Chuẩn Bị Cho Ngày Chúa Trở Lại (Phần 2)
[Ôn lại bài giảng tuần rồi, phần 1 Chuẩn Bị Cho Ngày Chúa Trở Lại về 5 ngụ ngôn sau bài giảng núi Ô-li-ve trong Ma-thi-ơ 24. Bối cảnh của bài giảng núi Ô-li-ve và 2 câu hỏi của sứ đồ Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế (v4)
Ba ngụ ngôn đầu chủ ý trả lời câu hỏi khi nào Chúa trở lại. Ngụ ngôn thứ 4 về câu hỏi: chúng ta phải làm gì cho đến khi Chúa trở lại. Và ngụ ngôn thứ 5 về ngày phán xét cuối cùng và sự phân biệt của Chúa về hai nhóm người được khen thưởng và chịu trừng phạt đời đời. Trong bài giảng tuần qua tôi tập trung vào 3 ngụ ngôn đầu tiên trả lời câu hỏi khi nào Chúa trở lại. Câu trả lời là không ai biết được, ngoài trừ ĐCCha. Ngụ ngôn thứ 1 trong Ma-thi-ơ 24:43-44 cho biết Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ. Ngụ ngôn đầu tiên về sự Chúa trở lại là ngày cuối khi Chúa trở lại sẽ xảy ra một cách bất ngờ không dự đoán trước, không biết trước được.
Ngụ ngôn thứ 2 trong Ma-thi-ơ 24:45-51 về chủ và người đầy tớ. Nếu ngụ ngôn đầu tiên dạy Chúa sẽ trở lại cách bất ngờ, không thể đoán biết trước được, thì ngụ ngôn này cho thấy một ý khác, rằng: Chúa sẽ trở lại sớm hơn nhiều người nghĩ.
Ngụ ngôn thứ 3 là về 10 trinh nữ thắp đèn chờ đón chàng rễ. Ngụ ngôn thứ 1 dạy chúng ta không biết khi Chúa sẽ trở lại; ngụ ngôn thứ 2 dạy một số người nghĩ chắc còn lâu lắm Chúa mới trở lại nhưng sẽ rất ngạc nhiên, kinh hoàng khi Chúa sẽ trở lại sớm hơn họ nghĩ. Nếu ý chính của ngụ ngôn thứ 2 về chủ và hai đầy tớ là Chúa trở lại sớm hơn người tớ nghĩ, thì ý chính của ngụ ngôn thứ 3 này về 10 trinh nữ đón chàng rễ là Chúa trở lại trể hơn các trinh nữ nghĩ.
Chuyện kể về 10 trinh nữ theo phong tục thời đó đi rước chàng rễ trong đêm nên phải đem theo đèn. 5 trinh nữ dại đem đèn nhưng lại không đem dầu vì nghĩ rằng chàng rễ sẽ đến sớm nên chắc không cần dầu. 5 trinh nữ kia là người khôn ngoan, đem cả đèn và dầu đốt. Chờ mãi chàng rễ vẫn chưa đến nên cả 10 đều ngủ gục. Mãi đến khuya chàng rễ mới đến. Khi chàng rễ đến, 5 người có đèn nhưng không dầu hoảng hốt xin dầu nhưng được bảo chính họ phải đi mua. Còn 5 người có đèn và dầu thì thắp đèn lên và theo chàng rễ vào dự tiệc cưới. Khi họ đã cùng chàng rễ vào thì cửa đóng lại. Sau đó 5 trinh nữ kia trở về với dầu đã mua thấy cửa đóng thì xin mở cho vào. Nhưng được trả lời: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu. Và bài học của ngụ ngôn là Vậy, hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày, cũng không biết giờ.
Chúa sẽ trở lại. Chắc chắn sẽ trở lại. Có thể sớm hơn một số người nghĩ. Có thể trễ hơn số khác nghĩ. Nhưng dù chậm, dù trễ đến mấy, chúng ta cũng phải chuẩn bị và sẵn sàng. Câu hỏi chính yếu và quan trọng hơn hết không phải là khi nào Chúa sẽ trở lại nhưng là khi Chúa trở lại tôi, chính bản thân tôi có sẵn sàng hay không.
Một từ quan trọng hơn hết trong 3 ngụ ngôn về sự Chúa trở lại này là tỉnh thức, tiếp tục theo dõi, trông ngóng (watch, stay awake, be alert). Từ này hàm 2 ý: 1) không thể lơ là, chểnh mãn, làm ngơ dù trong 1 thời gian ngắn vì sự việc có thể xảy ra bất cứ lúc nào, đặc biệt trong lúc bất ngờ nhất; 2) nếu có mệt mỏi, buồn ngủ, phải tìm cách để làm cho mình tỉnh táo, sáng suốt. KT dạy tín đồ phải trông chờ sự trở lại của ĐCJC trong tinh thần này.
