Con Người Xử Án Con Trời
Chúng ta tiếp tục loạt tìm hiểu về tuần lễ cuối đời của ĐCJC, từ Chúa nhật khi ĐCJC vào thành Giê-ru-sa-lem cho đến sáng Chúa nhật khi Ngài sống lại từ cõi chết. Theo lời viết từ 4 sách PA thì tuần lễ cuối đời của ĐCJC là tuần lễ quan trọng nhất. Một phần ba (1/3) Ma-thi-ơ từ đoạn 21-28 viết về tuần lễ cuối đời của Chúa. 1/3 Mác, từ đoạn 11-16. 1/4 của Lu-ca từ 19-24. Gần 1/2 Giăng từ đoạn 12-20. Nói tóm lại 1/3 của cả 4 sách PA viết về tuần lễ cuối đời của ĐCJC, đặc biệt về những sự kiện đưa đến sự chết trên thập giá của ĐCJC và sự Chúa sống lại.
Trong bài giảng hôm nay, tôi muốn cùng qv suy gẫm về sự thương khó trong đêm cuối đời của ĐCJC. Đặc biệt về một sự kiện thương khó có một không hai trong lịch sử loài người: đó là về việc xử án của các lãnh đạo tôn giáo người DT và đại diện chính quyền La-mã tại thành Giê-ru-sa-lem với ĐCJC. Những người đầy dẫy tội ác xử án một người hoàn toàn thánh khiết, vô tội. Con người xử án Con Trời.
Qua các vụ xử án vô cùng phi lý này chúng ta càng hiểu rõ hơn về lời dạy của sứ đồ PL về ĐCJC, Đấng vô tội trở nên tội lỗi vì chúng ta để trong Đấng ấy chúng ta được trở nên công chính trước mặt Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 5:21) Để càng biết ơn về sự thương khó, hy sinh của Chúa cho tội chúng ta.
Câu chuyện bắt đầu từ sáng Chúa nhật khi ĐCJC cùng các môn đồ vào thành Giê-ru-sa-lem. Ngay sau buổi sáng Chúa nhật đầu tuần khi ĐCJC vào thành Giê-ru-sa-lem được đoàn dân rất đông mừng đón Ngài như Con Vua Đa-vít, tức Đấng Mê-si-a, thì những người lãnh đạo tôn giáo trong thành đã dự tính và lập mưu để bắt và giết Chúa. Họ sợ đoàn dân đông theo Chúa nên chưa thể thực hiện âm mưu này.
ĐCJC biết rõ Ngài sẽ bị bắt, xử, rồi đóng đinh đến chết, và cố giải thích cho các môn đồ: 1Sau khi phán những lời ấy xong, Đức Chúa Jêsus nói với các môn đồ rằng: 2“Các con biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh trên thập tự giá.”
Các môn đồ ngạc nhiên tự hỏi: Ai sẽ nộp ĐCJC để Ngài phải chịu đóng đinh trên thập giá. Thập giá? Thập giá là nơi các tội phạm tầy trời với chính quyền La-mã bị trừng phạt. Thầy mình có tội gì với chính quyên La-mã mà phai chịu tử hình trên thập giá? Chúa giải thích nhưng họ không hiểu.
Các môn đồ không hiểu rằng Sa-tan đã gieo ý phản bội và bán Chúa vào lòng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. Họ không hiểu các lãnh đạo tôn giáo thành Giê-ru-sa-lem đã có ý định bắt giết Chúa từ lâu rồi. Họ không hiểu chính các lãnh đạo tôn giáo, sẽ nộp ĐCJC vào tay chính quyền La-mã.
Các môn đồ cũng không hề biết rằng cũng chính những người mặc lớp áo tôn giáo, đạo đức này sẽ xách động dân chúng trong thành để áp lực và buộc tổng trấn La-mã tên Phi-lát phải đóng đinh Jesus cho đến chết trên thập giá, dù có phải thả Ba-na-ba một kẻ xác nhân. Họ xách động đoàn dân mà sáng Chúa nhật đầu tuần tung hô, ca tụng, ngợi khen ĐCJC: hosana, Con Vua Đa-vít. Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na trên nơi chí cao!” để vào sáng thứ Sáu tuần lễ đó khiến họ gào thét: hãy đóng đinh nó đi, hãy đóng đinh nó đi!
Đây là một sự thật phủ phàng trong đời sống. Vài ngày trước đó dân sự ca tụng, vài ngày sau đó cũng chính họ đòi giết. Ai có thể nói trước được những thay đổi trong lòng dạ con người trước những đổi thay của hoàn cảnh, phải không qv?
