Đấng Làm Sạch Lương Tâm
“Sống sao cho khỏi thẹn với lương tâm mình” là câu nói chúng ta thường nghe mỗi khi nói đến tiêu chuẩn, đạo đức sống trong đời. Tiếng lương tâm không phải là tiếng nói riêng của một sắc dân, chủng tộc, giống người nhưng là tiếng nói của mọi ngtười sống dưới ánh mặt trời này. Dù ngôn ngữ có khác nhau, phong tục tập quán khác nhau, tiêu chuẩn sống khác nhau, con người trong mọi thời đại trong mọi nơi đều nghe tiếng lương tâm. Nói rằng mọi người đều nghe tiếng lương tâm không có nghĩa là mọi người đều nghe như nhau, hiểu như nhau. Tiếng lương tâm thay đổi theo từng cá nhân, từng hoàn cảnh sống, thậm chí theo thời gian và nơi sinh sống.
Di Tử Hà làm quan nước Vệ. Một đêm nghe tin mẹ đau nặng, Tử Hà lấy trộm xe vua về thăm mẹ, dầu biết làm như vậy sẽ bị án vua chặt chân. Nhưng khi vua Vệ hay tin, thầm nghĩ khen Tử Hà là người con chí nhiếu, thương mẹ đến nỗi không sợ vua chặt chân. Vua càng thêm lòng yêu mến Di Tử Hà. Rồi một hôm khác, Tử Hà cùng dạo chơi với vua trong vườn. Quan hái được trái đào, ăn ngon quá bèn trao cho vua. Vua thầm nghĩ, kehn: của đào ngon miệng mà biết nhường cho ta. Vua càng thêm lòng yêu Tử Hà. Chẳng lâu sau đó, Di Tử Hà làm điều phật ý vua Vệ. Vua nghĩ lại những việc cũ. Thật Tử Hà cả gan dám lấy xe vua đi, coi thường phép vua; rồi lại còn ngạo mạn trao cho vua trái đào đang ăn. Càng nghĩ càng ghét, vua bèn bắt Di Tử Hà trị tội. Cùng một người, một việc mà khi thì tiếng lương tâm bảo tốt nên yêu, khi thì tiếng lương tâm quở xấu nên ghét!
Chúng ta cũng nhớ đất nước văn minh như HK hôm nay mà vào năm 1865 Tòa Thượng Phẩm (Supreme Court) lại tuyên bố người da đen là một giống thấp hèn hơn người da trắng, chỉ là sở hữu chủ của người mua họ hay của chính quyền. Đây cũng là nguyên nhân đưa đến cuộc chiến đẩm máu Nam Bắc khiến hơn ½ triệu người bỏ mạng: vì vấn đề nô lệ. Có lẽ nào hằng triệu người miền Bắc nước HK lại nghe tiếng lương tâm bảo với họ rằng người da đen, người nô lệ cũng là anh em đồng loại như họ, chẳng qua chỉ khác màu da. Nhưng tiếng lương tâm của hằng triệu người miền Nam nước HK lại bảo với họ rằng người da đen chỉ đáng làm nô lệ! Cùng một đất nước, một văn hóa, một chủng tộc mà dân của hai miền lại nghe hai tiếng lương tâm khác nhau!
Ngày xưa chúng ta nghe nói Trai năm thê bảy thiếp. Gái chính chuyên chỉ có một chồng. Tại sao lương tâm các ông ngày xưa cho phép năm thê bảy thiếp mà lại bắt các bà chỉ có một chồng? Từ bao nhiêu ngàn năm qua khi con người lấy vợ, lấy chồng thì hôn nhân chỉ là giữa nam và nữ, nhưng hôm nay trên bao nhiêu quốc gia thế giới, cả HK, hôn nhân còn là giữa nam và nam, nữ và nữ! Rõ ràng là tiếng lương tâm trong thế kỷ 21 này về hôn nhân khác xa ngàn năm qua. Không chỉ vậy mà còn khác nhau giữa thế hệ trẻ và thế hệ “không trẻ” như hôm nay! Thế thì tiếng lương tâm không bất di, bất dịch, không tuyệt đối, toàn vẹn nhưng chúng ta thường nhầm nghĩ.