Tỉnh thức đây không phải là lúc nào cũng chỉ nói về điều này, chỉ để mắt nhìn lên trời chờ Chúa trở lại. Tín đồ không phải chỉ trông ngóng ngày Chúa trở lại với lời nói và mắt nhìn, nhưng với tấm lòng và hơn hết với sự chuẩn bị. Nếu biết một sự việc quan trọng sẽ xảy ra trong tương lai gần, như tuần tới, năm tới mà chúng ta chỉ nghĩ đến nhưng không làm gì cả, không hề chuẩn bị cho sự việc đó thì có ích lợi gì? Dự tính, chuẩn bị phải đi liền với tỉnh thức, với sự trông ngóng ngày Chúa trở lại.
Một trong những bài học cần thiết và quan trọng nhất trong đời sống này, dù là người tin hay không tin Chúa là sự cần thiết của dự tính và chuẩn bị. Từ bửa ăn hàng ngày cho đến công việc làm ăn buôn bán, từ một em thiếu nhi học lớp 2-3 cho đến một bác sĩ làm việc trong bệnh viện, nhất nhất đều cần dự tính và chuẩn bị. Vì thiếu sự dự tính và chuẩn bị nên khi cơn đại dịch covid-19 xảy đến, cả xứ HK và bao nhiêu quốc gia khác rất bỡ ngở. Dĩ nhiên tôi không nói mọi việc đều có thể tiên đoán, biết trước hay mọi việc đều có thể chuẩn bị cách chu toàn.
Tín đồ cần phải suy nghĩ, dự tính, chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại, ngay từ hôm nay.
Tôi muốn chia sẻ 2 nhận xét và 3 bài học từ câu chuyện ngụ ngôn 10 trinh nữ chờ chàng rễ trở lại này. Nhận xét thứ nhất là về sự giống nhau giữa 10 trinh nữ. Thứ nhất cả 10 đều được mời dự tiệc cưới. Thứ hai là 10 trinh nữ đều như có cảm tình rất nồng hậu và thân mến với chàng rễ như lời ngụ ngôn bắt đầu: Khi ấy, nước thiên đàng sẽ giống như mười người nữ đồng trinh kia cầm đèn đi rước chàng rể.
Cả 10 người đều nhận lời mời, chuẩn bị cách hớn hở, vui vẻ, nhiệt tâm: họ mặc trang phục đẹp đẻ, xứng hiệp cho ngày vui, cho buổi tiệc cưới linh đình, cả 10 đều chuẩn bị đem theo đèn. Trong Ma-thi-ơ 22:1-14, ĐCJC cũng kể một ngụ ngôn khác về tiệc cưới của con vua. Khi vua đã chuẩn bị bửa tiệc và mời khách, thì một số không chịu đến, số khác thì không đếm xỉa đến, cứ việc đi đường mình; kẻ nầy đi ra ruộng, kẻ kia đi buôn bán; 6 còn những kẻ khác bắt đầy tớ của vua, mắng chưởi và giết đi. Nhưng khi được mời tiệc cưới thì cả 10 trinh nữ đều vui mừng nhận lời và chuẩn bị đến dự tiệc. Thứ 3 là cả 10 đều đem theo đèn. Và điều giống nhau thứ 4 là cả 10 trinh nữ sau một thời gian dài chờ đợi mà chàng rễ vẫn chưa đến thì tất cả 10 người đều mệt mõi đến nỗi tất cả phải ngủ gục.
Sự khác biệt giữa 5 người dại và 5 người khôn chỉ được tỏ ra khi chàng rễ đến: 5 đem theo dầu, và 5 không có dầu dù có đèn. Dù cả 10 đều chuẩn bị đem đèn, nhưng chỉ có 5 chuẩn bị dầu.
4 điểm giống nhau và 1 điểm khác nhau trong ngụ ngôn có thể áp dụng cho hội thánh. HT và tín đồ trong HT cũng đang chờ đợi ngày Chúa trở lại. Người trong HT đều được nghe Tin Lành, được mời dự tiệc cưới Chiên Con. Người trong HT đều nhận lời mời thay vì từ chối. Tuy nhiên 1 số có chuẩn bị dầu, số khác lại không. Và chỉ khi Chúa trở lại, chúng ta mới biết rõ ai có dầu, ai không có.
