Chúa Sẽ Lau Hết Nước Mắt
Bài giảng hôm nay có tựa đề là Chúa Sẽ Lau Hết Nước Mắt dựa theo KH 7:17 Vì Chiên Con ở giữa ngai sẽ chăn giữ và hướng dẫn họ đến các suối nước sự sống. Đức Chúa Trời sẽ lau sạch tất cả các giọt lệ nơi mắt họ." Đoạn KT chúng ta sẽ đọc từ KH 7:9-17 về khải tượng của một đoàn dân rất đông không đếm được trước ngai ĐCT, thờ lạy ca tụng, ngợi khen Chúa. Họ là ai? Tại sao họ lại ca tụng ĐCT? Tại sao ĐCT lại hứa sẽ lau sạch tất cả những giọt lệ nơi mắt họ. Đây là 3 điều chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài giảng hôm nay: 1) Đoàn dân này là ai? 2) Tại sao họ ca tụng Đấng ngồi trên ngôi và Chiên Con; 3) Ơn phước họ sẽ nhận từ Đấng ngồi trên ngôi và Chiên Con.
ĐOÀN DÂN NÀY LÀ AI?
Sau đó, tôi thấy một đoàn người rất đông không ai đếm được, từ tất cả các quốc gia, chủng tộc, dân tộc và ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Chiên Con, mặc áo dài tinh bạch, tay cầm cành lá kè [chà là, thiên tuế]… Một trong các trưởng lão hỏi tôi: "Những người mặc áo tinh bạch kia là ai và từ đâu đến?" 14 Tôi đáp: "Thưa ngài, ngài biết rõ." Người ấy bảo tôi: "Họ là những người ra khỏi cuộc Đại Nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con. (KH 7:9, 13-14)
Trong bài giảng tuần rồi từ KH 7:1-8 chúng ta đọc về khải tượng Giăng nhận được sau khi ấn thứ 6 của cuộn sách niêm phong với 7 ấn mở ra nhưng trước khi ấn 7 được mở. Trong khải tượng đó, sứ đồ Giăng thấy 4 thiên sứ đứng tại 4 góc đất cầm giữ 4 ngọn gió của thế gian. 4 góc đất nói lên quyền làm chủ hoàn toàn của ĐCT trên thế gian. Bốn ngọn gió của thế gian nói lên những tai họa và những sự trừng phạt sẽ xảy ra trên đất cũng như 4 kỵ mã đem đến những tai ương, thảm họa trên đất. Hình ảnh này cũng giống như trong khải tượng của tiên tri Xa-cha-ri về 4 ngựa đi 4 phía. 4 thiên sứ này có quyền dùng những ngọn gió để phá hoại đất và biển. Rồi Giăng thấy một thiên sứ hiện ra từ phía Đông tay cầm một dấu ấn của ĐCT. Thiên sứ này nói với 4 thiên sứ đứng 4 góc trời, cầm 4 ngọn gió thế gian là "Đừng phá hoại đất, biển hoặc các cây cối cho đến khi nào chúng tôi đóng ấn trên trán các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta!"
Thay vì thấy những những đầy tớ của ĐCT được đóng ấn, thì Giăng lại được nghe về con số người được đóng ấn và nghe về họ là ai. Giăng nghe số người được đóng ấn là 144,000 người thuộc 12 chi bộ Y-sơ-ra-ên. Việc đóng ấn trên các đầy tớ của ĐCT có nghĩa gì? Cuộn sách về chương trình cứu rỗi và sự phán xét loài người được niêm phong với 7 ấn của ĐCT, nói lên quyền làm chủ của Chúa trên dòng lịch sử loài người. Mọi chuyển biến trong lịch sử loài người xảy ra hoàn toàn trong thời điểm và theo ý chỉ đã định từ trước muôn đời của ĐCT. Việc mở ấn của ĐCJC cũng cho biết chỉ khi nào Chúa cho phép thì những sự việc trong sách mới có thể xảy ra. Việc đóng ấn trên các đầy tớ xác nhận rằng những người này đã được ĐCT chọn, được cứu và thuộc về Chúa. Điều này cũng nói lên sự bảo đảm chắc chắn của sự cứu rỗi của người tin Chúa. Những người nhận dấu ấn là những người được gìn giữ, bảo vệ, và sẽ giữ trọn đức tin trong Chúa dù qua những cơn đại nạn kinh khiếp của những ngày sau rốt.