Từ lương trong lương tâm có nghĩa là lành hay tốt. Vậy nghĩa đơn giản nhất của lương tâm là lòng lành, lòng tốt, như lương nhân là người tốt, lương y là thầy thuốc tốt, lương duyên là hôn nhân tốt, hay lương thần là người bầy tôi tốt. Nhưng nếu nói rằng lương tâm là lòng tốt thì sự tốt này dựa vào tiêu chuẩn nào, của ai? Tại sao có bọn khủng bố mang bomb giết người, hay những kẻ dùng súng bắn chết học sinh vô tội mà vẫn bình thản, lại còn nghĩ họ làm điều chính đáng? Câu trả lời là bởi vì họ sống theo lương tâm chủ quan, tương đối của chính họ đặt ra chứ không theo tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối của ĐCT.
Tưởng tượng một đoàn đua xe đạp. Để thắng cuộc đua người chạy xe phải cần 3 điều chính sau đây: 1) xe tốt; 2) người lái giỏi; 3) chạy đúng luật đua. Thiếu một trong 3 điều này thì không thể thắng được. Nếu xe xẹp bánh, hư thắng thì người lái giỏi đến mấy cũng chịu thua! Xe tốt mà người lái muốn lái sau thì lái, (nghĩ sao lái vậy!) thì chỉ có gây tai nạn cho các xe chung quanh mà thôi. Nhưng dù xe tốt, người lái giỏi mà không chạy đúng theo luật đua thì dù đến đích đầu tiên vẫn không được công nhận là thắng. Người sống sao cho khỏi thẹn với lương tâm mình có thể được ví như một người chỉ chạy đua với chính họ, theo luật họ đặt ra, rồi tự họ quyết định rằng họ thắng cuộc. Dù xe có hư đến mấy, dù có lái ẫu đến mấy, thì vẫn thắng cuộc vì chính họ là người định ra luật thắng thua!
KT dạy ĐCT đặt lương tâm trong lòng mỗi người để con người nhận biết Chúa và để biết đúng sai, phải quấy: Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. 15 Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình. (Rô-ma 2:14-15).
Lương tâm là cái thắng tuyệt vời mà ĐCT ban cho con người để kềm hảm dục vọng và tội lỗi. Nhưng lương tâm không thể là tiêu chuẩn và nền tảng tuyệt đối của đạo đức cá nhân hay xã hội. Thắng xe dù có tốt đến mấy dùng mãi sẽ bị mòn. Lương tâm, để tự nhiên không được Chúa đổi mới, làm sạch, cũng sẽ mòn như thắng xe rồi sẽ dẫn đến tình trạng mà chúng ta gọi là thiếu lương tâm hay mất lương tâm.
Hiểu rõ điều này nên PL viết cho HT Cô-rinh-tô rằng dù lương tâm ông bảo không có gì sai quấy, nhưng không vì vậy mà ông vô tội: vì tôi chẳng thấy mình có điều gì đáng tội, nhưng tôi cũng không nhờ sự đó mà được xưng là công bình: Đấng xử đoán tôi, ấy là Chúa. (1 Cô-rinh-tô 22:4). Trái lại lương tâm con người có thể trở nên xấu xa, đen tối, độc ác: Đức Thánh Linh phán rõ ràng: Vào thời đại cuối cùng, sẽ có một số người chối bỏ đức tin, chú tâm vào các thần lừa dối và đạo lý của ác quỷ. 2 Họ là người đạo đức giả, nói dối, có lương tâm chai lì (1 Ti-mô-thê 4:1-2 – BDM).
Hay như trong đoạn KT tôi sẽ giảng hôm nay: Máu của dê đực, bò đực và tro bò cái tơ rảy trên những người ô uế còn có thể thánh hóa, tẩy sạch thân thể họ, 14huống chi máu của Chúa Cứu Thế lại càng có năng lực tẩy sạch lương tâm chúng ta khỏi hành vi tội lỗi, để chúng ta phụng sự Đức Chúa Trời hằng sống cách trong sạch. (Hê-bơ-rơ 9:13-14-BHĐ). Và Chúng ta cũng có một vị thượng tế vĩ đại được lập lên trên Nhà của Đức Chúa Trời, 22 nên chúng ta hãy đến gần Chúa với lòng chân thành, trong niềm tin vững chắc, tâm khảm đã được tẩy sạch khỏi lương tâm ác (xấu – BTT), thân thể đã tắm rửa bằng nước tinh sạch. (Hê-bơ-rơ 10:21-22 – BDM)
Cả 2 đoạn KT trong sách Hê-bơ-rơ đều viết về lương tâm cần được tẩy sạch hay làm cho sạch. Câu 14 tẩy sạch lương tâm chúng ta khỏi hành vi tội lỗi cũng có thể dịch như BTT, BDM và BD2011 làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết. Đây là những việc con người làm để lương tâm không lên án hay buộc tội. Dù thế nào thì KT cũng dạy rằng con người có vấn đề với lương tâm của chính mình và trước ĐCT.