Khi đọc ngụ ngôn này, chắc chắn một số con cái Chúa hỏi: tại sao 5 người có dầu lại ích kỷ, không chia dầu cho các bạn đang cần. Câu trả lời là có những điều trong đời sống tín đồ không thể vay mượn mà phải mua lấy. Hầu hết các sách giải kinh đều giải thích rằng dầu đây không phải là ĐTL vì không ai có thể mua ĐTL cả. Dầu đây là sự chuẩn bị cho đời sống tâm linh của tín đồ. Dù tín đồ có thể đều đến nhà thờ, đều đọc KT, đều cầu nguyện, dâng hiến, thậm chí có thể phục vụ nhưng bên trong đời sống tâm linh có thể rất khác biệt. Không ai biết được đời sống tâm linh thật của tín đồ khi nhìn bên ngoài. Đây là dầu, là sự khác biệt cần thiết và quan trọng nhất của tín đồ: sự chuẩn bị tâm linh, đời sống tin kính với Chúa nơi kín đáo, quan hệ với Chúa khi không ai nhìn thấy. Và mỗi tín đồ phải tự xây dựng đời sống tin kính với Chúa, quan hệ với Chúa.
Tín hạnh không thể vay mượn mà phải trả giá đắt bằng chính sự nổ lực, cố gắng của mỗi cá nhân. Sự kiên nhẫn không thể vay mượn nhưng phải trả giá đắt qua sự chờ đợi, mất mát, thất bại. Ai có thể cho vay mượn những bài học và kinh nghiệm Chúa dạy cho một người trong những ngày tháng dài trong đồng vắng, như đức tin của Đa-vít vào ĐCT sau 10 năm dài bị Sau-lơ tìm giết vô cớ. Làm sao tôi có thể vay mượn sự trung tín phục vụ của một vị giáo sĩ đã hy sinh cả đời để đem TL đến cho những người chưa bao giờ nghe về sự cứu rỗi của ĐCJC. Ngay cả các con của giáo sĩ cũng không thể xin được sự hy sinh đó từ cha mẹ, mà khi con lớn khôn phải tự quyết để chịu trả giá đắt đó hay không. Vợ chồng cũng không thể cho nhau lòng quyết tâm phục vụ Chúa; mỗi người phải tự chọn lấy cho mình, quyết định và hành động cho mình. Vì tất cả chúng ta đều phải ra trước tòa án Chúa Cứu Thế để mỗi người sẽ nhận phần của mình, tùy theo những điều lành, ác mình đã làm khi còn ở trong thân xác. (2 Cô-rinh-tô 5:10 – BDM)
Bởi có chép rằng: Chúa phán: Thật như ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, Và mọi lưỡi sẽ ngợi khen Đức Chúa Trời. 12 Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời. (Rô-ma 14:11-12)
Trong ngày phán xét cuối cùng không ai có thể trả lời thế cho qv và tôi. Mỗi chúng ta phải trả lời với Chúa về chính quan hệ mình với Ngài, với người thân yêu trong gia đình, với anh chị em trong HT, với trách nhiệm và công việc Chúa giao phó.
Nhận xét thứ hai là sự khác biệt duy nhất quan trọng này giữa 5 trinh nữ khôn và 5 trinh nữ dạy, giữa người chuẩn bị và không chuẩn bị chỉ biết được khi chàng rễ đến. Sự khác biệt này chỉ được lộ ra trong những ngày tháng gian, khó khăn, trong đồng vắng hoang vu, hiu quạnh, lẽ loi.
CV 6 kể một câu chuyện về HT đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem khi HT tăng thêm người. Trong lúc đó, bởi số môn đồ càng thêm lên, nên người Hê-lê-nít phàn nàn nghịch cùng người Hê-bơ-rơ, vì những người góa bụa của họ đã bị bỏ bê trong sự cấp phát hằng ngày. 2 Mười hai sứ đồ bèn gọi hết thảy môn đồ nhóm lại, mà nói rằng: Bỏ sự dạy đạo Đức Chúa Trời mà giúp việc bàn tiệc thật chẳng xứng hợp. 3 Vậy, anh em hãy chọn trong bọn mình bảy người có danh tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh và trí khôn, rồi chúng ta sẽ giao việc nầy cho. 4 Còn chúng ta sẽ cứ chuyên lo về sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo. Cả hội đều lấy lời đó làm đẹp lòng, bèn cử Ê-tiên, là người đầy đức tin và Đức Thánh Linh, Phi-líp, Bô-cô-rơ, Ni-ca-no, Ti-môn, Ba-mê-na và Ni-cô-la, là người An-ti-ốt mới theo đạo Giu-đa; 6 và trình bảy người đó cho các sứ đồ; các sứ đồ cầu nguyện rồi, thì đặt tay lên. (CV 6:1-6).
