Đấng Đầy Ơn và Lẽ Thật
Tại quốc gia HK nơi chúng ta đang sinh sống, sau lễ Tạ Ơn và bắt đầu tháng 12, cả nước bắt đầu mùa lễ GS. Các HT ráo riết trang trí cho cơ sở, sảnh đường thờ phượng, tập dượt phần âm nhạc, hoạt cảnh… Cá nhân, gia đình ráo riết mua sắm quà cáp, treo các dây đèn, dựng cây giáng sinh… Những bận rộn với các hoạt động này có thể khiến người tin Chúa quên đi ý ghĩa thật sự của GS.
Một câu KT giải thích rõ nhất về ý nghĩa của GS là Giăng 1:14: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha. (Giăng 1:14). Ngôi Lời chính là ĐCJC. Trọng tâm bài giảng hôm nay là về ân điển, phần đầu tiên khi Giăng nói về Ngôi Lời: đầy ơn và lẽ thật.
Sự giáng sinh của ĐCJC là bằng chứng cụ thể nhất, quí báu nhất về ân điển của ĐCT cho nhân loại. Ân điển là gì? Là món quà quí báu mà người nhận không đáng được nhận. 2 người cùng làm 1 việc như nhau. 1 người làm rất giỏi, người kia làm rất dỡ. Đến khi lên lương, không ai ngạc nhiên khi người giỏi được nhận nhiều. Điều đó chỉ là công bằng. Ân điển là khi người làm rất dỡ mà vẫn được tăng lương cao. [Liên hệ đến ngụ ngôn ĐCJC kể về người làm công trong vườn nho (Ma-thi-ơ 20:1-16). Người được mướn lúc 9am, 12pm, 3pm, 5pm cùng nhận một đồng đơ-ni-ê]
GS cũng là ứng nghiệm của lời hứa về sự cứu rỗi từ hàng ngàn năm trước đó đã được ghi lại trong KTCU. Sự cứu rỗi sẽ đến từ một Đấng Mê-si, Đấng được xức dầu, được chọn. Đầu tiên là lời hứa với A-đam & E-va ngay sau khi phạm tội trong vườn Ê-đen. Sau đó các lời hứa Đấng Cứu Tinh cùng rất nhiều nhân vật chính yếu trong KTCU trong suốt gần 2000 năm. Và những nhân vật chính yếu từ Áp-ra-ham cho đến Jesus Christ được ghi lại trong 2 gia phổ theo Ma-thi-ơ và Lu-ca.
Một trong những bày tỏ cụ thể nhất về ân điển của Đấng tràn đầy ân điển và lẽ thật là gia phả ĐCJC theo Ma-thi-ơ 1:1-6, 12-17. Qua gia phổ của ĐCJC theo PA Ma-thi-ơ, chúng ta nhận biết rõ về ân điển vô cùng lớn lao, quí báu của ĐCT cho loài người. Ân điển đó là sự cứu rỗi không chỉ là món quà ban cho từ ĐCT nhưng còn là món quà cho những người hoàn toàn không đáng nhận lãnh. Định nghĩa của ân điển được ghi lại qua chính lời dạy của ĐCJC: ĐCJ phán cùng họ rằng: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm. Ta không phải đến gọi kẻ công bình hối cải, song gọi kẻ có tội. (Lu-ca 5:31-32)
Giả sử hôm nay là lần đầu tiên qv đến thờ phượng với hội thánh. Trước đó qv chưa bao giờ nghe về kinh thánh, tin lành, chưa bao giờ có một người bạn Cơ Đốc (Christian). Khi vào, không ai tiếp đón, chỉ lấy mắt nghi ngờ nhìn rồi bỏ đi. Không ai ngồi gần, người hướng dẫn chương trình không hề giới thiệu. Trong bài giảng, mục sư giảng về câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành khi người ta hỏi Chúa, “láng giềng tôi là ai?” Sau buổi nhóm có buổi ăn thông công nhưng không ai đến mời ở lại dự bửa. Qv sẽ có ấn tượng, suy nghĩ gì về hội thánh, về người trong hội thánh, về kinh thánh? Qv nghĩ có thể trở lại nhóm với hội thánh lần nữa không? Chắc chắn là không. Dù mục sư có giảng đúng KT đến mấy thì qv chắc chắn cũng sẽ không đến. Tại sao? Vì thiếu tình người, tình đồng hương, nói chi đến tình yêu thương, thiếu lòng chân thành, thiếu sự chân thật, thiếu sự nhân hậu. Nói về lòng nhân từ trong KT nhưng chẳng một người thực sự hành động. Đạo đức giả tạo, chỉ vẻ bề ngoài nhưng bên trong lại hoàn toàn khác.
