Có Chỗ Cho Chúa Trong Đời Sống
Việc di chuyển trong mùa đông tại HK thường gặp nhiều trở ngại vì thời tiết. Đặc biệt khi đi đến các thành phố vùng Đông Bắc, nơi có nhiều tuyết đá khi đông đến. Hai năm trước đây một cơn bão tuyết dữ dội đã xảy ra tại thủ đô Washington DC và các vùng phụ cận. Tuyết nhiều đến nỗi trường học, các cơ quan chính quyền, công ty, thậm chí cả các siêu thị (supermarket) cũng phải đóng cửa, và không ai có thể chạy xe trong cả mấy ngày trời. Sau khi tuyết ngừng rơi, các xe ủi phải dọn sạch tuyết đá trên đường cho xe chạy. Số lượng tuyết nhiều đến noi tuyết bên hai vệ đường cao như một bức tường, có nơi cao đến 8-10 feet.
Đó là chưa nói đến khi có bão tuyết các phi trường phải đóng cửa khiến hàng trăm chuyến bay bị đình trệ hay cancel và hằng ngàn hành khách kẹt lại ở phi trường. Một số tìm được khách sạn để tạm trú nhưng một số lớn vì không tìm được phòng trống khách sạn hay không trả nổi tiền nên phải ở lại phi trường, nằm ngủ trên các băng ghế hay dọc theo đường đi.
Một lần tôi đáp máy bay đến Washington DC lúc mùa đông. Chuyến đầu từ Albuquerque đến Pittsburgh rồi từ đó mới chuyển máy bay đến DC. Khi đến Pittsburgh tuyết đổ xuống trắng cả bầu trời đêm. Máy bay tôi phải đậu ngoài phi đạo chờ đến phiên để de-ice tức là thổi chất nước để làm tan nước đá hay cánh máy bay trước khi cất cánh. Sau khi de-ice lại phải xấp hàng đến phiên cất cánh. Vì trời tuyết quá nhiều nên đài kiểm soát bảo phải chờ. Hàng chục chiếc máy bay đậu trên phi đạo chờ thời tiết. Chờ đến cả hai tiếng đồng sau mới được nghe tin của phi công cho biết máy bay được lệnh cất cánh. Ai nấy đều mừng rỡ, nhưng chỉ vài phút sau đó tiếng người phi công lại nổi lên cho biết vì chờ quá lâu nên máy bay phải trở lại de-ice! Cuối cùng đêm hôm đó máy bay phải trở lại gate. Tôi và tất cả hành khách phải trở vào lại phi trường. Dù cố đến mấy tôi vẫn không tìm được một phòng nào của khách sạn cả. Đêm đó trên các băng ghế, trên đường đi của phi trường, hằng trăm người nằm la lết cố tìm giấc ngủ hay chỉ mong trời mau sáng.
Trong câu chuyện giáng sinh theo sách Phúc Âm Lu-ca thì khi Jesus sinh ra thì cả làng Bết-lê-hem cũng không có chỗ trong nhà quán nào cho Ngài. KT viết: Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến. 7 Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở (Lu-ca 2:6-7). Một lý do chúng ta có thể đoán biết về nhà quán không đủ chỗ ở là vì số người đến ngôi làng này để ghi sổ cho việc kiểm tra dân số. Nhưng qv có nghĩ phải chăng đây là một việc ngẫu nhiên hay tình cờ không? Dù dưới mắt con người thì có thể như vậy. Nhưng với ĐCT thì dĩ nhiên đây không phải là sự việc tình cờ hay ngẫu nhiên. Nếu sự giáng sinh của hài nhi Jesus đã được tiên tri trước đó hằng 700 năm trời trước đó với những chi tiết hết sức cụ thể như làng nào Chúa sinh ra thì việc nhà quán có chỗ hay không cho Chúa khi Ngài sinh ra chắc chắn không phải là sự việc ngẫu nhiên. Trái lại đó là chương trình và dự tính từ trước của ĐCT.