Đây là câu chuyện đầu tiên về sự tuyển chọn các chấp sự và đặt tay cầu nguyện cho họ trong lịch sử HT. Họ được chọn, được đặt tay cầu nguyện để làm gì? Để hầu bàn. Có khác chăng 7 người hầu bàn này là 7 người có dầu: danh tốt, đầy dẫy ĐTL và trí khôn. Vậy nếu chúng hỏi hầu việc Chúa là gì trong câu chuyện này thì câu trả lời rõ là hầu bàn trong HT. Mọi người đều có thể hầu bàn. Nhưng không phải mọi người đều vui lòng hầu bàn. Không phải mọi người đều hầu bàn với mục đích làm cho 2 nhóm tín đồ trong HT đầu tiên được vui vẻ, hòa thuận với nhau. HT có thể huấn luyện tín đồ để hầu bàn, để làm chứng, thậm chí để dạy KT nhưng danh tốt, đầy dẫy ĐTL và trí khôn phải cần thời gian và lời Chúa để thay đổi tấm lòng bên trong của người hầu bàn. Tôi nghĩ những tính hạnh này chính là dầu.
Ba bài học. Thứ nhất: ĐCJC sẽ trở lại cách hoàn toàn bất ngờ, không ai biết trước được. Vì vậy mỗi chúng ta cần chuẩn bị. Hai yếu tố thử thách con người hơn hết và giúp chúng ta biết mình thật sự có dầu hay không: 1) thời gian; 2) hoạn nạn, thử thách. Thời gian là yếu tố quan trọng cho chúng ta biết rõ hơn về một người, một quan hệ, tình cảm, về đời sống tâm linh của tín đồ. Thời gian trong đồng vắng càng lâu càng đòi hỏi đời sống tâm linh có rễ thật sâu vào Đấng Christ. Đây là lý do ĐCT chỉ dùng Mô-se sau 40 năm chăn chiên trong đồng vắng. Đây là lý do Đa-vít đã phải trải qua 10-12 năm dài thử thách khi bị vua Sau-lơ tìm giết cách vô cớ chỉ vì lòng vua ghen tức. Đây là lý do Giô-sép phải qua những năm tháng dài làm nô lệ, bị vu oan, bị tù đày vô cớ trước khi Chúa dùng ông cho việc lớn và khó.
Làm sao chúng ta biết rõ hết được một người và tâm tình của người đó với Chúa, với anh chị em trong Chúa, trong HT trong vài ba ngày hay vài ba tuần? Hễ thời gian càng dài, chúng ta mới có thể có cơ hội để rõ hơn về những gì một người nói với những gì thật sự nghĩ, về niềm tin của người ấy trong Chúa.
Khi còn là sinh viên tôi có dự nhiều buổi trại bồi linh. Bao nhiêu lần tâm hồn tôi như đốt nóng lại sau khi nghe một bài giảng, sau vài ngày tâm tình với những bạn cùng nhiệt tâm muốn hầu việc Chúa. Nhưng rồi ngọn lửa đó nguội lạnh sau một vài tuần lễ khi phải đối diện với những thực tế của đời sống: việc học, việc làm, yếu đuối của thể xác, cám dỗ của thế gian. Cũng vậy khi đến thành phố này tôi có rất nhiều mơ ước, khải tượng về những việc to lớn có thể thực hiện cho Chúa, cho HT. Nhưng rồi khi bắt tay vào việc, gặp thất bại, khó khăn, khi nghe lời chê trách, phê phán, bao nhiêu lần tôi muốn bỏ cuộc. 20 năm qua nhìn lại tôi thấy mình thất bại nhiều hơn thành công, phạm lỗi lầm nhiều hơn làm đúng.
Sự bình an chỉ thật sự đến từ năm qua khi tôi chấp nhận sự thất bại của mình trước Chúa. Đoạn KT tôi suy nghiệm và trở nên quí báu từ 1 Cô-rinh-tô 4:1-5: Vậy, ai nấy hãy coi chúng tôi như đầy tớ của Đấng Christ, và kẻ quản trị những sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. 2 Vả lại, cái điều người ta trông mong nơi người quản trị là phải trung thành. 3 Về phần tôi, hoặc bị anh em xử đoán, hoặc bị tòa án nào của loài người xử đoán, tôi cũng chẳng lấy làm quan hệ gì. Chính tôi chẳng tự xử đoán mình nữa; 4 vì tôi chẳng thấy mình có điều gì đáng tội, nhưng tôi cũng không nhờ sự đó mà được xưng là công bình: Đấng xử đoán tôi, ấy là Chúa. 5 Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự khen ngợi mình đáng lãnh.