Không ai muốn nghe sự thật nếu bày tỏ thiếu tình cảm, nhân hậu.
Giả sử qv đang trong cảnh khó khăn thiếu tiền trả appt, không nói rành tiếng Anh, chưa có việc làm. Một ngày, chứng nhân Giê-hô-va đến gõ cửa rồi làm chứng về đạo. Khi biết qv thiếu tiền, chưa có việc, người đó hết lòng, hết sức giúp qv. Sau khi đứng vững rồi, qv nghĩ muốn theo đạo nào?
Sự thật không ân điển, lòng nhân từ, chân thành rất khó mà tin, không thể tin được. Thậm chí có thể trở nên tàn nhẫn, độc ác. Nhưng lòng thành, nhân từ không có sự thật thì thật vô nghĩa; có thể trở nên nguy hiểm. Ân điển, ân hậu bắt cầu quan hệ vững chắc đến nỗi có thể chịu được sức nặng của sự thật. Bởi vì thuốc đắng giả tật, nên mỗi lần uống than thuốc đắng, cần trái táo ngọt. Vì sự thật mất lòng, nên phải nói trong tình yêu thương, với lòng nhân từ.
Quân bình được ân điển và lẽ thật rất khó. Có người quá chú tâm vào sự thật bất chấp cả tình cảm. Có người chỉ biết có tình cảm mà không màng đến sự thật. Nhưng trong ĐCJC ân điển và lẽ thật hiện diện cách trọn vẹn nhất, quân bình nhất, toàn mỹ nhất.
ĐCJC là Đấng đầy ơn (ân điển, grace) và lẽ thật (truth). Chúa không chỉ có lòng nhân từ, yêu thương mà không có sự thật; hay chỉ có sự thật mà thiếu sự nhân từ. Trong ĐCJC cả hai đức tính này hiện diện và hòa hiệp với nhau.
Qv có thể hỏi: ân điển và lẽ thật, điều nào quan trọng hơn, cần thiết hơn? Câu trả lời: cả hai đều quan trọng, đều cần thiết, cả hai đều phải hiện diện trong đời sống tín đồ trưởng thành trong Chúa. Họ hiểu biết lẽ thật nhưng bày tỏ với lòng yêu thương, với sự kiên nhẩn, thậm chí nhịn nhục. Người thiếu trưởng thành nghĩ rằng hiểu rõ KT không quan trọng bằng tình cảm: chỉ cần thông công vui vẻ, tay bắt mặt mừng là đủ rồi; hay dùng lẽ thật như một cây to giáng lên người nghe, và nếu không nghe thì càng đánh mạnh.
Người trưởng thành học đòi theo Chúa và dưới sự hướng dẫn của ĐTL sáng suốt nhận biết đối tượng, hoàn cảnh, thời điểm để dung hòa, quân bình giữa ân điển và lẽ thật. Gương của chúng ta là ĐCJC: Chúa không đối với mọi người giống như nhau nhưng tùy từng người (dù là những người bệnh, phụ nữ, Pha-ri-si, thầy thông giáo, môn đồ…) Chúa biết nhu cầu của người đối diện và bày tỏ ân điển và lẽ thật cách thích hợp.
THỂ HIỆN CỦA ÂN ĐIỂN CHÚA
Gia phả hay gia phổ là bản ghi chép lại danh sách của ông bà tổ tiên một người, một dòng họ theo thứ tự thời gian. Thời đó gia phả có thể được xem như lý lịch cá nhân của một người vì khi đọc có thể biết được nguồn gốc, dòng họ của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Gia phả cho biết về dòng dõi người đó. Cho biết gốc gác, thân thế của ông bà, cha mẹ họ và cho biết về họ.
