho những nan đề đối diện. Có ngươi đề nghị, “Hãy đi hỏi bọn đồng bóng và thầy bói là những kẻ chuyên thì thầm và lẩm bẩm để biết phải làm gì.” Nhưng ta bảo các ngươi rằng nên cầu xin Thượng Đế giúp đỡ. Tại sao người sống mà lại đi hỏi người chết? (Ê-sai 8:19 – BPT)
Càng tìm kiếm giải pháp dưới đất, dân sự chỉ nhìn thấy sự hoạn nạn và mờ mịt, chỉ thấy bóng buồn rầu, càng lạc vào nơi tối tăm mờ mịt. Chúng nhìn quanh, khắp xứ chỉ thấy khốn đốn, tăm tối, và bi thảm, cái bi thảm của dân bị buộc phải xa xứ. (Ê-sai 8:22 – BPT)
Đất nước họ lại còn thường xuyên bị đe dọa bởi giặc ngoại xâm A-si-ri từ phương bắc. Hai chi bộ Sa-bu-lôn và Nép-ta-li trong các vùng Ga-li-lê của xứ Y-sơ-ra-ên bị xâm chiếm. Vua xứ A-si-ri chiếm đoạt lãnh thổ và bắt dân sự các vùng ấy giải sang xứ A-si-ri (Ê-sai 8:22-23, 2 Các Vua 15:29).
Tuy nhiên ngoại cảnh đen tối của Y-sơ-ra-ên trong thời điểm ấy không đáng sợ bằng bóng tối mù mịt do tội lỗi trong lòng dân sự. Có thể nói ngoại cảnh đen tối chính là hậu quả trực tiếp của tội lỗi nội tâm. Giáo sư Edward Young bình luận về tình trạng cực kỳ đen tối của Y-sơ-ra-ên trong thời điểm này như sau: Tuy nhiên kinh khiếp bội lần hơn so với bóng tối của giặc ngoại xâm (A-si-ri) là bóng tối do chính tình trạng nội tâm của dân sự trong nước, từ hậu quả của tội lỗi và sự khốn khổ bởi tội lỗi trong cuộc sống… Bóng tối này là bóng của sự chết, vì nó quá sâu thẳm và thuộc về sự chết. Bóng tối của tội lỗi chỉ có thể được xua tan và thay đổi bởi ánh sáng của sự sống... Sự sáng này là quà tặng của Đức Chúa Trời; sự sáng này không thể bắt nguồn từ tấm lòng con người vì chính tấm lòng người đầy dẫy bóng tối.
Trong bóng tối mù mịt của hoàn cảnh xã hội, đất nước và tội lỗi con người, tiên tri Ê-sai viết về một sự sáng lớn sẽ xuất hiện. Sự sáng đó không đến từ một vì sao trong đêm tối nhưng đến từ một con trẻ hạ sanh: Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. (Ê-sai 9:5).
ĐCT muốn nói với dân sự điều gì qua lời tiên tri Ê-sai? Bóng tối mù mịt của tội ác, nan đề trong xã hội, trong lòng người chỉ có thể giải quyết cách vĩnh viễn bởi sự sáng lớn ban cho từ trời, đến từ một con trẻ sẽ hạ sinh.
HAI LÝ DO NGĂN CẢN CON NGƯỜI ĐẾN VỚI SỰ SÁNG LỚN
Bảy trăm năm sau khi Ê-sai tiên tri về sự sáng lớn lạ lùng đó, một con trẻ tên Giê-xu hạ sinh trong chuồng chiên máng cỏ tại thành Bết-lê-hem. Khi Giê-xu về quê hương và nhóm tại nhà hội, có người đưa Ngài sách tiên tri Ê-sai để đọc. Khi đã đọc xong, Ngài tuyên bố: Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi vừa mới nghe đó (Lu-ca 4:21). Đức Chúa Giê-xu Christ xác nhận chính Ngài là ứng nghiệm của tiên tri Ê-sai viết về Sự Sáng Lớn: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. (Giăng 8:12) Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng. (Giăng 1:4-5)
Từ xưa đến nay trong lịch sử loài người, rất nhiều người chỉ dạy về đạo, chân lý. Tuy nhiên họ chỉ nhận là biết đạo, chân lý, lẽ thật, sự sáng. Chỉ có ĐCJC nhận chính Ngài là ánh sáng, là sự sống, là đường đi, chân lý, lẽ thật.