Thứ hai: chúng ta không thể chuyển nhượng quan hệ cá nhân với Chúa, đức tin trong Chúa cho người khác. Chúng ta có thể chuyển nhượng tiền bạc, công việc, trách nhiệm, thậm chí kiến thức, nhưng không ai có thể chuyển nhượng đời sống tin kính cá nhân trong Chúa, lòng yêu mến Chúa, kinh nghiệm trong đồng vắng với Chúa cho người khác.
Đến ngày phán xét, khi ứng hầu trước ĐCJC mỗi chúng ta sẽ được hỏi: Nguyên nhân gì, lý do gì cho con có thể vào nước thiên đàng của Ta? Câu trả lời: Thưa Chúa, Chúa có nhớ đến mẹ con hay không? Bà là người yêu mến Chúa, thường cầu nguyện thay cho con. Chúa trả lời: Ta không hỏi về mẹ con, Ta hỏi chính con. Câu trả lời: Thưa Chúa, Chúa có nhớ đến các anh chị em con học KT chung, là những người con giúp đở, cầu nguyện cho họ, họ giúp đở, cầu nguyện cho con. Chúa trả lời: Ta không hỏi về anh chị em trong nhóm học KT của con, Ta hỏi chính con.
Đây là lý do mà 5 trinh nữ có dầu không thể chia bớt dầu của họ: bởi vì mỗi người phải tự trả lời với Chúa về quan hệ của mình, về chính đời sống tin kính của mình. Đức tin của người thân yêu không thể cứu chúng ta. Đức tin của anh em cầu thay cho chúng ta không thể cứu chúng ta. Mỗi chúng ta phải thắp đèn bằng chính dầu của mình, tức bằng chính quan hệ của mình với Chúa. Anh chị em có sẵn sàng cho điều này hay không?
Bài học thứ ba: đến một thời điểm nhất định mọi người sẽ không còn cơ hội nữa. Khi 5 trinh nữ mua dầu trở về, thì cửa của buổi tiệc đã đóng lại. Dù họ có nài xin, cầu khẩn đến mấy thì cũng đã muộn màng. Đây chính là lý do PL dạy: Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi. Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi! (2 Cô-rinh-tô 6:2)
Câu hỏi cuối là vậy chúng ta phải làm gì để chuẩn bị cho ngày Chúa đến. ĐCJC dạy điều chúng ta phải làm để chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại trong ngụ ngôn ta-lâng trong Ma-thi-ơ 25:14-30. Nếu ngụ ngôn 10 trinh nữ dạy chúng ta cần có quan hệ mật thiết, cần có đức tin trong Chúa cho đến ngày Chúa trở lại, thì ngụ ngôn ta-lâng dạy chúng ta cần thể hiện đức tin đó qua việc làm, qua hành động.
Ngụ ngôn 10 trinh nữ có thể được ví như lời dạy của PL: Vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp.” (Rô-ma 3:28). Hay Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Ê-phê-sô 2:8-9)
Ngụ ngôn ta-lâng như lời Gia-cơ dạy: Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết. 18 Hoặc có kẻ nói: Ngươi có đức tin, còn ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta. (Gia-cơ 2:17-18).
Nhân đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi. (Gia-cơ 2:24)
1. ĐCT là chủ của đời sống tôi
Vả, nước thiên đàng sẽ giống như một người kia, khi đi đường xa, gọi các đầy tớ mà giao của cải mình. (Ma-thi-ơ 25:14)
Chủ gọi các đầy tớ mà giao. Chúng ta không là chủ của đời mình và cũng không là chủ của những điều mình có trong đời này. Từ giao có nghĩa là uỷ thác để trông giữ, hay giao phó quyền được dùng, hay quản lý. Tôi và quí vị chỉ là người quản lý cho ĐCT.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. (STK 2:15)
Đất và muôn vật trên đất, Thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va. (TT 24:1)
Các ngươi không được bán vĩnh viễn đất mình, vì đất là của Ta; đối với Ta các ngươi chỉ là những kiều dân và những kẻ tạm trú. (Lê-vi-ký 25:23 –BDM)
Hãy nhớ lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì ấy là Ngài ban cho ngươi sức lực đoạt được những sản nghiệp (khả năng làm giàu) (Phục Truyền 8:18)
Bạc là của ta, vàng là của ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. (A-ghê 2:8)
Từ ta-lâng theo Anh ngữ hôm nay có nghĩa là khả năng tự nhiên có nguồn gốc từ ta-lâng trong câu chuyện ngụ ngôn này. Chúng ta có thể định nghĩa ta-lâng là tất cả mọi điều ĐCT ủy thác, ban cho trong đời, gồm 4 điều chính yếu sau đây:
Vật chất - mọi điều cần thiết cho cuộc sống như công việc, thức ăn, nhà ở, xe cộ đi lại, tiền bạc, của cải. Ngày nay có rất nhiều thứ mà người ta cho là cần thiết mà trước đó xem là đồ xa xí.