Đối với dân Ỵ gia phổ còn quan trọng hơn là chi tiết về thân thế một người. Đọc sách Ru-tơ chúng ta biết dựa theo dòng họ mà Bô-ô mới có thể chuộc lại đất cho con trai bà Na-ô-mi. Để có thể chuyển nhượng thẩm quyền của đất đai, mua bán đất đai, người ta phải chứng minh họ là con cháu của chủ đất qua gia phổ. Gia phổ cũng quyết định cho việc kiểm tra dân số như Giô-sép & Ma-ri dù ở làng Na-xa-rét phải đi đến làng Bết-lê-hem cho việc kiểm tra dân số vì thuộc về dòng Đa-vít.
Quan trọng hơn nữa, gia phổ xác nhận một người có thuộc về dòng dõi vua chúa, hoàng tộc, hay thuộc dòng thầy tế lễ hay không. Một câu KT trong sách Ê-xơ-ra giải thích rất rõ điều kiện của một người được chọn làm thầy tế lễ phải chứng minh bằng gia phổ: Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được nên người ta kể họ là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ. (Exo 2:62 - BHĐ).
Mục đích chính Ma-thi-ơ và Lu-ca ghi lại gia phổ ĐCJC là để chứng minh rằng Ngài chính là Đấng Mê-si thuộc dòng vua Đa-vít. Tôi xin dùng vài phút để giải thích vài điểm khác biệt quan trọng giữa 2 gia phổ theo M & L.
Gia phổ theo M. bắt đầu từ Áp-ra-ham cho đến Giô-sép, tức từ quá khứ đến hiện tại. Gia phổ theo L. bắt đầu từ Giô-sép đến A-đam tức từ hiện tại trở ngược thời gian về quá khứ.
L. nêu lên 77 tên trong gia phổ. M 42 tên. Bởi vì gia phổ theo L. trở ngược lại đến A-đam nên có thêm một số tên từ A-đam đến Áp-ra-ham. Giữa Áp-ra-ham đến Đa-vít, cả 2 gia phổ đều có cùng tên. Từ Đa-vít đến Giô-sép/Ma-ri, các tên hoàn toàn khác nhau.
Theo nhiều học giả KT thì M. ghi lại gia phổ theo dòng Giô-sép tức theo dòng họ cha, L. theo dòng Ma-ri, tức theo dòng họ mẹ. Giô-sép thuộc dòng dõi Sô-lô-môn, con trai đầu của Đa-vít & Bát-sê-ba. Ma-ri thuộc dòng Na-than, con trai thứ ba của Đ. & B.
Tuy nhiên cả hai gia phổ xác nhận rằng dù theo dòng họ cha hay mẹ, Jesus chính thật là hậu tự của vua Đa-vít.
Cả hai gia phổ xác nhận sự thụ thai mầu nhiệm của ĐCJC bởi ĐTL. Theo pháp lý ĐCJC là con Giô-sép nhưng về thể xác Ngài là con thụ thai bởi ĐTL. Gia-cốp sanh Giô-sép là chồng Ma-ri; Ma-ri là người sanh Đức Chúa Jêsus, gọi là Christ. (Ma-thi-ơ 1:16) Theo người ta tin thì Ngài là con Giô-sép (Lu-ca 3:23). Một điều đáng chú ý là L. chủ ý ghi lại câu chuyện báp-tem của ĐCJC trước gia phổ. Mục đích là để xác nhận ĐCJC chính là Ngôi Hai ĐCT được chính ĐCCha xác nhận là Ngài là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Cha hoàn toàn. Nhưng ĐCJC cũng chính là hậu tự của Đa-vít như tiên tri CU đã viết. Như lời một bài thánh ca GS viết: dẫu Chúa có hình thể như ta, vẫn chiếu sáng thần thánh như Cha.