Một tâm lý gia nổi tiếng nhất từ thế kỷ 19 đến nay tên Sigmund Freud, cha đẻ của môn phân tâm học (psychoanalysis). Không một sinh viên nào khi học môn tâm lý lại không nghe đến Freud cả. Freud lý luận rằng bản chất con người vốn ích kỷ, chú trọng vào cái tôi của mình hơn hết (nhận xét rất đúng như KT dạy). Nếu không kềm hảm thì con người sẽ giết nhau, xã hội sinh chiến tranh (đúng như thật tế lịch sử!) Ông cũng viết rằng mọi người đều mang mặc cảm tội lỗi của lương tâm vì sự ích kỷ, tham vọng cá nhân, những hành động hung bạo của mình. Mặc cảm tội lỗi là cái thắng kềm hãm, bảo vệ xã hội con người khỏi bị hủy diệt.
Hơn thế nữa Freud nhận xét mặc cảm tội lỗi này thấm sâu vào suy nghĩ, tâm trí con người như một vết đen ô nhơ mà không thể nào tẩy cho sạch được, như một gánh nặng, một cái ách, cái xiềng mà không cởi ra được, không thoát được. Nói cách khác hễ làm người, hễ còn sống là còn lương tâm còn mang mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi này chi phối hành động, suy nghĩ, thái độ trong đời sống, dù rõ ràng, công khai hay che đậy, giấu kín. Và cũng theo Freud thì người nào nói “không ai có thể làm cho tôi mang mặc cảm tội lỗi vì tôi có quyền tự quyết định đúng sai” là người tự dối chính mình. Tại sao? Vì dù có nói thế nào với mình thì lương tâm như lời KT dạy cũng sẽ cáo giác, lên án, buộc tội mình.
Qv có thể cho rằng sự định bệnh của Sigmund Freud về con người, về lương tâm con người không còn đúng trong hôm nay. Xã hội, hoàn cảnh hôm nay khác: con người không còn sống theo tiếng lương tâm nữa vì thích gì, muốn thì cứ làm vậy, sống vậy. Có phần đúng nhưng không đúng hẳn vì nếu tôi hỏi qv sáng nay: thành thật nhất qv có thể trả lời với nhau, với ĐCT rằng lương tâm qv hoàn toàn trong sạch trong suốt tuần lễ qua? Không hại người, check. Không lấy của người, check. Không nói dối, để xem lại. Không hề nghĩ xấu đến ai, khó nha! Có những việc, những ý nghĩ, những ham muốn, dự tính mà nếu dọi trên màn hình này thì tất cả đều bỏ chạy. Bỏ chạy không phải vì chính mình cũng như vậy!
ĐCT đặt để lương tâm trong mỗi chúng ta để ý thức 2 điều: 1) Có ĐCT và 2) Ý thức, phân biệt đúng sai, phải quấy. Nhưng KT còn dạy một điều quan trọng hơn nữa: Để con người biết mình có tội trước ĐCT thánh khiết và biết mình không thể nào làm cho mình sạch tội trước Chúa. Lương tâm chúng ta không phải chỉ mang mặc cảm tội lỗi nhưng nói rằng tôi là người có tội trước ĐCT, là Đấng đã ban cho tôi lương tâm, sự sống, Đấng đã tạo ra tôi.
Mỗi chúng ta đều có lúc phải đứng trước tòa án của lương tâm. Lương tâm lên án, buộc tội khi chúng ta phạm tội. Lương tâm khiến chúng ta ăn không ngon, ngủ không yên. Nó dày vò, đay nghiến, dằn vặt chúng ta khi thức giấc nửa khuya, khi nhìn thấy một cảnh vật quen thuộc, nghe một tiếng nói khi phạm tội. Tôi chắc rằng tất cả qv hiện diện đây đều có lần bị lương tâm lên án, buộc tội. Có người bị lương tâm dày vò, lên án đến nỗi muốn lánh mặt tất cả mọi người, đến nỗi trở nên điên loạn.
Một câu chuyện kể về đại văn hào Anh quốc Samuel Johnson. Khi còn trẻ tuổi cha ông có một quầy hàng bán rau cải, trái cây. Một thứ bảy cha ông gọi ông ra mở quầy hàng để bán và đứng đó để bán và thu tiền. Ông nói Dạ nhưng không làm. Vì vậy gia đình mất tiền trong ngày đó, còn rau cải phải bỏ đi. Mãi đến khi trưởng thành, SJ vẫn không thể quên lỗi lầm này, vẫn còn mặc cảm tội lỗi. Sau khi cha mất, một ngày trời mưa to, ông ra chính nơi mà cha mình đã có quầy hàng bán rau mà đứng đó dưới cơn mưa tầm tả trong suốt 2 tiếng đồng hồ.