Khả năng – có thể gọi là ân tứ nếu là những khả năng dùng cho lợi ích hội thánh, công việc Chúa. Kiến thức, khôn ngoan, khéo tay (skill) để làm việc, cống hiến cho xã hội, gia đình, hội thánh.
Thời gian - thời gian sống trên đời này. Có người sống vài ba mươi năm, có người đến 80, 90. Chúng ta không thể định được ngày mình sinh ra đời, thì cũng không thể định ngày sẽ qua đời, về với Chúa. Thời gian là món quà Chúa ban cho để đầu tư.
Cơ hội – ĐCT đặt để con dân Ngài vào những công việc, nơi chốn khác nhau để có thể tiếp xúc, nói về Chúa cho người chưa biết Tin Lành.
2. ĐCT ban ta-lâng cho mọi người
Chủ đó cho người nầy năm ta-lâng, người kia hai, người khác một, tùy theo tài mỗi người (25:15)
Không một tín đồ nào lại không có ta-lâng cả. ĐCT đều ban cho mỗi tín đồ ta-lâng. Có khác chăng là số lượng tùy theo khả năng quản lý.
Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời. (1 Phi-e-rơ 4:10)
Vì chúng ta có các sự ban cho khác nhau, tùy theo ơn đã ban cho chúng ta (Rô-ma 12:6-8)
Vấn đề là nhiều người trong chúng ta không thích ta-lâng Chúa ban cho mình mà muốn được ta-lâng Chúa ban cho người khác. Chúng ta thường so sánh, phê bình, chê khen ta-lâng Chúa cho. Chúng ta trách Chúa tại sao lại không cho con ta-lâng mà người này, người nọ có mà lại cho con ta-lâng nhỏ síu, tầm thường mà con không thích.
3. ĐCT ban cho ta-lâng để đầu tư, làm lợi ích
Tức thì, người đã nhận năm ta-lâng đi làm lợi ra, và được năm ta-lâng khác. 17 Người đã nhận hai ta-lâng cũng vậy, làm lợi ra được hai ta-lâng nữa. 18 Song người chỉ nhận một thì đi đào lỗ dưới đất mà giấu tiền của chủ. (25:16-18)
Hai người có 5 và 2 ta-lâng đều đầu tư làm ra lợi. Họ mua cổ phần chứng khoán; dùng ta-lâng Chúa cho để sinh ra thêm lợi ích. Muốn quản lý tiệm lớn trước hết phải học quản lý tiệm nhỏ. Việc lớn bắt đầu từ những việc nhỏ.
Vì chúng ta có các sự ban cho khác nhau, tùy theo ơn đã ban cho chúng ta, ai được ban cho nói tiên tri, hãy tập nói theo lượng đức tin; 7 ai được gọi đến làm chức vụ, hãy buộc mình vào chức vụ; ai dạy dỗ, hãy chăm mà dạy dỗ; 8 ai gánh việc khuyên bảo, hãy khuyên bảo; ai bố thí, hãy lấy lòng rộng rãi mà bố thí; ai cai trị, hãy siêng năng mà cai trị; ai làm sự thương xót, hãy lấy lòng vui mà làm. (Rô-ma 12:6-8)
Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh. 5 Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. 6 Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. 7 Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung. 8 Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức. 9 Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh; 10 người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy. 11 Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người. (1 Cô-rinh-tô 12:4-11)
4. ĐCT sẽ tính sổ về ta-lâng Chúa ban
Cách lâu ngày, chủ của những đầy tớ ấy trở về khiến họ tính sổ. 20 Người đã nhận năm ta-lâng bèn đến, đem năm ta-lâng khác nữa, và thưa rằng: Lạy chúa, chúa đã cho tôi năm ta-lâng; đây nầy, tôi làm lợi ra được năm ta-lâng nữa… Người đã nhận hai ta-lâng cũng đến mà thưa rằng: Lạy chúa, chúa đã cho tôi hai ta-lâng; đây nầy, tôi đã làm lợi ra được hai ta-lâng nữa. (25:19-20, 22)
KT dạy đến ngày cuối cùng mọi người, dù là người tin Chúa hay không tin Chúa đều sẽ bị phán xét. ĐCJC sẽ là Đấng Phán Xét mọi người, mọi đầu gối phải quì xuống, mọi miệng sẽ xưng Jesus là Chúa. Sự phán xét trong ngày cuối được gọi là sự phán xét từ tòa lớn và trắng (white throne judgment) theo KH 20:11-12: Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. 12 Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra.