Vì không hiểu lời tiên tri của ĐCJC về sự thương khó, không hiểu được lý do ĐCJC bị bắt, xử, rồi chịu đóng đinh đến chết nên khi thấy thầy mình bị bắt, tất cả đều bỏ chạy. Phi-e-rơ chối Chúa. Đến khi tận mắt thấy ĐCJC chịu chết trên thập giá, họ nghĩ rằng 3 năm theo Chúa thật luống công. Giê-xu Na-xa-rét cũng không khác gì nhiều người trước Ngài tự nhận là Đấng Mê-si-a rồi cuối cùng cũng chết như Giê-xu. Bây giờ chúng ta mới hiểu được lời của Phi-e-rơ cùng các anh em chúng ta hãy trở lại nghề đánh cá.
Âm mưu bắt giết Chúa của các lãnh đạo tôn giáo trong thành mới bắt đầu trở thành sự thật khi Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, 1 trong số 12 sứ đồ Chúa chọn, tìm đến họ để đồng ý bán thầy mình. Với 1 giá rẽ chỉ 30 miếng bạc - một số tiền tương đương với 4 tháng tiền công của một người dân lao động, số tiền đủ để mua mạng sống của một nô lệ trong thời đó. Với giá rẽ đó, Giu-đa đồng ý sẽ dẫn quân lính đến nơi Chúa thường đến cầu nguyện trong đêm để họ bắt Ngài.
Sau khi bị bắt, ĐCJC không phải trải qua 1 phiên tòa xử nhưng 6 phiên tòa xử: 3 phiên tòa xử theo luật pháp DT mang tính cách tôn giáo, và 3 phiên xử theo luật pháp La-mã mang tính cách chính trị. Bài giảng hôm nay tập trung vào 3 phiên tòa xử đầu tiên.
Tất cả sự kiện xảy trong 3 phiên tòa án này hoàn toàn xảy ra trong bóng tối của ban đêm. Bóng tối là đồng lõa của những tội ác con người, tội ác của các thầy tế lễ cả, người thông giáo, các lãnh đạo tòa án công luận. Trong bóng tối của đêm, họ bắt Chúa, xử án Ngài, đánh đập, xỉ nhục, nhổ vào mặt Ngài, rồi chờ cho đến sáng giải Ngài đến tổng trấn Phi-lát để mượn tay hắn mà giết Chúa.
Nhưng qv hỏi tại sao các lãnh đạo tôn giáo DT trong thành Giê-ru-sa-lem lại muốn bắt giết Chúa? Vì các lý do sau đây:
1) Lòng ghen tị với Chúa khi họ thấy đoàn dân theo Ngài ngày càng đông hơn.
2) Lòng thù ghét vì ĐCJC buộc tội, lên án họ là những người giả hình, bọn biến nhà cầu nguyện thành hang trộm cướp. Nhưng nặng hơn hết là khi ĐCJC nói với họ: Thật, Ta bảo các ngươi, những người thu thuế và gái mại dâm sẽ được vào vương quốc Đức Chúa Trời trước các ngươi. (Ma-thi-ơ 21:31).
3) Sợ ĐCJC sẽ xách động dân chúng nổi loạn. Khi dân nổi loạn, cả các lãnh đạo DT cũng sẽ bị liên lụy, sẽ bị buộc tội và xử phạt bởi đại diện chính quyền La-mã là Phi-lát và Hê-rốt.
4) Sợ ĐCJC sẽ phá hại cả hệ thống thương mãi trong đền thờ thành Giê-ru-sa-lem. Đúng như lời của Chúa, các thầy tôn giáo biến đền thờ thành hang trộm cướp. Tên đầu đảng của hang trộm cướp, của hệ thống thương mãi này là An-ne, là cựu tế lễ thượng phẩm, cha vợ của Cai-phê, thầy tế lễ thượng phẩm đương nhiệm. Đây cũng là lý do sau khi bắt ĐCJC, họ giải Chúa đến An-ne để xử.
Tôi xin giải thích về hang trộm cướp, hệ thống thương mãi này: Khi dân DT từ các nơi xa đến thành Giê để dự các ngày lễ lớn, họ đem theo tiền ấn hành bởi đại đế Sê-xa. Nhưng bọn lái buôn trong đền thờ buộc dân phải đổi tiền La-mã sang tiền của đền thờ. Dĩ nhiên dân sẽ đổi với giá thấp và lợi sẽ vào tay những bọn trộm cướp mặc áo tôn giáo này mà đầu đảng là An-ne.