KH xác định rõ rằng trong những ngày sau rốt, trong thời gian đại nạn hoặc người ta sẽ có dấu ấn của ĐCT, hoặc sẽ có dấu ấn của con thú, của Sa-tan. Hoặc thuộc về Chúa, hoặc thuộc về ma quỉ. Người mang dấu ấn ĐCT sẽ bị Sa-tan bắt bớ, hãm hại. Trong thư tín gởi 7 HT Tiểu Á thì đây là những tín đồ từ chối thờ lại đại đế La-mã dù chịu bắt bớ, tù đày, thậm chí bị giết. Người mang dấu con thú sẽ được dễ dàng, thuận lợi trong cuộc sống trên đất nhưng sẽ chịu sự trừng phạt của ĐCT. Trong những ngày cuối chỉ có 2 sự lựa chọn, 2 con đường, 2 dấu ấn, hoặc thuộc về ĐCT, hoặc thuộc về ma quỉ.
Đoạn 8-9 cho biết khi ấn thứ 7 mở ra thì sẽ có 7 kèn thổi. Chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết và ý nghĩa trong các bài giảng tới. Mỗi lần thiên sứ thổi kèn thì xảy ra những đại nạn kinh khiếp mà thế giới này chưa bao giờ chứng kiến. Khi lam kỵ mã có tên là Sự Chết xuất hiện thì 1/4 dân số thế giới sẽ bị tàn sát vì đói kém, chiến tranh, dịch lệ. Nhưng khi các kèn thổi thì 1/3 dân số trên thế giới này thiệt mạng. Cường độ và nhịp độ của sự tàn phá, chết chóc, tai họa tăng lên bội phần.
Khi kèn thứ nhất thổi 1/3 đất, cây cối và cỏ xanh trên đất bị hủy diệt. Khi kèn thứ hai thổi, 1/3 biển biến như máu, 1/3 sinh vật trong biển chết, 1/3 tàu bè tàn phá. Kèn thứ ba thổi, 1/3 sông ngòi, suối nước bị hủy diệt. Kèn thứ tư, 1/3 thiên thể trên trời, mặt trời, mặt trăng, các vì sao trở nên tối tăm. Kèn thứ 5, cả thế giới sẽ bị hành hạ đau đớn đến nỗi mong chết nhưng không được bởi ma quỉ, ngoại trừ 144,000 người đã được dấu ấn của ĐCT. Họ sẽ được thoát khỏi sự hành hạ đau đớn khủng khiếp này. Khi các bát thạnh nộ trút xuống thế gian, thì sẽ giáng sự trừng phạt trên những người mang dấu con thú. Dù vậy chúng ta biết chắc một điều là những người đã được ĐCT đóng ấn sẽ trung tín với Chúa cho đến phút cuối đời trước những đại nạn khi 7 kèn thổi và 7 bát thạnh nộ trút xuống thế gian này.
Sau khi nghe về con số 144,000 người được đóng ấn, Giăng lại thấy đoàn dân đông vô số kể mặc áo trắng, tay cầm lá đứng quanh ngôi ĐCT mà ca tụng, ngợi khen, cảm tạ. Hai nhóm người có liên hệ gì với nhau hay không? Tôi tin rằng 144,000 người nhận dấu ấn của ĐCT cũng chính là đoàn dân đông không đếm được từ khắp các quốc gia, chủng tộc, dân tộc và ngôn ngữ trước ngôi ĐCT.
Tôi xin giải thích. Trước hết đây là những người đã ra khỏi những cơn đại nạn. Khi một trưởng lão hỏi: Những người mặc áo tinh bạch kia là ai và từ đâu đến? Thì được cho biết: Họ là những người ra khỏi cuộc Đại Nạn, đã giặt và phiếu [tẩy] trắng áo mình trong huyết Chiên Con. (7:14).
Hình ảnh áo trắng tượng trưng cho sự thánh khiết, cho sự phước hạnh, yên nghĩ. Áo trắng và lá kè cũng là biểu tượng của chiến thắng. Như khi ĐCJC cưỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem, thì dân chúng trong thành trải lá kè và áo của chính họ trên đường để đón mừng Chúa như một vị vua đem đến hòa bình.