Dù Sự Sáng Lớn đã đến với thế gian để cứu tội cho loài người, nhưng con người vẫn từ chối không tin nhận Ngài. Tại sao? Hai nguyên nhân, lý do: 1) Sự sợ hãi; 2) Lòng kiêu ngạo. Cả hai đều bắt nguồn từ tội lỗi. Án lý buộc tội là thế nầy: Ánh sáng đã chiếu vào thế gian nhưng người đời yêu chuộng bóng tối hơn ánh sáng vì hành vi của họ là gian ác. 20 Vì người làm ác thì ghét ánh sáng và không chịu đến cùng ánh sáng, sợ rằng hành vi của mình sẽ bị phơi bày ra. (Giăng 3:19-20 – BDM).
Người VN chúng ta sợ Trời. Không ai yêu thương Trời cả. Tại sao? Hai lý do: 1) Vì sợ tội lỗi mình bị phơi bày trước mắt nhìn thấy, nhìn biết mọi sự, trước sự sáng lớn; 2) Vì không hề có quan hệ, không tin tưởng, sợ Trời bắt mình phải hy sinh, làm điều này điều nọ.
Tội lỗi khiến cho con người sợ hãi ĐCT vì sợ tội mình phải bị phơi bày, vạch trần trước con mắt, ánh sáng của ĐCT. Con người không tìm đến sự sáng lớn, đến ĐCT, chạy trốn sự sáng, chạy trốn ĐCT, chọn ở trong bóng tối của tội lỗi hơn là tìm đến với ánh sáng ban cho bởi Đức Chúa Trời vì sợ tội lỗi của mình sẽ bị phơi bày trước ánh sáng đó.
Trước khi phạm tội A-đam và E-va có một quan hệ thân thiết, tốt đẹp với Chúa. Họ đi dạo cùng Đức Chúa Trời trong vườn Ê-đen khi chiều mát. Họ bước đi trong ánh sáng và vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nhưng sau khi phạm tội, A-đam và E-va chạy trốn giữa các bụi cây để lẫn tránh khi nghe tiếng Chúa gọi. Khi Chúa hỏi ngươi ở đâu, A-đam trả lời: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình. (STK 2:10). Tội lỗi khiến A-đam và E-va sợ hãi khi phải đối diện với Đức Chúa Trời thánh khiết. Hình ảnh lõa lồ không chỉ nói về sự trần truồng về thể xác nhưng hơn hết tội lôi bên trong con người lộ rõ trước mắt nhìn của ĐCT thánh khiết.
Khi A-đam & E-va khi đã ý thức họ trần truồng nên tìm lá cây vả làm khố che thân. Ngày nay không ai che thân bằng lá cây vả cả ngoại trừ những người mẫu trên báo chí, phim ảnh khỏa thân! Ngày nay chúng ta che dấu sự sợ hãi của mình bằng những cách thức tinh vi hơn. Chúng ta không muốn ai biết sự lo lắng, thiếu tự tin nên ra vẻ hiểu biết. Không muốn ai biết mình thiếu tình yêu thương nên thay lấp vào đó bằng vật chất: xe cộ, tiệc tùng, các chuyến đi xa. Mọi người, mỗi người đều có lúc như một rùa núp trong cái vỏ cứng để mong không ai thấy được. Khi rút mình vào vỏ chúng ta cảm thấy an toàn.