Chưa hết, sau khi đã đổi tiền, những tên trộm cướp này còn bán chiên cừu cho dân sự từ xa đến đền thờ. Nếu dân sự đem theo chiên cừu của mình, thì các thầy tế lễ thông đồng với lũ trộm cướp này để tìm đủ mọi cách không nhận, từ chối các chiên cừu đó vì cho là có tì vết nên không thể làm của lễ dâng cho ĐCT. Thay vào đó họ sẽ đổi chiên cừu của dân sự với chiên của họ trong đền thờ; dĩ nhiên dân sự phải bù thêm tiền để có chiên cừu toàn vẹn!
Qv thử tưởng tượng đến ngày lễ Vượt Qua, trong đền thờ có hàng ngàn người buôn bán chiên cừu, đổi chác tiền bạc thì làm sao có thể gọi là nhà cầu nguyện của ĐCT? Đền thờ là nơi làm ăn buôn bán tốt nhất, chắc ăn nhất để làm giàu cho các lãnh đạo tôn giáo. Vì vậy khi ĐCJC vào đền thờ lật đổ tất cả các bàn buôn bán thì họ xem Ngài là người phá hoại hệ thống thương mãi, buôn bán, đổi tiền, là người sẽ làm mất nguồn lợi tức quan trọng nhất cho họ, nhất là cho An-ne và gia đình, dòng tộc ông.
Sau khi bị bắt, ĐCJC không phải trải qua 1 phiên tòa xử nhưng 6 phiên tòa xử: 3 phiên tòa xử theo luật pháp DT mang tính cách tôn giáo, và 3 phiên xử theo luật pháp La-mã mang tính cách chính trị.
Người DT có một bản kinh gọi là Mishnah viết vào khoảng AD 200, ghi lại những truyền thống, luật pháp được truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một phần của bản kinh này ghi lại những hướng dẫn cho tòa công luận tức tòa án thẩm phán tối cao của dân sự DT, gồm 70 thành viên và thầy cả thượng phẩm. Đây cũng là những điều lệ dùng trong tòa công luận thời Chúa Giê-xu. Cả 3 phiên tòa xử theo luật pháp DT hoàn toàn vi phạm, làm trái lại với 18 điều luật trong bản kinh Mishnah. Tôi chỉ xin trích ra một vài điều luật liên hệ trực tiếp đến vụ xử án ĐCJC:
Không một vụ án tử hình nào được xảy ra ban đêm trước giờ dâng của lễ sáng sớm.
Phiên tòa không thể tiến hành vào tối trước ngày Sa-bát hay vào những ngày lễ. Cả 3 phiên tòa xảy ra vào lúc ban đêm và trước ngày Sa-bát và vào lễ Vượt Qua.
Phiên tòa phải ở trước công chúng. Luật cấm phiên tòa bí mật
Phải được tiến hành trong một nơi đặc biệt dành riêng cho việc xử án trong đền thờ.
Tất cả thành viên tòa công luận được xử tha bổng nhưng tất cả không thể buộc tội tử hình
Thầy tế lễ thượng phẩm không được tra hỏi tội nhân
Kẻ buộc tội sẽ không làm chứng cho mình, nhưng phải có luật sư biện hộ
Lời chứng phải cần 2 hay 3 người hoàn toàn thống nhất với nhau. Nếu một lời chứng tương phản với lời chứng khi thì cả hai lời chứng đều sẽ bị bác bỏ. Mỗi nhân chứng phải được khảo sát riêng biệt với nhân chứng khác.
Vụ án tử hình phải theo thứ tự, đầu tiên là lời biện hộ sau đó mới đến lời buộc tội.
Sau khi nghe lời biện hộ và cáo tội, tòa công luận sẽ giải tán trong vòng 2 ngày 2 đêm để các thành viên có thời gian phân tích, suy nghĩ về quyết định cuối cùng. Chỉ sau thời gian đó tòa mới triệu tập lại để phán án.
Quyết định về vụ kết án tử hình chỉ phải được bắt đầu với thành viên tòa công luận trẻ nhất để khỏi bị ảnh hưởng bởi quyết định của các thành viên trưởng lão.