Nghe vậy, một số người lại hỏi. Tại sao ĐCT lại có dự tính, chương trình gì lạ vậy. Khi Con Trời xuống thế làm người thì lại được sinh ra trong một chuồng chiên tối tăm, dơ bẩn, hôi hám, và phải nằm trong máng cỏ của loài súc vật? Một lý do là để cho thấy thế giới này, con người trong thế giới này cũng không có chỗ cho Chúa trong đời sống họ. Như đã được viết trong sách Giăng: Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. 5 Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng. (1:6) Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài. 11 Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. (1:10-11)
Tôi muốn xác nhận một điều rất quan trọng: Jesus Christ sinh trong chuồng chiên là Ngôi Hai ĐCT. In 325, at the age of 27, Athanasius began his leading role against the Arians as a deacon and assistant to Bishop Alexander of Alexandria during the First Council of Nicaea. Roman emperor Constantine the Great had convened the council in May–August 325 to address the Arian position that the Son of God, Jesus of Nazareth, is of a distinct substance from the Father.
The one who led that teaching was Arius. Athanasius opposed Arius, and Arius usually was winning for a long time. Athanasius was exiled and beaten and put in prison. He spent all of his life running around fighting Arius over one letter. Do you know what that letter was? Arius said, “Jesus, the Son, is homoiousios with the Father,” which means like substance. Athanasius says, “No, he’s homoousios, the same substance. Get that ‘I’ out of there.”
Athanasius dedicated his life to get the “I” out of the creed, to get the “I” out of the confession. He battled his entire life, and when he died … He spent his entire life, he poured himself out to make sure people knew Jesus Christ was the Word become flesh, that he was God incarnate. The reason he gave his life to that, so that on his gravestone it says, “Athanasius contra mundum,” Athanasius against the world, is he knew this is the grand miracle out of which all other miracles flow.
Chính vì Jesus là ĐCT nên chúng ta cần có chỗ cho Ngài trong đời sống mình.
Mục đích của bài giảng này không phải để kể tội những ai từ chối, không nhận Ngài. Nhưng để giải thích cho những người đó, và ngay cả cho những người đã nhận Chúa nhưng đến hôm nay vẫn không có chỗ nào cho Chúa trong tâm hồn, trong suy nghĩ, trong cuộc sống hằng ngày làm thế nào để có chỗ cho Ngài trong đời sống.
Để có chỗ cho Chúa, chúng ta cần phải lắng nghe rồi quyết định ưu tiên cho đời sống
Khi Jê-sus sinh ra, vợ chồng Ma-ri và Giô-sép phải rời làng Nazarét là nơi đang sinh sống để đến làng Bết-lê-hem gần thành Jêrusalem, bởi vì đại đế La Mã ra lệnh kiểm tra dân số cho cả xứ. Khi đại đế ra lệnh thì mọi người đều phải vâng phục. Dân sự bấy giờ bận rộn về việc kiểm tra dân số theo lệnh của đại đế La Mã. Lệnh của đại đế phán ra, có ai dám làm trái lại; đây là một việc khẩn cấp. Mọi người đều phải dừng tất cả để về quê hương của cha ông mà lập lại sổ dân. Ngay thiên hạ bận rộn về sự việc khẩn cấp, về lệnh của đại đế thì Con Trời âm thầm giáng sinh. Đây không phải là một ngẫu nhiên nhưng là một sứ điệp cho thiên hạ: rằng chúng ta đừng quá bận rộn, lo lắng về những đòi hỏi của loài người mà quên đi nước Trời.
Tiếng ra lệnh của đại đế Xê-xa át cả mọi thứ tiếng khác trong đời sống. Lịnh đại đế cũng thay đổi cả mọi chương trình, dự tính của dân chúng. Nhưng còn tiếng Đức Chúa Trời thì sao? “Nầy ta đứng ngoài cửa mà gõ…..”
Đời sống hôm nay cũng có rất nhiều tiếng gọi. Như tiếng gọi ái tình, tình yêu. Nói đến tiếng này thì người ta thường ví như tiếng sét ái tình. Sét đánh vào ai thì cháy cả người! Qv có nhớ câu chuyện công chúa Mỵ Châu và cái nỏ thần trong thời vua An Dương Vương. Vì tiếng sét ái tình mà Mỵ Châu lừa cả cha mình để lấy cây nỏ thần cho chồng Trọng Thủy, là con trai của Triệu Đà, kẻ địch cùng vua An Dương Vương. Khi được nỏ thần, Trọng Thủy nói dối với vợ là mình phải về nước thăm cha. Trước khi đi, chàng và nàng trao đổi những lời theo tiếng sét ái tình: "Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm thấy nhau?". Mị Châu nói: "Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu. Mất nỏ thần nên vua An Dương Vương thua trận cùng Triệu Đà, phải bỏ chạy. Khi bỏ thành chạy vua để My Châu sau lưng mình trên lưng ngựa. Cũng vì tiếng sét ái tình mà Mị Châu rút lông ngỗng trên tấm áo của mình mà rải dài trên đường. Tuần tới tôi sẽ cho qv biết kết thúc của câu chuyện ái tình này!