Có thể một số qv đây không tin vào sự phán xét cuối cùng, không tin ma quỉ buộc tội qv trước ĐCT. Nhưng lương tâm là một bằng chứng của toàn án trong ngày phán xét cuối cùng. Mặc cảm tội lỗi mà không có nước nào, xà-bông nào, thuốc nào, rượu nào, thuốc nào có thể xóa khỏi tâm khảm là một bằng chứng của sự buộc tội trước ĐCT.
Mỗi người, mọi người trong sâu kín nhất của tâm hồn đều biết rằng tôi là người có tội, đã, đang và vẫn sẽ còn phạm tội. Khi nhận rằng tôi là người có tội có nghĩa là phải có một tiêu chuẩn, một luật pháp, một quan xét. Chỉ khi so sánh với tiêu chuẩn, luật pháp thì chúng ta mới biết tội hay không tội. Và nếu không có quan xét thì tại sao cái mặc cảm tội lỗi lại lên án chúng ta?
Tiểu thuyết Tội ác và hình phạt của nhà văn Nga Dostoevsky viết về cuộc chiến tranh nội tâm về đạo đức của một sinh viên hết sức nghèo khó tên Raskolnikov. Anh có một mơ tưởng tự cho mình là một người phi thường nhưng lại bị hoàn cảnh nghèo khó như xiềng gông trói lại. Khi nhìn thấy sự nghèo khổ của những người trong xóm toàn dân nghèo với bao cảnh đời lầm than, cùng quẫn không lối thoát, chàng sinh viên lý tưởng này trở nên căm uất về tình trạng bất công, phi nghĩa của xã hội và tìm kiếm lối thoát bằng sức lực của cá nhân mình. Những lý do đó đã khiến anh, trong một lần nọ, đã quyết định đến nhà một người đàn bà làm nghề cầm đồ là Alyona Ivanovna giàu nứt đố đổ vách, lạnh lùng lấy búa đập vỡ đầu bà rồi cướp tiền bạc, châu báu. Sau khi mở được két tiền, quay ra hắn gặp ngay em gái mụ cầm đồ, Elizabet. Vì quá hốt hoảng Raskolnikov vung búa đập chết luôn cô gái đó. Sau chín tháng dài ân hận dày vò, dằn vặt Raskonikov quyết định đến tòa tự thú. Xét thấy thần kinh của anh không ổn định, trước vành móng ngựa tòa miễn tội chết cho Raskolnikov và đày chàng biệt xứ ở Sibiria trong 8 năm khổ sai.
ĐẤNG DÙNG CHÍNH HUYẾT MÌNH ĐỂ CHUỘC TỘI MUÔN NGƯỜI
Tôi xin đọc mấy câu KT trong Hê-bơ-rơ 9:11-14 rồi sẽ giải thích Nhưng Đấng Christ đã hiện đến làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy. 12 Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời. 13 Vì nếu huyết của dê đực bò đực cùng tro bò cái tơ mà người ta rưới trên kẻ ô uế còn làm sạch được phần xác thịt họ và nên thánh thay, 14 huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!
Huyết dê đực hay bò con rảy trên người ô uế làm sạch về phần xác có nghĩa gì? Chúng ta phải trở lại KTCU sách Lê-vi-ký để hiểu điều này. Vì thời giờ giới hạn nên tôi chỉ nêu lên những ý chính KTCU theo sách Lê-vi-ký dạy về việc dâng của tế lễ thay tội. Trước hết huyết tượng trưng cho sự sống. Tội con người nặng đến nỗi phải chết, phải đổ huyết. Nhưng thay vì phải trả bằng chính mạng sống thì người đến với ĐCT có thể dùng các thú vật như dê, cừu, chiên, bò để đổ huyết thay cho mình, để thế tội cho mình. Và vì con người phạm tội mỗi ngày nên việc dùng huyết chiên cừu phải lập lại mỗi ngày để thế tội chết phải trả. Nhưng trước khi đến đền thờ để dâng của lễ, người đến phải hết sức cẩn thận để tránh cho mình khỏi bị ô uế. Không dơ bẩn, không có máu mủ, tinh khí trên người, không được đụng đến người chết. Danh sách những điều người đến dâng của lễ cho ĐCT rất dài. Qv có thể đọc trong Lê-vi-ký về danh sách rất dài về những điều ô uế, cấm kị khi đến thờ phượng.