Chủ yếu có 2 cách giải thích về số người 144,000 nhận dấu ấn. Cách thứ nhất cho rằng đây là số người được cứu từ dân tuyển Y-sơ-ra-ên trong ngày sau rốt, như PL đã viết trong Rô-ma 11:25-26: Vả, hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, e anh em khoe mình khôn ngoan chăng: ấy là một phần dân Y-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ; 26 vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, Cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp.
Chúng ta nhớ khi ấn thứ 5 mở ra thì Giăng thấy khải tượng về các linh hồn của những người tử đạo kêu van cùng ĐCT cho đến chừng nào Chúa mới báo thù, thì câu trả lời là nghỉ ngơi ít lâu nữa, cho đến khi đủ số bạn đồng lao và các anh chị em sắp bị giết như họ. Đây là một chi tiết cùng với Rô-ma 11 được dùng để giải thích rằng con số 144,000 người chính là dân Y-sơ-ra-ên được cứu trong ngày sau rốt.
Hai vấn đề chính của cách giải thích này. Thứ nhất là danh sách của 12 chi bộ Y-sơ-ra-ên hoàn toàn khác với các danh sách trong CU, như trong STK 49 và Ê-xê-chi-ên 48.
Danh sách theo Ê-xê-chi-ên là danh sách của sự cứu rỗi cuối cùng của Y-sơ-ra-ên và sự phân bố đất trong xứ cho các chi bộ. Vậy nếu Giăng có ý nói về sự cứu rỗi của dân tuyển Y-sơ-ra-ên, ông sẽ dùng danh sách theo như trong Ê-xê-chi-ên 48.
Vấn đề thứ hai là việc đóng ấn nhằm để bảo vệ trước những đại nạn, chứ không phải là biểu tượng của sự cứu rỗi. Hình ảnh dấu ấn ĐTL trong các thư tín của PL là cho những người đã tin nhận Chúa và là đảm bảo chắc chắn về sự cứu rỗi và sự thánh hóa trong đời sống người tin Chúa. Dấu ấn ĐTL không phải để cứu nhưng chỉ cho những người đã được cứu. Cũng vậy 144,000 người nhận dấu ấn là những người đã được cứu, chứ không phải những người chưa tin Chúa nhận ấn để được cứu.
Cách giải thích thứ hai cho rằng số 144,000 người này là biểu tượng cho tất cả hội thánh Chúa, gồm những người tin Chúa trong suốt thời đại HT có nghĩa là tất cả người tin Chúa từ khi ĐCJC trở về trời cho đến khi Chúa sẽ trở lại để cai trị trên đất này trong 1000 năm. Câu hỏi là làm thế nào để giải thích con số này tượng trưng cho hội thánh Chúa trong suốt các thời đại?
Câu trả lời là vì những lời dạy trong TU rằng HT Chúa gồm những người tin ĐCJC mới thật là dân tuyển Y-sa-ra-ên. Như PL viết: Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa. (Ga-la-ti 3:29) Nguyền xin sự bình an và sự thương xót giáng trên hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực nầy, lại giáng trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa! (Ga-la-ti 6:16). Dân Y-sơ-ra-ên của ĐCT trong câu KT này có nghĩa là hội thánh của ĐCJC.
Hay Vì không phải người Do Thái bề ngoài là người Do Thái thật, cũng không phải cắt bì phần xác bên ngoài là cắt bì thật 29 Nhưng người Do Thái thật là người Do Thái bề trong và cắt bì thật là cắt bì trong lòng, bởi Thánh Linh chứ không phải bởi văn tự. Người như thế thì được khen không phải từ người ta mà từ Đức Chúa Trời. (Rô-ma 2:28-29)
Trong thư gởi HT Si-miệc-nơ lời ĐCJC dạy: Ta biết sự khốn khó nghèo khổ của ngươi (dầu ngươi giàu có mặc lòng), và những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội quỉ Sa-tan. (KH 2:9). Cũng một ý dạy cho HT Phi-la-đen-phi: Nầy, ta ban cho ngươi mấy kẻ trong những kẻ thuộc về hội quỉ Sa-tan, chúng nó xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, nhưng chúng nó nói dối (KH 3:9)
Cách giải thích này hợp lý và làm rõ ý về 2 khải tượng trong KH 7 về hai nhóm người như khác nhau nhưng là một: số 140,000 người nhận dấu ấn cũng chính là đoàn dân đông không đếm mặc áo tinh bạch trước ngôi ĐCT. Có khác chăng là về thứ tự thời gian.