Tiếng gọi tình yêu hay tiếng sét ái tình dữ dội đến như vậy nên bao nhiêu người bỏ tất cả để chạy theo. Nhưng còn biết bao nhiêu tiếng gọi khác hấp dan, thu hút không kém. Như tiếng gọi tiền tài, tiếng gọi danh vọng, tiếng gọi chức quyền. Tất cả những tiếng gọi này có thể tóm gọn thành 2 loại: tiếng gọi vật chất, và tiếng gọi xác thịt.
Jê-sus Christ hạ sinh nơi chuồng chiên thấp hèn vì nhà quán không có chỗ cho Ngài. Nếu chuồng chiên tượng trưng cho tấm lòng của những người khiêm nhượng biết mình có tội dơ, thì hình ảnh nhà quán tượng trưng cho những cuộc đời quá đầy đủ, bận rộn với đời sống đến nỗi không còn chỗ cho Đức Chúa Trời.
Hai tiếng gọi về vật chất và xác thịt này át đi tiếng gọi của ĐCT: Chúa đã đến trong nước Ngài mà dân Ngài không nghênh tiếp, nhưng những ai tiếp nhận Ngài, nghĩa là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở nên con Đức Chúa Trời. Đây là những người không sinh ra theo huyết thống, ý phàm hay ý người, nhưng do chính Đức Chúa Trời sinh thành. (Giăng 1:11-13 - BDM); Giăng 3:16; Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (14:6)
Có chỗ cho Chúa trong đời sống không phải là điều dễ dàng, nhưng có lúc đòi hỏi hy sinh
Vì lệnh kiễm tra dân số của đại đến Au-gút-tơ nên Ma-ri và Giô-sép phải đi từ làng Na-xa-rét, nơi họ đang sinh sống để đến làng Bết-lê-hem. Hai làng Bết-lê-hem và Na-xa-rét cách nhau độ 80 miles. Hôm nay chạy bằng xe trên đường xa lộ chỉ tốn độ gần hai tiếng đồng hồ. Nhưng ngày xưa khi phải đi bộ, bằng lừa thì phải mất hai hay ba ngày đường, đặc biệt khi Ma-ri đang mang thai và sắp đến ngày sanh nở. Khi đến Bết-lê-hem, thì ngôi làng nhỏ này không còn đủ phòng quán cho những người từ phương xa trở về theo lệnh kiểm tra dân số. Ma-ri không có thì giờ để dưỡng sức sau mấy ngày vất vả trên đường trước khi sanh con.
Cũng khó mà tin rằng khi Ma-ri sinh nở thì Giô-sép đứng cạnh vợ mình mà động viên, an ủi. Việc sinh con ở vùng Trung Đông cũng giống như Á Châu ta là một kinh nghiệm khó nhọc và cô đơn cho các bà. Ngày xưa, các bà đến ngày sanh nở phải tự kêu xe taxi, xe xích-lô đến nhà rồi tự mình đi sanh con. Người Việt ta có câu: Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình là như vậy.
Khi sanh Jê-sus, Mari không có được một phòng riêng nơi nhà trọ, mà phải sanh con đầu lòng nơi chuồng chiên, máng cỏ. Đau về thể xác đã đành nhưng chắc rằng Ma-ri còn mang một nỗi đau khác nữa trong lòng vì tủi hổ cho thân mình, chua xót cho con mình. Cũng có thể bà tự hỏi rằng tại sao thiên sứ báo tin con trẻ này là Con Trời, là Đấng Cứu Rỗi cho nhân loại mà lại phải hạ sinh nơi chuồng chiên, máng cỏ thấp hèn này?