Gia phả cho biết về dòng dõi người đó, cho biết gốc gác, thân thế của ông bà, cha mẹ họ và cho biết về họ. Vì vậy không ai muốn có một gia phả có vết bẩn, vết dơ, vết xấu cả. Gia đình nổi tiếng lại càng gìn giữ mặt mũi, không muốn bất cứ người ngoài nào biết điều không hay, không tốt về gia đình mình:
Câu chuyện về bà Rosemary Kennedy trong quyển sách mới ra. Bài viết từ báo WSJ có tựa là “The Saddest Story Ever Told”. Cô là người con thứ ba trong gia đình chín anh chị em thuộc một gia đình hết sức nổi tiếng. Cha là triệu phú; anh là tổng thống, thượng nghị sĩ, bộ trưởng tư pháp… Trí tuệ chậm phát triển, trong tuổi thành niên mà suy nghĩ như trẻ em 9 tuổi, nhưng khỏe mạnh, vui vẻ, đầy sức sống. Khi 19 tuổi, cha được bổ nhiệm làm đại sứ HK tại Anh quốc. Năm 22 tuổi trong một lần nghĩ hè cô tỏ sự bạo động, đánh các anh chị em khi giận. Một lần người ta tìm thấy cô lang thang trên đường phố thủ đô DC lúc 2:00am. Để tránh sự xấu hổ cho gia đình nên năm cô 23 tuổi, cha quyết định để bác sĩ làm phẩu thuật lobotomy (cắt một phần não bộ để làm cho người bệnh tâm thần dịu lại!) Cuộc giải phẩu hoàn toàn thất bại, khiến cho cô không nói được và không đi được. Sau một thời gian vật lý trị liệu cô hồi phục việc đi đứng nhưng vẫn còn khuyết tật (đi với chân bẻ ra ngoài) và có thể nói vài chữ. Cô không thể tự chăm sóc mình mà cần người thường xuyên chăm nom. Cô được chuyển vào một tu viện năm cô 30 tuổi và ở đó 56 năm! Người mẹ tên Rose không hề một lần đến thăm con gái mình trong 20 năm. Chỉ một lần khi đến một phi trường gần tu viện, người mẹ gọi các nữ tu đem con gái mình ra phi trường để gặp. Khi bà Rose tiến đến để ôm thì Rosemary gào thét và đấm vào ngực người mẹ đã bỏ mình trong suốt 20 năm dài. Bà Rosemary mất lúc 86 tuổi như một người hoàn toàn tàn phế!
Một nhân vật trong câu chuyện giáng sinh là vua Hê-rốt, người giết các con trẻ sau khi biết các học sĩ Đông Phương không cho biết con trẻ mới sinh tại đâu. Sử gia không hề biết rõ về gia phả của hắn vì hắn thường sửa đổi chi tiết. Bỏ tên những người làm những việc không tốt hay có tiếng tăm không tốt và thêm vào tên những người (dù không phải là thân thích) hắn nghĩ làm cho lý lịch nổi bật.
Điều này cũng không khác mấy với người làm lý lịch xin việc làm hôm nay. Khi làm lý lịch để xin việc làm ai cũng muốn viết về những chi tiết nổi bật nhất như tốt nghiệp trường này trường nọ. Nhưng nếu khi học trường A bị đuổi phải học trường B thì không ai muốn ghi trong lý lịch về điều này cả.
Nhưng trong gia phả ĐCJC có ba điều thật lạ lùng, kinh ngạc, không thể ngờ được.
Thứ nhất, gia phả có tên những người phụ nữ. Ngày xưa, gia phả thường không có tên phụ nữ. Tại sao? Rất đơn giản: vì phụ nữ không cùng vai vế với nam giới, thấp hơn nam giới. Thử xem bên Trung Quốc hay Đại Hàn là biết rõ về điều này: trọng nam, khinh nữ! Ngay cả một số nước hồi giáo hôm nay vẫn xem phụ nữ chỉ có giá trị 1/2 nam giới!
Thứ hai, gia phả Chúa có tên dân ngoại, gồm giống dân bị khinh bỉ như người Mô-áp, Ca-na-in. Ai? Tha-ma (người Ca-na-in), Ra-hab (Ca-na-in), Ru-tơ (Mô-áp). Những dân này cấm không được vào vòng sân thứ nhất của đền thờ, nhưng lại có tên trong gia phả Đấng Mê-si?