Không một điều nào trong 11 điều lệ này cho tòa công luận được tuân thủ bởi các lãnh đạo tôn giáo xử ĐCJC. Thậm chí trước khi xử án ĐCJC, các lãnh đạo tôn giáo đã quyết định giết Ngài. [Chiếu không đọc] Lúc ấy, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân chúng họp lại tại dinh thầy tế lễ thượng phẩm tên là Cai-phe 4để cùng bàn mưu kế bắt và giết Đức Chúa Jêsus. 5Tuy nhiên, họ nói: “Không nên ra tay trong dịp lễ, kẻo gây náo động trong dân chúng.” (26:3-5)
Vậy 3 phiên tòa đầu tiên với các lãnh đạo tôn giáo chỉ để có hình thức nhưng bản án bị xử chết đã được định trước. Đây là các phiên tòa bất chấp luật pháp, công lý. Đây là các phiên tòa có lệ, giả hiệu, trá hình, tòa án trò hề hay phiên tòa chuột túi (1 từ tôi mới học được!). Trong 3 phiên tòa này, các lãnh đạo tôn giáo hoàn toàn vi phạm, làm trái lại với các luật pháp DT và La-mã. Chính tổng trấn Phi-lát sau khi vấn hỏi ĐCJC cũng kết luận nhiều lần rằng Chúa vô tội.
PHIÊN TÒA THỨ NHẤT VỚI AN-NE – GIĂNG 18:12-23
Nơi đầu tiên các lính giải ĐCJC đến là dinh thự của An-ne để xử án Ngài. Thẩm phán của phiên tòa xử đầu tiên chính là An-ne, 70 tuổi, cựu thầy tế lễ thượng phẩm nhưng thật sự là đầu đảng của hang trộm cướp, của hệ thống thương mãi trong đền thờ. Bấy giờ, cả cơ binh, người quản cơ và những kẻ sai của dân Giu-đa bắt Đức Chúa Jêsus trói lại. 13 Trước hết chúng giải Ngài đến An-ne; vì người nầy là ông gia Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm đương niên. (Giăng 18:12-13)
Khoảng gần 1 giờ sáng, quân lính dẫn ĐCJC bị trói vào dinh thự của An-ne, để Ngài đứng trước một ghế trống. Hai bên Chúa là các thầy tế lễ cả, thông giáo với ánh mắt khinh khi, nhạo báng nhưng đầy căm ghét. Một lúc sau An-ne bước vào và trịnh trọng ngồi ghế. Vậy, thầy cả thượng phẩm gạn hỏi Đức Chúa Jêsus về môn đồ Ngài và đạo giáo Ngài. 20 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta từng nói rõ ràng cùng thiên hạ; ta thường dạy dỗ trong nhà hội và đền thờ, là nơi hết thảy dân Giu-đa nhóm lại, chớ ta chẳng từng nói kín giấu điều gì. 21 Cớ sao ngươi gạn hỏi ta? Hãy hỏi những kẻ đã nghe ta nói điều chi với họ; những kẻ đó biết điều ta đã nói. (Giăng 18:19-21)
Câu trả lời của ĐCJC chỉ rõ ra những vi phạm trầm trọng các luật pháp từ bản kinh Mishna. Dù sai hoàn toàn nhưng khi nghe câu trả lời của ĐCJC, một thuộc hạ của An-ne lại tát vào mặt Chúa. Sau đó An-ne bèn sai giải Đức Chúa Jêsus vẫn bị trói đến Cai-phe là thầy cả thượng phẩm. (Giăng 18:24)
PHIÊN TÒA THỨ HAI VỚI CAI-PHE –
MATT 26:57-68, MÁC 14:53-65, LU-CA 22:63-67, GIĂNG 18:14, 19-24
57Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus dẫn Ngài đến nhà thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe, nơi các thầy thông giáo và các trưởng lão đang hội họp… 59Lúc ấy, các thầy tế lễ cả và toàn thể Hội đồng tìm chứng dối chống lại Đức Chúa Jêsus để có thể kết án tử hình Ngài. 60Nhưng họ không tìm được điều gì cả, mặc dù có nhiều kẻ đứng ra làm chứng dối. Cuối cùng, có hai người bước ra 61tố cáo rằng: “Người nầy đã nói: ‘Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.’”
Hội đồng tức là hội đồng tòa công luận, tòa án tối cao của dân sự DT có thẩm quyền để xử các vụ án liên quan đến luật pháp Mô-se, gồm cả án tử hình. Tuy nhiên hội đồng không có thẩm quyền để xử chết. Chỉ có chính quyền La-mã mới có thẩm quyền xử chết một tội nhân.
Một nghịch lý là tất cả thầy thượng phẩm và hội đồng công luận đều vi phạm luật pháp xử án. Phiên tòa xảy ra ban đêm; cả hội đồng tìm chứng dối để kết án tử hình Chúa; họ dùng nhiều nhân chứng dối. Lời buộc tội cuối cùng trái với các lời buộc tội trước nên theo theo luật xử án cả hai lời chứng đều không có giá trị.