Khi đến với sự sáng, Chúa sẽ vạch trần, phô bày cái tôi, con người thật ích kỷ mà chúng ta muốn dấu mọi người. Ánh sáng của Chúa sẽ cho thấy chúng ta đang mặc cái khố bằng lá cây vả mong manh, tạm bợ, cái khố tạm bợ, mong manh của việc làm, sắc đẹp, thông minh, tài của, địa vị, quan hệ. Ánh sáng của Chúa cho thấy sự thánh khiết, toàn thiện của ĐCT không thể chấp nhận sự giả tạo, mặt nạ, tội lỗi trong đời sống chúng ta, dù cố che đậy khéo léo cho đến mấy. Cái lớp sơn hào nhoáng bên ngoài bị ánh sáng lột trần, phơi bày con người thật xấu xa. Vì vậy mà bao nhiêu người từ chối đón nhận ánh sáng vào đời sống. Họ sợ: sợ bị phơi bày, sợ bị người ta thấy, biết con người thật, sợ sẽ mất cái khố lá tạm bợ. Khi đã quen sống trong bóng tối, ánh sáng làm cho chúng ta khó chịu.
Kinh Thánh viết về phản ứng sợ hãi của những người chăn chiên ngoài đồng khi thiên sứ hiện ra cùng họ trong đêm giáng sinh: Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi (Lu-ca 2:8-9) Câu họ rất sợ hãi trong từ nguyên thủy là họ sợ hãi với sự sợ hãi vô cùng. Phản ứng sợ hãi của những người chăn chiên khi thiên sứ hiện ra cùng họ trong đêm giáng sinh cũng là phản ứng tự nhiên của mọi người khi phải đối diện với sự sáng.
Biết rõ nỗi sợ hãi của những người chăn chiên thiên sứ trấn an và báo cho họ một tin vui mừng lớn cho muôn dân: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. (Lu-ca 2:10-12). Những người chăn chiên tin lời thiên sứ và tìm đến máng cỏ nơi con trẻ Giê-xu hạ sinh thay vì chạy trốn vì sợ hãi. Họ tìm đến sự sáng lớn.
Ma quỉ không muốn con người tìm đến sự sáng lớn, tìm đến sự sáng thật là ĐCJC để được Ngài lấy đi nỗi lo sợ, bất an trong đời sống. Trái lại nó muốn con người tin rằng tự mình có thể giải quyết mọi vấn đề trong đời sống. I am the master of my fate: I am the captain of my soul – Ta là chúa tể của vận mạng ta: Ta là chỉ huy của linh hồn ta.
ĐCT đã dùng tiên tri Giê-rê-mi để giải thích về tội này của dân sự: Vì dân Ta đã phạm hai tội ác: Chúng đã lìa bỏ Ta, Là nguồn nước trào tuôn, Và tự đào cho mình những bể chứa nước, Những bể nứt nẻ không chứa nước được. (2:13)
Thật như lời tiên tri Giê-rê-mi, tất cả những điều trong thế gian này mà ma quỉ muốn qv lấy làm sự an toàn cho đời sống đều như những hồ chứa nước nức mẻ không chứa nước được. Càng sống lâu qv chắc càng nghiệm rõ điều này. Công việc làm đem đến lợi tức nhiều nhưng cũng làm cho người ta ăn không ngon, ngủ không yên, thân xác mệt mõi, rã rời. Người thân yêu rồi cũng sẽ qua đời. Bạn hôm nay thân thiết, ngày mai lại trở nên nghịch. Vui mừng, hớn hở vì thành công hôm nay nhưng rồi vài năm sau đó nhìn lại phải chi đừng có sự thành công này thì gia đình đâu phải có chuyện lục đục, tình bạn rạn nứt.