Con ngoại tình không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng vào được. 3 Dân Am-môn và dân Mô-áp sẽ không được phép vào hội Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng hề bao giờ vào được (PTLLK 23:1-3)
Thứ ba, gia phả Chúa có tên những người xấu nết đạo đức. Ra-háp là người kỵ nữ bán thân. Có thể nào Ma-thi-ơ không biết hay hiểu lầm? Tha-ma có con với cha chồng! Chú ý Ma-thi-ơ nêu tên hai người con của Giu-đa và Tha-ma là Pha-rê và Xa-ra. Lý do? Chủ ý nhắc lại quan hệ loạn luân này! Bát-sê-ba tà dâm cùng Đa-vít và sinh ra Sô-lô-môn. Tổ tiên ĐCJC gồm những người sinh ra bởi những quan hệ tội lỗi, không đạo đức. Qv có muốn trong gia phổ có bà cố, bà sơ là kỹ nữ hay ăn ở với cha chồng, hay phạm tội tà dâm rồi sinh ra ông ngoại không? Dĩ nhiên không, trăm ngàn lần không.
Cũng chú ý ĐCJC thuộc dòng dõi Gia-cốp, là người nắm gót chân anh mình, người thủ đoạn gạt anh và cha để lấy quyền trưởng nam. Và dòng dõi Giu-đa ăn ở cùng con dâu! Thay vì thuộc dòng dõi Giô-sép là người chân chính, đạo đức, thủ tướng xứ Ai-cập, người cứu cả dòng họ, gia đình, cha anh.
Chúa cũng không thuộc dòng hoàng gia như giữa Đa-vít và con gái vua Sau-lơ là Mi-canh nhưng lại là con cháu từ một vụ tà dâm giữa Đa-vít và Bát-sê-ba.
Hãy dừng lại và suy nghĩ. Quả thật đây là những điều hết sức ngạc nhiên, kinh ngạc. No way. Chắc Ma-thi-ơ ghi lộn rồi, hay ma quỉ xúi Ma-thi-ơ ghi lại những nhân vật xấu xa này trong gia phả Chúa? Mỗi nhân vật đã nêu lên theo luật pháp Mô-se đều bị đuổi ra khỏi sự hiện diện của ĐCT, bị xử chết. Loạn luân. Tà dâm. Bán thân. Hãy đọc PTLLK 22, 23, Lê-vi-ký 18 sẽ biết hậu quả của những tội này.
Theo luật pháp Mô-se không một người nào trong số này được vào sân đền thờ, nói chi đến bên trong đền thờ, nói chi đến được gặp ĐCT thánh khiết. Nhưng qua ĐCJC những người này giờ được vào trong nhà Chúa.
Chú ý gia phả khi nói về Sô-lô-môn, Đa-vít bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn (1:6). Vợ của U-ri, chớ không phải vợ của Đa-vít. Hai điều: 1) Dù là vua có thể chiếm vợ người, nhưng dưới mắt ĐCT Bát-sê-ba vẫn là vợ của U-ri [kể chuyện U-ri], 2) Sa-lô-môn, vị vua khôn ngoan nhất, giàu có nhất là con của một quan hệ tà dâm (như khi viết về Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra).
Đa-vít là vị vua nổi bật nhất trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Là người có công thống nhất đất nước. Anh hùng dân tộc từ lúc còn trẻ tuổi. Người được ĐCT gọi là người làm vừa lòng Chúa. Nếu trong dòng dõi gia phả ĐCJC hy vọng lớn nhất để chuộc lại những vết nhơ trước đó từ Tha-ma, Ra-háp chính là Đa-vít. Nhưng ngay cả Đa-vít cũng phạm tội tày trời, và Sa-lô-môn là kết quả của tội tà dâm.