Trong khải tượng Giăng nhận, ông có thể thấy hai nhóm người này trong một lúc. Nhưng về thời gian KH 7:1-8 về 144,000 người nhận dấu xảy ra trước thềm của đại nạn, trước khi các ấn của cuộn sách mở ra. Sau khi 7 ấn của sách đã mở, thì đoàn dân đông trong KH 7:9-17 mới có thể hiện đến trước ngôi vì đây là những người đã ra khỏi cơn đại nạn, đã được vào nước Trời sáng láng đời đời. Lúc đó họ mới ca tụng ĐCT với những lời ngợi khen, cảm tạ, biết ơn và được Chiên Con đưa đến những suối nước hằng sống và được lau hết những giọt lệ trên mắt. Vậy chúng ta có thể điều chỉnh lại biểu đồ về thứ tự thời gian của những diễn tiến trong KH như sau: KH 7:1-8 -> KH 6-19 -> KH 21 (trời mới đất mới), 7:9-17. [slide]
TẠI SAO HỌ CA TỤNG CHIÊN CON
Họ hô lớn: "Ơn cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng ngự trên ngai và thuộc về Chiên Con!" 11 Tất cả các thiên sứ đứng quanh ngai, quanh các trưởng lão và bốn sinh vật. Họ quỳ sấp mặt trước ngai và thờ lạy Đức Chúa Trời, 12 mà tung hô: "A men! Đức Chúa Trời chúng ta đáng được ca tụng, vinh quang, khôn ngoan, cảm tạ, danh dự, quyền năng và dũng lực cho đến đời đời vô cùng. Amen!"
Tại sao đoàn dân đông ra khỏi cơn đại nạn lại ca tụng ĐCT và Chiên Con? Câu trả lời đơn giản là bởi vì ĐCT đã ban ĐTL như là dấu ấn để gìn giữ, bảo vệ họ thoát qua những cơn đại nạn kinh khiếp trong những ngày thử thách sau rốt. Trong bài giảng trên núi Ô-li-vê khi các môn đồ hỏi ĐCJC về những điềm và dấu về những ngày sau rốt thì Chúa nói: Các con sẽ bị cha mẹ, anh em, bà con, bạn hữu phản nộp; họ sẽ giết một số người trong các con. 17 Các con sẽ bị mọi người ghen ghét vì danh Ta. 18 Nhưng không một sợi tóc nào trên đầu các con sẽ bị mất. 19 Nhờ kiên trì các con sẽ giữ được linh hồn mình. (Lu-ca 21:16-19 – BDM). Khi mới đọc qua lời dạy này của Chúa, chúng ta thấy như mâu thuẩn, không hợp lý. Vì làm thế nào một số người tin Chúa sẽ bị giết nhưng không một sợi tóc nào trên đầu họ sẽ bị mất? Phải chăng Chúa nói lời này để bảo đảm đầu tóc của chúng ta còn nguyên vẹn, đẹp đẽ khi nằm trong quan tài? Dĩ nhiên không.
Ý Chúa dạy như sau. Không một sợi tóc nào trên đầu họ sẽ bị mất có nghĩa là từ trước vô cùng, trước khi mọi hoạn nạn, mất mát, khó khăn xảy ra thì ĐCT trong tình yêu thương đã có một chương trình, dự tính, kế hoạch vô cùng chi tiết cho đời sống người nhận dấu ấn. Chương trình, dự tính đó không phải để làm hại, để trừng phạt nhưng để tôi luyện dân sự Ngài qua sự thử thách, qua hoạn nạn. Có nghĩa là không một điều gì có thể xảy ra cho con dân Chúa ngoài ý chỉ đã định của Ngài, trừ khi Chúa cho phép. Và những điều xảy ra, xảy ra với mục đích để dạy dỗ, tôi luyện người tin Chúa.