Chúng ta lo sợ cho con cái, gia đình; cho tương lai; cho công việc. Sợ thất bại. Sợ bị chê cười. Hơn hết sợ chết. Ai lại không sợ chết, hay ít nhất sự đau đớn trước khi chết. Sợ bị Chúa phán xét. Nhưng tôi nghĩ nỗi lo sợ rõ hơn hết khi đến với sự sáng là sợ rằng tin Chúa rồi chúng ta sẽ không còn cuộc sống như ý mình muốn, sợ Chúa bắt mình phải thay đổi mất hết niềm vui trong cuộc sống. Sợ mình phải dâng hiến tiền của hay phải đi truyền giáo ở nơi xứ xa xôi nào đó. Nói cách khác chúng ta không hoàn toàn tin tưởng (trust) ĐCT.
ssChúng ta thà biết trong nhà băng đủ tiền về hưu còn hơn biết có Chúa ở cùng. Chúng ta thà tránh sự sáng lớn còn hơn ở trong ánh sáng phơi bày tội lỗi, thói hư tật xấu mình. Như Giê-rê-mi viết, chúng ta bỏ ĐCT, là nguồn nước tuôn trào để tự đào những hồ chứa nước mà không giữ được nước vì nức mẻ. Nhiều người sợ khi đến với sự sáng lớn họ phải từ bỏ tất cả thú vui đang có, từ bỏ thói quen trước đây để sống như một tu sĩ. Thật sự thì họ đang là nô lệ cho những thú vui và thói quen này như lời KT dạy.
Đừng khổ vì miếng ăn hay hư nát nhưng vì thức ăn còn đến sự sống vĩnh phúc mà Con Người sẽ ban cho các người… Đức Giê-su đáp: "Chính Ta là bánh hằng sống, ai đến với Ta sẽ không bao giờ đói, còn ai tin Ta sẽ chẳng bao giờ khát! (Giăng 6:27, 35 – BDM)
DẸP BỎ LÒNG KIÊU NGẠO, HỌC KHIÊM NHƯỜNG ĐỂ ĐẾN VỚI SỰ SÁNG LỚN
Lý do thứ hai khiến con người không đến với ĐCT là vì lòng kiêu ngạo: Tôi không cần Trời, tôi có thể tự giải quyết mọi nan đề trong đời sống, tôi không cần sự sáng lớn từ trời bởi vì tôi có thể tạo nên những ngọn đèn sáng khác.
PL viết người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, tức kiến thức. Tìm những bác học, giáo sư tài giỏi để giải quyết mọi nan đề trong xã hội. Kinh tế gia, bác sĩ, kỹ sư, vật lý gia, hóa học gia, tâm lý gia…
Người DT tìm kiếm giải pháp nơi những người lãnh đạo chính trị. Mỗi 4 năm chúng ta đều kinh nghiệm được các chính trị gia tranh cử tổng thống, thượng hạ viện, thống đốc hứa hẹn sẽ giải quyết mọi vấn đề, cả việc tiêu diệt covid-19, biến đất nước từ nghèo sang giàu, dân đói được no bụng, đầy đủ, dư dật. Trong năm 2021 này, xã hội, thế giới vẫn dầy đặc bóng tối.
Khi đến với Chúa, chúng ta phải ý thức rõ chính tôi là người có lỗi, có tội cùng ĐCT, cùng những người chung quanh tôi. Nhưng lòng kiêu ngạo khiến chúng ta không chấp nhận được điều này.
Vì biết nỗi lo sợ của những người chăn chiên, thiên sứ nói cùng họ: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. (Lu-ca 2:10-12).
Tôi đọc lại câu KT này nhiều lần và tự hỏi tại sao thiên sứ lại bảo cùng các mục tử Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. Tại sao ĐCJC lại phải sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ. Sinh bởi cha mẹ nghèo khó, tầm thường. Lớn lên tại làng Na-xa-rét? Để cảm thông cho những người bần hàn nhất, thấp hèn nhất trong xã hội. Sứ điệp Giáng Sinh là Đấng vĩ đạo, vô lượng, vô song, Đấng sáng tạo muôn loài vật, đã cam phận thấp hèn để cứu tội cho những kẻ thấp hèn nhất trong xã hội. Khiêm nhường.