Dù trãi qua bao nhiêu nhọc nhằn, mất mát, dù có biết bao nhiêu câu hỏi không có câu trả lời, nhưng Ma-ri vẫn quyết định làm theo lời Chúa phán cùng bà để cưu mang, sanh đẻ rồi nuôi dưỡng Jesus. Ưu tiên trong cuộc đời Ma-ri và Giô-sép lúc bấy giờ là làm theo lời Chúa bởi vì họ có chỗ cho Ngài trong đời sống của họ. Còn qv thì sao?
Nếu có dịp xem lại các thiệp giáng sinh đã nhận năm nay hay nhiều năm qua, quý vị sẽ nhận thấy cảnh của Mari, Giô-sép, các mục đồng, ba vua quây quần chung quanh hài nhi Jêsus nằm trong máng cỏ. Hay cảnh các thiên sứ với hào quang sáng rực trên trời cao, hay trên máng cỏ. Cảnh nào cũng như cảnh ấy, đều có vẻ êm đềm, bình an. Gương mặt của Mari, Giô-sép trên các thiệp, các hình này đều phản ánh một sự bình thản, vui thoả, không hề có một chút kinh ngạc, lo âu, buồn phiền hay sợ hãi. Tuy nhiên, nếu chúng ta đọc về câu chuyện Giáng Sinh thì sự việc không xảy ra như trong các thiệp giáng sinh.
Tất cả các nhân vật trong câu chuyện giáng sinh đều có sự lo âu, sợ hãi ngay khi họ nghe được tiếng phán của Thượng Đế. Giô-sép lo lắng về việc Ma-ri chịu thai bởi Đức Thánh Linh trước ngày cưới, về tiếng chê cười của gia đình khi lấy một cô gái không còn trinh tiết làm vợ. Đến nỗi thiên sứ của Đức Chúa Trời phải hiện ra và bảo với ông đừng lo sợ mà hãy lấy Ma-ri làm vợ. Ma-ri lo sợ về bầu thai mình đang mang; không biết tiếng đồn thị phị, lời xì xầm dị nghị từ bà con, làng xóm thế nào về mình, về chồng, về tương lai của con trẻ đang cưu mang. Ngay cả những người chăn chiên ngoài đồng đang thức đêm canh giữ bầy chiên khi được thiên sứ báo tin về Jê-sus hạ sinh thì Kinh Thánh qua lời của một bác sĩ tên Lu-ca cho biết rằng họ rất sợ hãi. Và lời đầu tiên thiên sứ phán cùng họ là “đừng sợ chi”. Qv có biết trong KT bản cũ có đến 586 câu KT có chữ sợ hay không?
Chúa không đòi hỏi chúng ta phải có đức tin cao như núi, rộng như sông khi đến với Ngài. Chúa biết tình cảnh, tâm trạng của quý vị ngay giờ phút này. Chúa biết mọi nỗi lo lắng, tâm trang hoang mang của quý vị như Chúa biết và cảm thông với nỗi lòng của Mari, Giô-sép, với những người chăn chiên nghèo khó khi Con Trời hạ sinh. Ngài phán với tất cả chúng ta qua lời thiên sứ: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành. Với những ai có tâm trạng hoan mang, lo sợ, Chúa gọi quý vị đến để nhận tin vui mừng, tin hy vọng về sự giáng sinh của Jêsus Christ.
Nhưng quan trọng hơn hết để có chỗ cho Chúa trong đời sống, chúng ta cần phải khiêm nhường.
Quan trọng hơn hết là chúng ta cần tự xét mình xem lý do gì, động cơ gì, mục đích gì khi làm việc Chúa, thậm chí khi hy sinh cho người, cho Chúa. Vì lòng tự cao, muốn người ta tôn cao mình hay với lòng khiêm nhường?
Chắc cũng như hầu hết quý vị đây tôi chưa đến chuồng chiên nhưng có nhiều lần đến chuồng bò, chuồng heo, chuồng gà. Không có chuồng nào thơm tho, sạch sẽ cả. Tất cả đều dơ bẩn, hôi hám. Ai có dịp đi trên xa lộ 40 về phía đông khi đến gần thành phố Amarillo, TX thì sẽ thấy một trại bò rất lớn, là nơi người ta sẽ vận chuyển những con bò này đến các nơi khác trên nước. Khi gần đến độ gần 1 mile là quý vị có thể ngưỡi được mùi hôi thối. Chạy ngang qua mọi người đều tăng tốc độ xe vì chịu không nổi cái mùi hôi thối đó.