Đây là biểu tượng của tội lỗi ô uế, dơ bẩn của con người và sự hoàn toàn thánh khiết của ĐCT. Đấng thánh khiết không thể chấp nhận loài ô uế, dơ bẩn. Như khi chúng ta tránh xa một người bị ghẻ lỡ hôi thối, hay mặc áo quần hôi thối, mình mẩy cả tuần không tắm dơ bẩn. Chúa gớm ghiết tội lỗi và những điều ô uế như người sạch ghớm sự dơ bẩn, hôi hám. Những luật pháp về sự thờ phượng trong CU nhắc cho dân Chúa rằng họ là người tội lỗi, dơ bẩn như áo nhớp khi đứng trước ĐCT thánh khiết, dù là để dâng của lễ bằng huyết chiên cừu chuộc tội chết cho mình.
Câu 12 dạy rằng ĐCJC không dùng huyết chiên cừu như dân chúng thời xưa nhưng dùng chính huyết Ngài để vào nơi chí thánh một lần và chuộc tội đời đời. Nơi chí thánh là nơi chỉ có người thầy tế lễ cả một năm một lần mới được vào để dâng của lễ chuộc tội cho cả dân tộc Y-sơ-ra-ên. Thầy tế lễ cả đại diện cho cả dân sự và dâng lễ chuộc tội cho cả dân sự. Đến nay người Do Thái vẫn còn kỷ niệm ngày lễ quan trọng này, gọi là Yom Kippur, hay là ngày lễ ăn năn và chuộc tội.
Một tuần trước ngày lễ (ngày người thầy tế lễ vào nơi thánh để dâng của lê chuộc tội cho toàn dân sự) thầy tế lễ cả phải biệt riêng, cô lập vì sự phải đụng vào những điều ô uế hay những người đụng đồ ô uế. Ông kiên ăn và cầu nguyện cả tuần xin Chúa tha tội và làm sạch lòng chuẩn bị vào gặp Chúa trong nơi chí thánh. Đêm trước ngày vào nơi chí thánh, ông thức cả đêm để cầu nguyện, và nhiều người khác cầu nguyện cùng ông và cho ông. Trong ngày đó, ông phải được tắm rửa sạch sẽ 3 lần và phải được thay đồ sạch sẽ nhiều lần với vải trắng, và với trang phục đặc biệt dành cho thầy tế lễ cả. Ngay cả các đồ lót cũng phải sạch sẽ hoàn toàn. Tất cả những luật lệ này cho thầy tế lễ cả nói lên tội lỗi nhơ nhớp của dân sự và sự thánh khiết hoàn toàn của ĐCT. Mỗi ngày dân sự phải tế lễ với huyết chiên cừu để chuộc tội cho mình; mỗi năm thầy tế le cả đại diện cho toàn dân sự vào nơi chí thánh để dâng của tế lễ với huyết để xin chuộc tội cho cả dân sự. Đó là ý của phần đầu câu 12.
Nhưng khác với những thầy tế lễ cả ngày xưa, DDCT không dùng huyết chiên cừu nhưng dùng chính huyết mình để làm của chuộc tội cho toàn cả nhân loại. Không phải mỗi năm nhưng chỉ một lần dùng chính huyết Ngài mà bước vào nơi chí thánh một lần đủ cả và được sự chuộc tội đời đời.
Đây chính là lý do mà tiên tri Xa-cha-ri vô cùng sốc khi nhận được khải tượng trong giấc mơ từ ĐCT. Trong giấc mơ, khải tượng đó ông viết: CHÚA cho tôi thấy thượng tế Giô-suê đứng chầu trước mặt thiên sứ của CHÚA, và Sa-tan đứng bên phải ông để buộc tội ông. 2 CHÚA bảo Sa-tan: "Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi! Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa?" 3 Giô-suê mặc quần áo bẩn thỉu, đứng chầu trước mặt thiên sứ (3:1-3 – BDM)
Trong khải tượng này tiên tri Xa-cha-ri thấy 3 nhân vật như trong một tòa án: thầy tế lễ cả Giô-suê (Giê-hô-sua theo bản cũ) là kẻ bị cáo (bị buộc tội), thiên sứ là người bào chửa như luật sư bênh vực cho kẻ bị cáo, và Sa-tan là kẻ cáo tội. Một số nhà giải kinh thánh thì cho rằng thiên sứ ĐGHV chính là ĐCJC trước khi Ngài hiện thân làm người, là Ngôi Hai ĐCT.