Trong số 19 vị vua cai trị xứ Giu-đa sau khi đất nước chia cắt làm hai vương quốc từ sau vua Sô-lô-môn, gia phổ Ma-thi-ơ ghi lại tên của 13 vua. Trong 13 tên của các vua này, chỉ có 6 được xem là tốt, vâng phục ĐCT, còn 7 tên kia đều là xấu, đặc biệt vua Ma-na-sê dâng chính con mình cho tà thần. Nếu A-háp là vị vua xứ Y-sơ-ra-ên miền Bắc được xem là độc ác và chống nghịch cùng ĐGHV nhất thì Ma-na-sê là vị vua xấu xa, chống nghịch cùng ĐGHV nhất trong số 19 vua xứ Giu-đa. Tại sao Ma-thi-ơ lại liệt tên các vị vua xấu nghịch cùng ĐGHV trong gia phổ ĐCJC? Ân điển. Không ai xứng đáng nếu xét về công đức, về đời sống đạo đức cá nhân. Tất cả chỉ bởi ân điển.
KT qua gia phả ghi lại bởi Ma-thi-ơ cho chúng ta biết một điều vô cùng quan trọng: Trong gia đình của Chúa Jesus không một ai xứng đáng về công đức, nhưng chỉ bởi ân điển. Hãy xem lại gia phả: người gạt gẫm cha anh, người ăn ở cùng cha chồng, phụ nữ, kỵ nữ, người Mô-áp, người Ca-na-in, vua, người phạm tội tà dâm, người có chồng bị giết. Tất cả đều ngồi trong bàn của gia đình ĐCJC. Lý do? Chỉ bởi ân điển. Duy ân điển.
Qv có hiểu câu KT Ê-phê-sô 2:8 chưa: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình;
Về tiêu chuẩn, không ai có thể đủ để được nhận vào gia đình Chúa. Nhưng qua ân điển những tội nhân mà xã hội khinh bỉ nhất, xa lánh nhất, tồi tệ nhất sẽ được vào nước Trời. Đây chính là ý nghĩa sâu sắc và yên ủi của mùa Giáng Sinh: qua ĐCJC, mọi người, dù bất cứ giống dân nào, địa vị nào, đạo đức quá khứ thế nào, giòng dõi thế nào vẫn được nhận là con trai, con gái của ĐCT. Qua ĐCJC có nghĩa là gì? Khi Chúa đổ huyết trên thập giá cho tội lỗi nhân loại, huyết đó như một cái áo công chính mà ai được mặc vào sẽ được xưng là công bình. ĐCT nhìn thấy tấm áo công chính của Con Độc Sinh và không còn nhìn thấy tội lỗi chúng ta.
Một số người chọn cho họ nhiều cái áo khác nhau để che dấu con người thật: thành công, danh vọng, quyền chức, tài của, sắc đẹp, học vấn… Nhưng người trong gia đình Chúa cùng mặc một cái áo công chính của ĐCJC. Cũng chính vì lý do này trong gia đình Chúa, không ai khoe mình. Khi vào nhà Chúa, hãy để mọi bằng cấp, mọi tài của, mọi chức vị bên ngoài và đến với Chúa, với anh chị em trong Chúa với con người thật, tội lỗi, xấu xa, nhưng được che phủ bởi áo công chính của ĐCJC.
ĐẤNG BAN CHO SỰ YÊN NGHĨ (SABATH REST)
Chú ý phần kết của gia phả: Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít, hết thảy có mười bốn đời; từ Đa-vít cho đến khi bị đày qua nước Ba-by-lôn, cũng có mười bốn đời; và từ khi bị đày qua nước Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ, lại cũng có mười bốn đời. (1:17) Trong gia phả khi Ma-thi-ơ viết Áp-ra-ham sanh Y-sắc, hay Ra-háp sanh Bô-ô thì không hẵn có nghĩa là người sanh là cha, là mẹ. Từ sanh đây là genea, generation có nghĩa là tổ tông của. Vậy có những nơi trong gia phả khi Ma-thi-ơ viết người này sanh người kia thì ông có thể bỏ qua nhiều đời, nhiều thế hệ.