Trong các thiệp giáng sinh, chuồng chiên máng cỏ như có vẻ thơ mộng với những con thú rất dễ thương. Nhưng đây chỉ là một hình ảnh thi vị hoá bởi những người vẽ thiệp. Chuồng chiên máng cỏ là nơi dành cho súc vật; nơi tối tăm, ẩm thắp, hôi hám, hèn hạ. Chẳng có gì là thơ mộng, cũng không có gì là đẹp đẻ, dễ thương cả! Không một người mẹ nào lại muốn sinh con mình ra trong nơi máng cỏ, chuồng chiên, đặc biệt là con trai đầu lòng. Vậy đó mà Con Trời đã hạ sinh giữa vòng loài người chúng ta trong nơi thấp hèn như vậy. Nếu có một từ để diển tả thì đó là từ khiêm nhường.
Chúa muốn nhắc chúng ta rằng Ngài đến thế gian một cách khiêm nhượng và cho những ai có tấm lòng khiêm nhường. Đây là những người ý thức rằng tấm lòng, tâm hồn của họ cũng như chuồng chiên xưa kia tưởng như sạch sẻ nhưng thật sự chỉ là nơi tối tăm, cần được dọn rửa! Cũng vậy, chuồng chiên máng cỏ là nơi bần hèn nhất lại được chưng bày mỗi mùa lễ Giáng Sinh để nhắc loài người về phẩm hạnh khiêm nhường của Đức Chúa Jê-sus Christ, về tình yêu thương vô bờ bến của Thượng Đế đối với những người sống nơi tối tăm nhất, bần hàn nhất của xã hội.
Những tiếng gọi của vật chất, của thế gian chiếm hết thì giờ trong ngày, trong tuần. Đòi hỏi của xác thịt át đi cả tiếng gọi của ĐCT. Ngày này qua ngày nọ, năm này qua năm khác, chạy đuổi theo nhu cầu, đòi hỏi của cuộc sống mỗi ngày, chúng ta quên dần đi nhu cầu về đời sống tâm linh, về sự cần thiết của Thượng Đế trong cuộc sống. Không ai còn có chỗ cho Đức Chúa Trời trong đời sống.
Chỉ có vài người có chỗ cho Đức Chúa Trời khi Jê-sus giáng sinh. Ma-ri có chỗ cho Đức Chúa Trời. Bà cam chịu mọi tiếng đồn đãi, thị phi, mọi nhọc nhằn để cưu mang con trẻ cho đến ngày sinh nở. Giô-sép có chỗ cho Chúa bởi vì ông tin lời phán dạy của thiên sứ lấy Ma-ri làm vợ dù biết hôn thê mình đang mang thai. Rồi chấp nhận con trẻ Jê-sus như chính con trai mình, nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Những người mục đồng có chỗ cho Đức Chúa Trời. Dù đang phải chăn chiên ngoài đồng vào lúc giữa đêm lạnh lẽo, họ tin lời thiên sứ, tạm ngừng công việc để vào làng Bết-lê-hem mà tôn thờ Con Trời vừa mới hạ sinh. Các bác sĩ từ đông phương có chỗ cho Chúa. Họ không ngại đường xá xa xôi từ phương xa đem theo những của vật quý báu đến tìm nơi con trẻ mới sinh để thờ lạy.
Đối với những người này ĐCT có một vị trí quan trọng trong đời sống, trong tâm hồn của họ. Không phải họ không thực tế, bỏ quên công việc hằng ngày hay chỉ sống trong mộng tưởng, nhưng đây là người ý thức về giá trị của đời sống tâm linh. Như Phao Lô viết: Những gì thấy được chỉ là tạm bợ, những gì không thấy được mới là vĩnh viễn. Người có chỗ cho Thiên Chúa trong đời sống hiểu rằng bên cạnh đời sống vật chất hữu hình, tạm bợ này còn có một đời sống tâm linh đời đời dù vô hình nhưng rất thật. Vì niềm tin đó, họ bỏ thời gian, công sức để chăm sóc, nuôi dưỡng đời sống tâm linh.