Trong tòa án này, thầy tế lễ G. đứng trước thiên sứ mặc áo dơ bẩn (chứ không phải quần áo như BDM) còn Sa-tan thì đứng bên phải G. để buộc tội ông. Trước hết thầy tế lễ là người đại diện cho dân sự Y-sơ-ra-ên, tức là dân tuyển, trước ĐCT. Vậy hình ảnh G. trước Chúa là tượng trưng cho hình ảnh của tất cả dân sự đứng trước Chúa, tôi và qv. G. chính là qv. Chính qv và tôi đứng trước ĐCT mặc áo bẩn thỉu.
Theo học giả KT Merrill Unger thì từ bẩn thỉu có thể dịch là như dính phân. Nên không những bẩn thỉu mà còn hôi thối, đáng tởm. Tôi nhớ hồi còn ở trại tị nạn phải cất nhà gần một hố lớn nơi dân chúng đi tiêu tiểu. Cái hồ hôi thối, đầy dòi bò trắng xóa, ruồi bay đặt đen cả một vùng. Khi ăn ruồi bay phủ đầy chén.
Hình ảnh áo dơ bẩn tượng trưng cho tội lỗi nhơ nhớp, bẩn thỉu, ghê tởm của chúng ta. Áo dơ bẩn tượng trưng cho tội lỗi, tội lỗi của dân sự, của tôi, của qv trước Chúa. Đây là một hình ảnh hết sức rõ ràng, cụ thể về tội lỗi như lời KT viết: Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi. (Ê-sai 64:6)
Không ai có thể đứng trước Chúa và được chấp nhận khi đầy dẫy tội lỗi nhơ nhớp. Và trong khải tượng này, thầy tế lễ G. mặc áo dơ bẩn đứng trước ĐCT như trong một quan tòa xử mà Sa-tan là kẻ lên án, buộc tội. Từ Sa-tan có nghĩa là kẻ buộc tội, lên án. Và đây là điều nó làm ngày đêm, lên án tội nhân trước ĐCT là quan xét. Sách KH 12:9-10 viết: Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó. 10 Tôi lại nghe trên trời có tiếng lớn rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, và nước Đức Chúa Trời chúng ta đã đến cùng quyền phép của Đấng Christ Ngài nữa; vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, nay đã bị quăng xuống rồi.
MS Warren Wiersbe viết thế này về sự buộc tội của Sa-tan: Khi nó nói về ĐCT cho chúng ta thì nó nói dối, nhưng khi nói về chúng ta cho ĐCT thì nó nói thật! Có nghĩa là ma quỉ nói dối về ĐCT để chúng ta không biết, hiểu và tin Chúa. Nhưng khi nó cáo tội chúng ta thì nó nói đúng như sự thật là mỗi chúng ta đều phạm tội cùng ĐCT, đều mặc áo bẩn thỉu.
PL viết: Vì khi các dân ngoại, những người không có Luật Pháp, theo bản năng tự nhiên đã làm những điều Luật Pháp dạy bảo thì chính những người đó, dù không có Luật Pháp, là luật pháp cho họ rồi. 15 Họ đã chứng tỏ rằng những gì Luật Pháp đòi hỏi đã được khắc ghi trong lòng họ, và lương tâm họ cũng làm chứng cho điều đó, vì những tư tưởng của họ cứ xung đột nhau bên trong, khi thì cáo trách, khi thì binh vực họ. 16 Ðiều ấy sẽ thể hiện rõ trong ngày Ðức Chúa Trời, qua Ðức Chúa Jesus Christ, phán xét mọi tư tưởng thầm kín của con người, theo Tin Mừng tôi rao giảng. (Rô-ma 2:14-16 - BD2011)
Nhưng lương tâm cũng như một bố thắng xe. Khi đã mòn thì dù có đạp thắng sâu đến mấy xe vẫn tiếp tục chạy. Lạm dụng thắng thì nó sẽ trở nên mòn đến nỗi vô dụng. Tác giả của chuyện Hành trình vào vĩnh cửu (Pilgrim progress) là John Bunyan có viết một quyển sách tựa là Cuộc thánh chiến (Holy War). Chuyện viết về một thành phố tên là Mansoul (linh hồn con người) có một người giữ thành trên tường cao. Người giữ thành tượng trưng cho lương tâm và nhiệm vụ là phải báo động khi thành bị nguy hiểm. Nhưng ma quỉ, Sa-tan đầu độc người giữ thành. Theo chuyện thì chất độc không giết người giữ thành nhưng khiến ông điên loạn. Khi nguy hiểm thì lại làm thinh, nhưng khi bình yên thì lại kêu rống lên như nguy hiểm đang xảy đến!