Lời ca tụng của họ bày tỏ lòng biết ơn Ơn cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng ngự trên ngai và thuộc về Chiên Con!" Vì họ ý thức rõ rằng nếu Chúa không chọn và đóng dấu ấn thì họ không thể được cứu, không thể qua khỏi những cơn đại nạn kinh khiếp mà giữ lòng trung tín với Chúa cho đến cuối. Dưới mắt người đời hay người chưa trưởng thành trong Chúa thì nổ lực, cố gắng của con người giúp họ đứng vững trước những hoạn nạn, thử thách, mất mát trong đời, để giữ vững đức tin cho đến cuối. Nhưng người càng gần Chúa, càng ý thức rõ hơn về sự ban cho của ĐTL, lại càng biết ơn Chúa hơn vì ân điển, sức mới Chúa ban cho mỗi ngày để tiếp tục bước đi trung tín với Ngài.
Đây cũng chính là ý của lời PL viết: Còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. 31 Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? (Rô-ma 8:30-31)
Tác giả thư Hê-bơ-rơ viết về ĐCJC một cách hết sức sâu sắc: nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin. [tác giả và hoàn thành – BDM; Đấng Khởi Đầu và Đấng Hoàn Tất – BD2011]. Cùng một ý với PL viết về ĐCJC: Đấng đã bắt đầu làm một việc tốt lành trong anh chị em cũng sẽ hoàn thành việc đó cho đến ngày của Chúa Cứu Thế Giê-su. (Phi-líp 1:6 – BDM)
ƠN PHƯỚC NHẬN TỪ CHIÊN CON
Vì thế, họ được ở trước ngai Đức Chúa Trời, ngày đêm phục vụ Ngài trong điện thờ của Ngài và Đấng ngự trên ngai sẽ bao phủ họ bằng sự hiện diện của Ngài". 16 Họ sẽ không còn đói khát nữa, cũng chẳng còn bị mặt trời và hơi nóng nung đốt nữa. 17 Vì Chiên Con ở giữa ngai sẽ chăn giữ và hướng dẫn họ đến các suối nước sự sống. Đức Chúa Trời sẽ lau sạch tất cả các giọt lệ nơi mắt họ." (KH 7:15-17)
Ơn phước gì những người vượt thắng được những đại nạn của những ngày cuối khi họ ra mắt trước Đấng ngồi trên ngôi và Chiên Con. Câu 15: được ở trước ngai và phục vụ ngày đêm. Được bao phủ bởi sự hiện diện Chúa. [Ví dụ về những người tự nguyện làm phụ tá cho các thượng, hạ nghị sĩ; học sinh tự nguyện làm việc tại Albuquerque Academy]
Câu 16: mọi nhu cầu về thể xác từ trong (đói khát) đến ngoài (hơi nóng mặt trời) đều được thỏa mãn. Câu 17: Chiên Con sẽ gìn giữ và ban cho nước sự sống mà người uống không bao giờ khát nữa; tức nói lên sự thỏa mãn hoàn toàn về tâm linh lẫn thể xác. Chúa sẽ lau sạch tất cả các giọt lệ nơi mắt. Đây cũng chính là ý của lời hứa trong trời mới, đất mới: Ngài sẽ lau sạch tất cả nước mắt nơi mắt họ, sẽ không còn chết chóc, tang chế hoặc khóc than hay đau khổ nữa (KH 21:4)
Mọi người chào đời với tiếng khóc và cũng lìa đời với tiếng khóc. Bắt đầu và kết thúc của đời sống dưới mặt trời này là tiếng khóc. Giữa hai tiếng khóc đó còn có biết bao nhiêu giọt lệ trong đời người. Một ngạc nhiên cho rất nhiều tín đồ là KT viết rất nhiều về nước mắt. Đặc biệt là trong các bài Thi Thiên. Tiên tri Giê-rê-mi được gọi là tiên tri than khóc vì ông đổ nhiều nước mắt cho dân tộc, đất nước trước Chúa. Ôi! Ước gì đầu tôi là suối nước, Mắt tôi là nguồn