Vậy tại sao 14, 14, 14? 14+14+14 = 42 cũng có thể viết thế này 7+7+7+7+7+7 = 42. Vậy ĐCJC là thế hệ 7 sau 6 thế hệ, hay thế hệ thứ 7 của 7. Đọc giả của sách Ma-thi-ơ là người Y-sơ-ra-ên hiểu được ý nghĩa của điều này. Trước hết số 7 tượng trưng cho sự trọn vẹn, hoàn hảo. Ngày Sa-bát, ngày nghĩ ngơi là thứ 7 trong tuần. Nhưng thứ 7 của 7 lại có một ý nghĩa khác quan trọng
Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi đã vào xứ ta sẽ ban cho rồi, thì đất phải nghỉ, giữ một lễ sa-bát cho Đức Giê-hô-va. 3 Trong sáu năm, ngươi sẽ gieo ruộng và hớt nho mình, cùng thâu hoạch thổ sản. 4 Nhưng năm thứ bảy sẽ là năm sa-bát, để cho đất nghỉ, tức là một năm sa-bát cho Đức Giê-hô-va; ngươi chẳng nên gieo ruộng mình hay là hớt nho mình; (Lê-vi-ký 25:2-4)
Các ngươi hãy tính bảy thất niên, tức là bảy lần bảy năm, để có một thời kỳ bốn mươi chín năm. 9 Vào ngày mồng mười tháng bảy, tức là ngày lễ chuộc tội, phải thổi kèn vang dội khắp trong nước. 10 Phải biệt riêng năm thứ năm mươi làm năm thánh và công bố tự do khắp nơi cho mọi cư dân trong nước. Đó là năm hoan hỉ cho các ngươi, vì mỗi người sẽ nhận lại tài sản của mình và được trở về với gia đình mình. 11 Vì năm thứ năm mươi là năm hoan hỉ của các ngươi nên đừng gieo trồng cũng đừng gặt hái hoa lợi tự mọc trong đồng ruộng và đừng hái nho trên cây nho các ngươi không tỉa sửa. 12 Đó là năm hoan hỉ và năm thánh cho các ngươi (Lê-vi-ký 25:8-10 - BDM)
Năm 50 là năm hoan hỉ (Jubilee year), dân sự không những nghĩ mà còn được xóa hết nợ. Đất sẽ được trả lại, người nô lệ sẽ được tự do, nợ sẽ được xóa sạch. Đây là cơ hội để làm lại cuộc đời, hoàn toàn bắt đầu lại mới. Qv có thấy dụng ý của Ma-thi-ơ trong gia phả ĐCJC không?
ĐCJC chính là Đấng Hoan Hỉ, Đấng sẽ đem đến năm hoan hỉ. ĐCJC cũng là sự yên nghĩ ngày Sa-bát. Ngài xóa hết tội chúng ta, ban cho một cuộc đời mới. Ngài cũng sẽ đem lại sự yên nghĩ.
Gia phả ĐCJC nói lên hai điều về Tin Lành:
Qv và tôi và tất cả mọi người đều không xứng đáng vào gia đình Chúa. Tội của chúng ta sâu hơn, nặng hơn, đậm hơn, tồi tệ hơn chúng ta nghĩ. Gia đình Chúa gồm tội nhân, ai từ chối sự thật này từ chối gia phả Jesus. Nhưng Tin Lành là ĐCT qua ĐCJC yêu thương chúng ta hơn chúng ta hy vọng. Chúa cứu qv và tôi qua ân điển bởi đức tin, như ĐCT đã nhận Tha-ma, Ra-háp, Ru-tơ, Đa-vít, vợ U-ri vào gia đình dù họ là những người hoàn toàn không xứng đáng. ĐCJC giáng sinh đã phá bỏ mọi ranh giới, hàng rào, bờ tường của chủng tộc, màu da, giới tính, học thức, địa vị, quá khứ, gia phả.
ĐCJC là Đấng Hoan Hỉ, đem lại sự hoan hỉ, sự yên nghĩ, bình an thật sự
Đây là Tin Lành, tin vui mừng của sự Chúa giáng sinh. Phụ nữ ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa. Dân ngoại ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa với dân tuyển. Vua ngồi cùng với kỹ nữ. Người mắc tội loạn luân ngồi cùng với người mắc tội tà dâm. Người lừa dối cha anh, cướp quyền trưởng nam ngồi cùng bàn với người làm vui lòng ĐCT. Đây là Tin Lành, tin vui mừng của sự Chúa giáng sinh: mọi người, bất kể mọi người đều có thể được dự tiệc chiên Con và nhận được sự yên nghĩ thật sự trong Chúa.
Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. (Phi-líp 2:5-8)