Lương tâm của bao nhiêu người trong xã hội hôm nay cũng bị đầu độc bởi ma quỉ khiến cho điên loạn đến nỗi nhầm lẫn tội lỗi với đạo đức và đạo đức với tội lỗi. Như hôm nay bao nhiêu điều mà trước kia xem là tội lỗi thì nay xem là đạo đức như hôn nhân giữa người đồng tính hay như định nghĩa của giới tính linh động (gender fluidity). Thậm chí thuốc độc của ma quỉ giết chết cả lương tâm con người khiến cho họ không còn áy náy, do dự, đắng đo khi phạm tội!
Cảm tạ Chúa là khi ma quỉ hay lương tâm lên án, buộc tội thì người tin Chúa có ĐCJC như một Luật sư cao cả, một Đấng bào chửa, bênh vực thay: CHÚA bảo Sa-tan: "Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi! Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa? (3:2). Câu 2 cho thấy rõ rằng trong KTCU lời dạy về sự chọn lựa của ĐCT cho người được cứu cũng đã được viết rõ: Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi. ĐCT chọn dân Y-sơ-ra-ên không phải bởi vì họ tốt hơn các dân tộc khác nhưng chỉ bởi ân điển, bởi tình yêu thương của Ngài nên họ không thể khoe khoan vì việc họ làm.
Đây chính là ý của lời PL viết trong Ê-phê-sô 2:4-5: Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, 5 nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu. Và 2:8-9: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình
Cũng chính vì ĐCJC, Đấng biện hộ này mà PL có thể viết trong Rô-ma 8:1 Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt [buộc tội, kết án] nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ và trong 8:33-35: Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. 34 Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. 35 Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ?
Thiên sứ, ĐCJC, Đấng biện hộ cũng nói với Sa-tan: Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa? (3:3) Có nghĩa là Chúa cứu dân Ngài, cứu những người tin nhận ĐCJC đang khi còn có tội như que củi đang cháy. Được kéo ra khỏi lửa có nghĩa là được tha tội. Nhưng hình ảnh que củi đang cháy được kéo ra khỏi lửa còn có nghĩa là que củi đó dù không còn trong lửa để bị cháy rụi (đã được tha tội) nhưng khi được kéo ra thì vẫn còn mang phần đã bị cháy đen dơ bẩn vì lửa, là than đen, vẫn còn mang dấu tích và hậu quả đen đuối của tội lỗi. Được cứu, không còn phải mặc cảm tội lỗi nhưng vẫn còn dấu tích, hậu quả của tội. Kéo ra khỏi lửa có nghĩa là không còn bị buộc tội nhưng dấu than đen của tội lỗi vẫn còn đó. Dấu than đen này cho biết là người tin Chúa dù đã được cứu khỏi lửa, không còn bị buộc tội, nhưng vết tích tội lỗi, tội lỗi vẫn còn đó. Người tin Chúa có còn mau nóng giận không? Còn thờ ơ trước lời dạy KT không? Dĩ nhiên là có, như than cháy vẫn còn trên que củi sau khi được rút ra khỏi lửa.
Không chỉ vậy mà thiên sứ còn phán: Thiên sứ của CHÚA bảo các thiên sứ hầu cận: "Xem này, Ta đã cất bỏ tội ác của con, và cho con mặc quần áo tinh sạch." (3:4 – BDM) Chỉ có áo chứ không phải là quần áo. Kéo que củi đang cháy ra khỏi lửa nói lên sự cứu chuộc. Việc mặc áo tinh sách cho biết người trong Chúa không chỉ được cứu (kéo khỏi lửa) nhưng còn được mặc áo công chính của ĐCJC. Chỉ sau khi được mặc áo công chính của ĐCJC người tin Chúa mới được xưng là công bình qua sự công chính, tinh sạch tuyệt đối của áo Chúa ban cho.
Đúng y như PL viết vài trăm năm sau đó: Còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, [làm cho trở nên công chính] và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. 31 Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? (Rô-ma 8:30). ĐCJC không chỉ cứu chúng ta ra khỏi lửa tội lỗi mà còn mặc cho áo công chính của chính Ngài. Có nghĩa là sự công chính của ĐCJC bây giờ đã được chuyển nhượng sang kẻ trước là tội nhân. Khi ĐCT nhìn những người tin nhận ĐCJC Ngài không còn nhìn thấy áo bẩn thỉu mà là áo tinh sạch.