lệ! Tôi sẽ khóc suốt ngày đêm, Khóc những người bị tàn sát trong dân tôi, con gái tôi. (Giê-rê-mi 9:1) Con hãy nói lời ấy với chúng. Xin cho mắt tôi trào lệ Đêm ngày không ngưng (TG. 14:17) Vậy nên ta khóc lóc; mắt ta tuôn nước mắt (Ca Thương 1:16) Hãy dốc lòng Kêu cầu với Chúa, Hỡi Si-ôn có tường thành vây quanh! Hãy để giọt lệ ngươi trào tuôn như thác nước, Ngày và đêm! Ngươi chớ nghỉ yên! Con ngươi của mắt ngươi chớ nín lặng! (CT 2:18)
Trong số 150 TT, thể loại than khóc nhiều hơn hết: Ít nhất 42 bài TT viết về những nỗi lòng than khóc. Đa-vít không hổ thẹn mà viết về những giọt lệ đã đổ ra trong bao nhiêu ngày đêm phải chạy trốn vì vua Sau-lơ vô cớ mà tìm mọi cách để giết ông: Tôi kiệt sức vì than thở. Đêm đêm giường tôi ngập tràn dòng lệ, Chõng tôi ướt đẫm nước mắt. 7 Mắt tôi mờ yếu vì sầu khổ, Trở nên mòn mỏi vì những kẻ thù địch tôi. 8 Hãy lìa xa ta, hết thảy kẻ làm ác. Vì CHÚA đã nghe tiếng khóc ta. (TT 6:6-8)
Khi người ta còn hỏi Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì suốt ngày đêm nước mắt làm đồ ăn cho tôi. (TT 42:3) Ngài ghi chép các đoạn đường đi lại của tôi. Xin Ngài đựng nước mắt tôi trong bình của Chúa. Nước mắt tôi không được ghi trong sách Ngài sao? (TT 56:8)
Sách Phúc Âm ghi lại ít nhất 2 lần ĐCJC khóc. Chúa khóc trước mộ La-xa-rơ. Chúa khóc khi vào thành Giê-ru-sa-lem trong tuần lễ cuối đời. Tác giả thư Hê-bơ-rơ cũng viết rằng ĐCJC đã nhiều lần cầu nguyện trong nước mắt cùng Cha: Trong những ngày sống trong xác thịt, Đức Giê-su đã lớn tiếng dâng những lời cầu nguyện, nài xin với nước mắt lên Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính nên được nhậm lời. (Hê-bơ-rơ 5:7)
Qv chắc đồng ý với tôi đoàn dân đông đã ra khỏi cơn đại nạn cũng đã khóc khi đang trong cơn đại nạn. Niềm tin Cơ Đốc không hoàn toàn màu hồng của hy vọng, nhưng cũng ý thức rõ rằng đời sống trên đất này cũng đầy những nước mắt phải đổ ra vì khổ nạn, đau đớn, mất mát, bệnh hoạn, chết chóc. Chắc chắn 4 kỵ mã sẽ đem đến nước mắt.
Qv nghe lời dạy rằng người tin Chúa nếu có đức tin, nếu sống đẹp lòng ĐCT thì sẽ không có gì xấu xảy ra. Chúng ta có thể gọi lời dạy sai lầm này là lời dạy của các bạn ông Gióp. Trái lại với lời dạy này, KH cho biết rõ ngay cả người tin Chúa cũng sẽ đổ lệ, sẽ than khóc trước những khổ nạn trong đời. Nước mắt của người tin Chúa không phải là thể hiện của sự thiếu đức tin nhưng là thể hiện của con người bằng xương thịt với những lo lắng, sầu não, đau đớn. Hơn hết dù người tin Chúa khóc, nhưng họ luôn có hy vọng rằng chính ĐCT là Đấng sẽ lau ráo nước mắt họ sau khi ra khỏi những cơn đại nạn trong đời sống trên đất này.
Khải Huyền 7
Sáng Thế Ký 49
Ê-xê-chi-ên 48
Giu-đa
Ru-bên
Đan
Ru-bên
Si-mê-ôn
A-se
Gát
Lê-vi
Nép-ta-li
A-se
Giu-đa
Ma-na-se
Nép-ta-li
Sa-bu-lôn
Ê-pha-rim
Ma-na-se
Y-sa-ca
Ru-bên
Si-mê-ôn
Đan
Giu-đa
Lê-vi
Gát
Bên-gia-min
Y-sa-ca
A-se
Si-mê-ôn
Sa-bu-lôn
Nép-ta-li
Y-sa-ca
Giô-sép
Giô-sép
Sa-bu-lôn
Bên-gia-min
Bên-gia-min
Gát