Nhưng KT phân biệt hai sự phán xét. Một là cho những người từ chối sự cứu rỗi không có tên trong sổ của sách sự sống. Nơi ở đời đời của họ là địa ngục, là nơi họ toàn quyền sống theo ý riêng của họ vì đã không muốn sống theo làm theo ý của ĐCT.
Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. 13 Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự chết và Âm phủ cũng đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm. 14 Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. 15 Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa (KH 20:12b-15)
Đây không phải là sự phán xét cho những người Chúa giao ta-lâng. Tin mừng cho người được cứu là tên đã được ghi vào sách sự sống và được hứa sẽ không có sự đoán phạt (trừng phạt) cho những người trong ĐCJC (Rô-ma 8:1) Tuy nhiên, mỗi người tin Chúa đều được ĐCT ban cho ta-lâng và mỗi người rồi sẽ đứng hầu trước Chúa để trả lời về việc mình đã làm gì với những ta-lâng Chúa ban cho. Đã đầu tư để sinh ra lợi hay đã đem chôn nó.
* Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa. 10 Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt. (2 Cô-rinh-tô 5:10) PL viết cho tín đồ.
* Vì chúng ta hết thảy sẽ ứng hầu trước tòa án Đức Chúa Trời. Bởi có chép rằng: Chúa phán: Thật như ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, Và mọi lưỡi sẽ ngợi khen Đức Chúa Trời. 12 Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời. (Rô-ma 14:10-12)
* Nếu có kẻ lấy vàng, bạc, bửu thạch, gỗ, cỏ khô, rơm rạ mà xây trên nền ấy, 13 thì công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra. 14 Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình. 15 Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy. (1 Cô-rinh-tô 3:12-15). Đây là sự phán xét cho mọi người đã nhận ta-lâng để dùng cho Chúa trong cuộc đời mình.
Không dùng ta-lâng cho công việc Chúa là sai quấy, thậm chí tội lỗi
Người chỉ nhận một ta-lâng cũng đến mà thưa rằng: Lạy chúa, tôi biết chúa là người nghiêm nhặt, gặt trong chỗ mình không gieo, lượm lặt trong chỗ mình không rải ra, 25 nên tôi sợ mà đi giấu ta-lâng của chúa ở dưới đất; đây nầy, vật của chúa xin trả cho chúa. 26 Song chủ đáp rằng: Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác kia (25:24-26)
Chú ý lời biện hộ của người chôn ta-lâng: biết chúa là người thế này, thế nọ. Người ấy có thật biết chủ mình không? Lại còn buộc tội chủ là gặt chỗ không gieo, lượm lặt chỗ không rải ra! Nên tôi sợ!
Ai muốn Chúa gọi mình là tên đầy tớ dữ và biếng nhác? Từ dữ đây có nơi khác được dịch là xấu xa, tội lỗi. Ai muốn được Chúa gọi là người đầy tớ trung tín, ngay lành? ĐCJC tương phản hai hình ảnh của hai người đầy tớ cho Chúa. Cả hai đều được nhận ta-lâng tùy theo ân điển, khả năng nhưng lại dùng cách khác nhau: một bên đầu tư sinh thêm lợi nhuận, một bên lại chôn dưới đất.
Chúng ta chôn gì dưới đất? Điều gì không muốn người khác thấy, biết. Người, vật đã chết. Out of sight, out of mind! Thà dùng ta-lâng Chúa ban cho mà thất bại còn hơn là đem chôn nó. Bao nhiêu tín đồ chỉ an phận “tôi đi nhà thờ, đọc KT, cầu nguyện là đủ rồi” Đi nhà thờ, đọc KT, cầu nguyện để làm gì? Để biết mình có ta-lâng gì Chúa ban cho, để có thể dùng ta-lâng Chúa ban cho mà phục vụ, làm công việc Chúa. Người bảo rằng “chỉ đi nhà thờ, đọc KT, cầu nguyện” nhưng không làm gì cả là người đầy tớ đem chôn của chủ giao phó. Chúa sẽ gọi những người đó là đầy tớ dữ và biếng nhác.