Cách đây hơn 50 năm, nhà văn Duyên Anh có viết một tiểu thuyết tự là Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang. Nhân vật chính trong chuyện có tên là Hoàng và vì chơi guitar giỏi nên được gọi là Hoàng guitar. Hoàng có địa vị cao trong một băng du đãng , sau đó muốn hoàn lương, về mở lớp dạy đàn, nhưng đồng bọn vẫn muốn kéo anh vào những việc bất lương. Ngày cuối vì mong có điều kiện xây dựng tương lai hạnh phúc, anh đã nhận lời làm một phi vụ cuối cùng và bị lộ. Những phát đạn oan nghiệt cắm sâu vào lưng Hoàng như những vết thù đời không bao giờ xoá được và cũng chấm dứt kiếp ngựa hoang. Ý của chuyện là dù một người muốn thoát khỏi vòng tội lỗi nhưng xã hội, con người tội lỗi vẫn không buông tha. Một khi đã phạm tội thì tội vẫn mãi đeo đuổi và giết chết kẻ tội phạm. Nhưng nếu trong chuyện có một người yêu mến Hoàng để nỗi chịu nhận viên đạn bắn đó thì Hoàng sẽ sống.
Cám ơn Chúa vì ĐCJC là Đấng đã chịu nhận viên đạn kết liễu đời đó cho những người tin nhận Ngài dù đang khi họ vẫn còn phạm tội. Kẻ tội phạm mặc áo dơ bẩn trước ĐCT thánh khiết được ĐCJC biện hộ, bào chửa rằng kẻ tội này đã được cứu chuộc ra khỏi lửa tội lỗi và đã được mặc lấy áo trắng tinh, công chính của Đấng vô tội đã chết để chuộc tội. Khi ĐCT là quan án xét phạt kẻ phạm tội về tội của họ, thì ĐCJC sẽ nói: chính Con đã chịu chết, đổ huyết trên thập giá để làm giá trả cho tội của họ, nên Cha hãy tha bổng cho họ.
Đây là ý nghĩa của câu KT mà tiên tri Ê-sai đã viết gần 300 trăm năm trước đó: Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. 6 Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. (Ê-sai 53:5-6) Và của sứ đồ PL viết hơn 500 năm sau đó: Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 5:21)
Chưa hết. Cao điểm của câu chuyện là trong câu 5: Tôi nói: "Xin Ngài bảo họ đội mũ miện tinh sạch cho ông." Và họ đội mũ miện tinh sạch lên đầu ông. Vậy họ trang phục cho ông trong khi thiên sứ của CHÚA đứng cạnh bên. Sách XEDTK 28:35-38 viết: A-rôn phải mặc áo này mỗi khi thi hành chức vụ. Người ta sẽ nghe tiếng chuông vàng mỗi khi A-rôn vào Nơi Thánh trước sự hiện diện của CHÚA, và khi ra khỏi nơi này để người khỏi phải chết. 36 Làm một cái thẻ bằng vàng ròng, và khắc trên thẻ như cách khắc con dấu "Thánh cho CHÚA". 37 Dùng dây mầu xanh buộc thẻ vào khăn đội đầu, ngay ở phía trước khăn. 38 Thẻ sẽ ở trên trán A-rôn và người sẽ mang lấy tội của dân Y-sơ-ra-ên, khi họ dâng tế lễ thánh, bất cứ loại của lễ nào. Thẻ sẽ thường trực ở trên trán A-rôn để của lễ được CHÚA chấp nhận
Và 39:30-31 Họ làm một bông hoa, một biệt hiệu thánh bằng vàng ròng và khắc trên đó như khắc dấu ấn dòng chữ: THÁNH CHO CHÚA. 31 Rồi họ dùng dây mầu xanh buộc thẻ vào khăn đội đầu, đúng theo mạng lệnh CHÚA đã truyền cho Môi-se.
THÁNH CHO CHÚA! Kẻ mặc áo bẩn thỉu, hôi thối trước Đấng hoàn toàn thánh khiết được cứu khỏi tội, được mặc áo trắng công chính và còn lại được đội mũ miện tinh sạch trên đó có chữ viết THÁNH CHO CHÚA. Đến giờ chúng ta mới có thể hiểu hết được ý nghĩa và giá trị của lời PL viết: Còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, [làm cho trở nên công chính] và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển (Rô-ma 8:30)
Có tôn giáo này, triết lý nào đem lại niềm hy vọng, an ủi vô cùng như vầy cho kẻ phạm trọng tội đáng chết.