Dù ĐCJC là ánh sáng lớn, nhưng khi đến thế gian Ngài đến cách khiêm nhường, thích hợp với đối tượng; nói cách khác Chúa không muốn ánh sáng lớn làm người đón nhận Ngài phải sợ hãi. Những lời Chúa dạy dù bao la và thâm sâu đến nỗi các học giả bỏ cả đời nghiên cứu vẫn chưa hiểu hết, nhưng cũng đơn giản để một con trẻ năm bảy tuổi vẫn có thể hiểu để tin nhận Ngài.
Rồi những kẻ chăn chiên làm gì? Họ quyết định đi đến gặp con trẻ: Chúng ta hãy tới thành Bết-lê-hem, xem việc đã xảy đến mà Chúa cho chúng ta hay. 16 Vậy, họ vội vàng đi đến đó, thấy Ma-ri, Giô-sép, và thấy con trẻ đang nằm trong máng cỏ. 17 Đã thấy vậy, họ bèn thuật lại những lời thiên sứ nói về con trẻ đó. (Lu-ca 2:15-17). Các bác sĩ đông phương cũng lặn lội đường xa đến tìm cho được ánh sáng lớn vừa mới hạ sinh. KT dạy rõ: quyết định nhận ánh sáng vào đời sống phải thể hiện qua hành động cụ thể, tâm trí quyết định, nhưng chân phải đi, cả thân phải quỳ xuống thờ lạy Chúa. Nếu không hành động, nếu không như các mục tử quyết định, dù có phải bỏ bầy chiên nơi đồng, để đến thành Bết-lê-hem, mà tìm con trẻ vừa hạ sinh như lời thiên sứ đã phán thì dù lòng qv có cảm động đến mấy cũng vô ích. Qv phải tự nguyện đến với Chúa để nhận sự sáng vào đời. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy. (Giăng 1:9-10).
Câu chuyện từ bài viết What I Learned from a dying patient của bác sĩ E. Wesley Ely, bác sĩ và giáo sư y khoa trường đại học y khoa Vanderbilt, Wall Street Journal 20/12/2014. Chuyện kể về một bệnh nhân 39 tuổi, tiến sĩ khoa học, brilliant được đưa đến cấp cứu và vào ICU vì có nhiều triệu chứng mà không biết nguyên nhân. Hai tháng trước đó, cô vẫn mạnh khỏe. Thình lình thở như hụt hơi, có máu trong nước tiểu và ngón chân cái bị đau. Khi chụp hình thì thấy cô bị một khối u trong mạch tim và nhiều phần của thận đang chết. .
Khi bác sĩ Ely nói chuyện với mẹ người bệnh thì được bà cho biết là cô không tin có thượng đế (agnostic). Sau một thử nghiệm phổi bác sĩ xác nhận cô bị ung thu và ung thu đã lan đầy trong cơ thể. Khi cho biết kết quả thì phổi cô đã đầy nước, cô không nói được. Nhưng mắt và nước mắt của cô như kêu gào với bác sĩ câu hỏi tại sao tôi! Chỉ 8 tiếng đồng hồ sau khi biết kết quả ung thu, cô qua đời. Bác sĩ Ely viết: Từ ngàn xưa, những nhà thông thái như Plato và Aristotle dạy chúng ta về khái niệm của thân xác, trí tuệ và linh hồn (body, mind, spirit)… Bệnh nhân tôi và tôi có hai phần đầu giống nhau (thân và trí) nhưng khi nói về tâm linh niềm tin chúng tôi khác nhau… Một cuộc xác nghiệm về thể xác (autopsy) sẽ trả lời rất nhiều câu hỏi, như bứu gì lớn lên trong mạch tim và có thể cả căn cơ của ung thu mà chúng tôi nghĩ từ các bộ phận vùng bụng, nhưng không một cuộc giảo nghiệm thể xác nào, không có kính hiển vi nào hay cuộc thử nghiệm phòng lab nào có thể giúp tôi biết hơn về tình trạng tâm linh của cô.