Quí vị hỏi lý do gì tín đồ lại đem chôn ta-lâng Chúa ban? Có ít nhất ba lý do sau đây:
1. Lo sợ, hoài nghi, thiếu tự tin – tôi không biết ta-lâng tôi có so thế nào với anh này, chị nọ. Tôi sợ sẽ thất bại. Tôi sợ sẽ bị mất mát. Sợ sẽ bị người này người nọ đánh giá, chê bai, chỉ trích.
Sợ loài người là một cái bẫy cho mình; Nhưng ai tin cậy CHÚA được an toàn. (CN 29:25)
2. Tự thương hại, tự kỷ (self-pity) – tôi đã thử rồi và đã thất bại rồi. Hay tôi đã thử rồi nhưng người ta không biết quí mà còn lại trách móc, chê bai, nói xấu. So what? Quí vị hầu việc ai? Người ta hay ĐCT? Ai là chủ, là Chúa đời sống qv? Người ta hay ĐCT. Người tự thương hại là người viện cớ quá khứ để biện hộ cho sự thụ động hiện tại. Điều quan trọng không phải là quá khứ hay kết quả trong quá khứ qv thế nào nhưng là hướng của bàn chân qv hiện tại.
Cũng không phải vì qv không làm được việc lớn, việc khó, việc nổi bật nên qv không làm gì cả!
3. Sợ người hơn sợ Chúa, trọng đời này hơn trọng đời sau
Nghĩ xem về PL là kẻ đã phạm tội tày trời, bắt giết người tin Chúa. PL trở nên sứ đồ cho dân ngoại.
Nghĩ xem về Phierơ là người đã chối ĐCJC ba lần. Phierơ trở nên người giảng đầu tiên của hội thánh đầu tiên khiến trăm, ngàn người tin Chúa.
5. ĐCT sẽ ban thêm cho người dùng ta-lâng và lấy đi từ người không dùng, chôn ta-lâng
Vậy, các ngươi hãy lấy ta-lâng của người nầy mà cho kẻ có mười ta-lâng. 29 Vì sẽ cho thêm kẻ nào đã có, thì họ sẽ dư dật; nhưng kẻ nào không có, thì cũng cất luôn điều họ đã có nữa. (25:28-29)
Lời dạy nào cũng là một nguyên tắc chung cho mọi người trong cuộc đời này: càng dùng, càng phát triển, tiến bộ, càng thêm lên; không dùng, càng yếu ớt, rồi sẽ mất đi. Bắp thịt không dùng sẽ teo lại, yếu đi. Trí óc không dùng rồi sẽ chậm lục.
Violin là một nhạc cụ rất độc đáo. Nhưng người mới tập violin khiến mọi người đều muốn bịt tai. Nhưng nếu không tập thì làm sao tiến bộ. Đến khi đã trở nên một nhạc sĩ giỏi thì nhạc cụ đó đem lại bao nhiêu âm điệu du dương thổn thức tấm lòng người nghe.
Nhiều người chỉ muốn là nhạc sĩ giỏi mà không muốn bắt đầu tập luyện (đem chôn ta-lâng). Phải thử, phải dùng mới biết rõ khả năng Chúa ban cho. Và càng dùng, càng tiến bộ, hữu dụng. Bài giảng của tôi 10 năm về trước khác bây giờ. Tại sao? Vì tôi bỏ công sức, thời gian, trí óc vào để trao dồi, học hỏi, thay đổi cho ngày càng tốt hơn.
Một điều chắc chắn là nếu qv không dùng ta-lâng Chúa ban cho, nếu đem chôn nó đi, qv sẽ mất đi luôn ta-lâng đó, cuộc đời qv sẽ mất đi ơn phước Chúa ban thêm cho. Ơn càng thêm ơn là như vậy đó.
6. ĐCT sẽ ban thưởng cho người hầu việc
Dù là người có 5 hay 2 ta-lâng, chủ đều khen và nói với họ như nhau: Chủ đáp rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi. (25:23)
Chúa sẽ khen tặng người dùng ta-lâng Chúa ban cho để làm lợi ích cho công việc Ngài.
Chúa sẽ ban thưởng (ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều)
Chúa sẽ mời đến chung hưởng ơn phước đời đời - hưởng sự vui mừng
Chúng ta sẽ làm gì với đời mình? Chôn đi ta-lâng Chúa ban cho? Sống theo ý thích của mình? Sống để thêm của cải, vật chất, tiện nghi? Hay để dùng ta-lâng Chúa ban cho mà làm lợi ích cho công việc Ngài?