Quý vị có chỗ trong đời sống mình cho Thượng Đế hay không? Hay quá bận rộn, bôn ba với công việc, với những đòi hỏi của vật chất trước mắt mà không còn một chỗ nào cho Chúa. Nếu cuộc đời của chúng ta có thể ví như một căn nhà với nhiều phòng, có phòng nào quý vị dành cho Thượng Đế. Hay như trong đêm Jê-sus Christ giáng sinh, tất cả nhà quán đều không còn phòng trống, nhà của quý vị cũng có bản cắm trước sân: không còn chỗ cho Chúa, tất cả phòng đều đầy, hãy đến nhà khác.
Quý vị cũng có thể hỏi: có chỗ cho Chúa trong đời sống có nghĩa gì? Với một số quý vị, có chỗ cho Chúa là chân thành tin nhận Đức Chúa Jê-sus Christ là cứu Chúa của cuộc đời mình. Hãy để Ngài giáng sinh trong tâm hồn của quý vị. Ý thức rằng đời sống tâm linh của tôi cũng tăm tối như chuồng chiên máng cỏ cần được ánh sáng Trời chiếu dọi vào.
Với một số khác cần sự ăn năn, thay đổi; đây là những người dù đã có lần tin nhận Chúa nhưng vẫn còn đang để cho đời sống vật chất, tiếng gọi của xác thịt cai trị đời sống mình. Hãy mời Chúa đến làm chủ đời sống; hãy mở tất cả các cửa phòng, ngõ ngách để Đức Thánh Linh có thể xem xét rồi giúp dọn dẹp những rơm rác, bụi bậm. Có thể đó là một căn phòng cố ý khóa kín vì có những bí mật đen tối mà quý vị không muốn cho ai biết; hay là một căn phòng mà mỗi lần bước vào thì lại thấy đau buồn vì những kỷ niệm hay mất mát ngày xưa mà như mới hôm qua. Hãy để Chúa ngự và làm chủ nhà, quý vị sẽ kinh nghiệm được sự thay đổi kỳ diệu trong cuộc đời mình.
Chúa không ép buộc chúng ta phải có chỗ cho Ngài trong cuộc sống. Kinh Thánh viết rằng Đức Chúa Jê-sus đang đứng ngoài cửa lòng của chúng ta mà gõ, nếu ai nghe tiếng Ngài mà mở cửa nhà thì Ngài sẽ vào và cùng ăn tối với chúng ta. Mỗi người phải tự nguyện mở cửa lòng mình để Thiên Chúa ngự vào. Ngài không ngại chuồng chiên, máng cỏ thấp hèn, chỉ e rằng nhà quán không có chỗ cho Ngài.
Có người viết những lời hết sức ý nghĩa: Bản lề của nhân loại nằm nơi cửa chuồng chiên Jê-sus hạ sinh. Quả thật vậy, sự giáng sinh của Jê-sus Christ thay đổi cả lịch sử của nhân loại. Nhưng Ngài không chỉ đến để thay đổi lịch sử nhân loại mà để thay đổi cuộc đời của mỗi người tin nhận với Ngài. Chúng ta có thể hát mừng Chúa giáng sinh, nhưng bài hát đó có ý nghĩa gì nếu cá nhân chúng ta không biết Chúa là ai và tại sao Ngài lại đến thế gian? Chúng ta có thể tặng quà cho nhau, nhưng nếu quên rằng món quà lớn nhất, quan trọng nhất, giá trị nhất trong mùa lễ là sự giáng thế của con Trời, thì quà tặng cũng không trọn vẹn ý nghĩa. Quả như lời thiên sứ đã phán cùng các mục đồng: Vì này ta báo cho các người một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa.
Tôi mong rằng quý vị sẽ bỏ ít thời giờ trong những ngày lễ bận rộn này để suy nghĩ về một câu hỏi vô cùng quan trọng: quý vị có chỗ cho Đức Chúa Jê-sus Christ trong cuộc đời, trong tâm hồn mình hôm nay hay không. Cầu xin Đức Chúa Trời đầy lòng yêu thương, là Đấng đã ban cho thế gian chính Con Một của Ngài, sinh ra trong nơi thấp hèn, chết cho tội lỗi của chúng ta, sẽ giúp cho quý vị và gia đình kinh nghiệm được sự ánh sáng của sự bình an và hy vọng trong mỗi ngày của mùa lễ giáng sinh này.