Khoảng 300 năm trước đây lịch sử Tây Phương bước vào một giai đoạn rực rỡ, vàng son đến nỗi gnọi là Thế Kỷ Ánh Sáng. Một tên gọi khác cho thời kỳ này là Thời Kỳ Khai Minh, Khai Sáng (Enlightment). Gọi là thế kỷ ánh sáng hay thời kỳ khai minh để tương phản với thời kỳ đen tối (Dark Ages) của mê tín, dị đoan, phi lý, độc tài của tôn giáo. Phong trào khai minh (khai sáng) bắt đầu với cách mạng khoa học, kỹ thuật, lý luận (reason). Không còn bóng tối dày đặc, u mê của tôn giáo. Ánh sáng của khoa học, lý luận, của chế thể tự do, của cách mạng sẽ thay đổi toàn diện lịch sử loài người, từ tối tăm sang sáng láng, từ mê tín được giải phóng, từ độc tài sang tự do, từ nghèo khó sang giàu có, ấm no, hạnh phúc. Với thời gian và khả năng lý luận của con người, với kiến thức của khoa học, con người sẽ biến thế giới này trở nên một thiên đàng. Vâng loài người chúng ta sẽ thiết lập một thiên đường trên đất. Vườn Ê-đen sẽ được tạo mới bởi loài người. Tháp Ba-bên xưa sẽ được cất để danh tiếng con người vang lừng thấu đến trời cao. Không còn ai bóc lộc, hà hiếp, cai trị ai. Bình đẳng, nhân quyền, tự do, độc lập, ấm no, hạnh phúc là khẩu hiệu của một xã hội mới, thế giới mới.
Dù chúng ta có thể đang sống trong một thời kỳ sung túc nhất về vật chất: sức khỏe, tiện nghi, đầy đủ, tuổi thọ kéo dài, nhưng mọi người đều đồng ý rằng đây cũng là một thời kỳ nguy hiểm nhất trong lịch sử loài người: Vũ khí nguyên tử, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học không chỉ giết vài trăm ngàn người nhưng cả đến triệu, tỉ người. Có người tung tin đồn rằng covid-19 là một thử nghiệm của vũ khí sinh học trong tương lai. Bao nhiêu lãnh đạo độc tài như chủ tịch nhà nước trọn đời tại TQ hay Nga Sô hay Bắc Hàn hay Syria hay Iran hay Venezuala hay Cuba với tham vọng bá chủ quốc gia, bá chủ thế giới. Dường như loài người bước đến phía trước 10 bước thì lại thoái lui 10, 15 bước.
Khi nhìn vào hiện trạng hôm nay trong xã hội HK: nạn dịch vẫn còn đang bùng phát, omicron vừa phát hiện tại HK, lạm phát kinh tế, tội phạm gia tăng tại hầu hết các thành phố lớn. Hai tuần trước, một người lái xe cố ý đâm vào đoàn diễn hành mừng GS tại Waukesha giết 6 người, bị thương trên 40 người. Tuần qua một thanh niên 15 tuổi bắn chết 4 học sinh cùng trường tại Oxford, Michigan.
Các nhà tâm lý xã hội cho biết hầu hết mọi người đều nghĩ tốt hơn, cao hơn về mình. 94% các giáo sư đại học đều nghĩ rằng họ ở trong mức đầu 10% của nghề. 70% các sinh viên năm thứ 4 đại học nghĩ rằng họ ở mức đầu 20% của số người luôn luôn sống hòa thuận với người khác. 99% người dự phần vào việc xác xuất này tin rằng thế giới này sẽ là nơi tốt đẹp hơn nếu mọi người đều sống theo luật vàng (Golden Rule), đối với người như mình muốn người đối với mình. Và 95% người đều tin rằng họ sống theo luật vàng. Nếu vậy thì thế giới này làm gì có chiến tranh, mọi người đều vui vẻ, hòa thuận, hiệp một với nhau; dĩ nhiên thực tế không như vậy.