62Thầy tế lễ thượng phẩm đứng dậy và nói: “Ngươi không đáp lại lời những người nầy cáo buộc ngươi sao?” 63Nhưng Đức Chúa Jêsus vẫn im lặng. Thầy tế lễ thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: “Ta yêu cầu ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề và nói cho chúng ta biết, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời không?” 64Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói thế. Nhưng Ta nói với các ngươi, sau nầy các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Đấng Quyền năng và ngự trên mây trời mà đến.” 65Lúc ấy, thầy tế lễ thượng phẩm xé áo mình và nói: “Nó đã nói phạm thượng. Tại sao chúng ta còn cần nhân chứng nữa làm gì? Các ông vừa nghe lời phạm thượng của nó. Các ông nghĩ thế nào?” 66Họ trả lời: “Nó đáng chết!” 67Rồi chúng khạc nhổ trên mặt Ngài, đánh Ngài. Một vài kẻ tát Ngài, 68và nói: “Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri cho chúng ta đi! Ai là người đã đánh ngươi vậy?”
Lời cáo tội cuối cùng của 2 nhân chứng cũng chưa đủ bằng chứng để xử tử hình ĐCJC. Nên chính thầy tế lễ thượng phẩm vi phạm điều luật xử án mà tra hỏi Chúa trực tiếp: ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời không?
ĐCJC không chỉ xác nhận câu hỏi của Cai-phe mà Chúa còn trích KTCU từ TT 110:1 và Đa-ni-ên 7:13 để cả quyết trước tất cả rằng chính Ngài là Đấng Christ. Dùng chính lời của ĐCJC tức người bị cáo tội lại là một vi phạm của điều luật xử án. Rồi họ kết tội Chúa là phạm thượng nên phải chịu tử hình. Theo luật pháp DT thì kẻ phạm thượng phải bị ném đá cho đến chết, nhưng vì không có thẩm quyền để xử tử nên cả tòa công luận buộc phải giải tán. Khi trời gần sáng, họ triệu tập lại một lần nữa để giải ĐCJC đến tổng trấn Phi-lát và đòi hỏi Phi-lát phải xử tử Giê-xu.
Thay vì hội đồng phải giải tán và hai ngày sau mới họp lại để quyết định buộc tội hay tha bổng, thì tất cả đều la thét Nó đáng chết! Không chỉ vậy mà còn nhổ trên mặt, đáng, tát và sỉ nhục tội nhân. Vả, những kẻ canh Đức Chúa Jêsus nhạo báng và đánh Ngài; 64 che mặt Ngài lại, rồi nói rằng: Hãy nói tiên tri đi, hãy đoán xem ai đánh ngươi! 65 Họ lại nhiếc móc Ngài nhiều lời khác nữa. (Lu-ca 22:63-65)
ĐCJC không chỉ bị nhổ, bị tát, bị đánh, bị sỉ nhục bởi các lãnh đạo tôn giáo nhưng sau khi họ giải tán, những kẻ canh Chúa còn tiếp tục hành hung, nhục mạ Ngài. Tất cả đều xảy ra trong đêm tối.
PHIÊN TÒA ÁN THỨ BA TRƯỚC TÒA CÔNG LUẬN – MA 27:1-2, MÁC 15:1, LU-CA 22:66-71
66 Đến sáng ngày, các trưởng lão trong dân, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo nhóm lại, rồi sai đem Đức Chúa Jêsus đến nơi tòa công luận. 67 Họ hỏi Ngài rằng: Nếu ngươi phải là Đấng Christ, hãy xưng ra cho chúng ta. Ngài đáp rằng: Nếu ta nói, thì các ngươi không tin; 68 nếu ta tra gạn các ngươi, thì các ngươi không trả lời. 69 Nhưng từ nay về sau, Con người sẽ ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời. 70 Ai nấy đều hỏi rằng: Vậy, ngươi là Con Đức Chúa Trời sao? Ngài đáp rằng: Chính các ngươi nói ta là Con Ngài. 71 Họ bèn nói rằng: Chúng ta nào có cần chứng cớ nữa làm chi? Chính chúng ta đã nghe từ miệng nó nói ra rồi. (Lu-ca 22:66-71)
Đến giờ trời bắt đầu sáng. Cả hội đồng đến tòa công luận để xử án ĐCJC. Nhưng thật ra bản án tử hình đã được quyết định trong phiên tòa thứ hai tại dinh thư của Cai-phe. Cả hội đồng đều vi phạm luật xử án của tòa công luận vì thay vì là quan tòa thì họ lại đóng vai luật sư cáo tội. Bị cáo là ĐCJC cũng không có luật sự biện hộ. Phiên tòa này xảy ra trong ngày lễ Bánh Không Men, tức một phần của lễ Vượt Qua.
