Chết Trong Tội Lỗi, Sống Trong Đấng Christ
Bài giảng hôm nay và tuần tới dựa theo hai đoạn KT: Ê-phê-sô 2:1-9 và Xa-cha-ri 3:1-5. [Đọc]
Ê-phê-sô 2:1-9 dạy một ý rất quan trọng là chúng ta được cứu nhờ ân điển bởi đức tin dù đang khi có tội: Nhưng Đức Chúa Trời giàu lòng thương xót, lấy tình yêu dạt dào yêu quí chúng ta, 5 nên ngay lúc chúng ta đang chết trong các vi phạm mình Ngài làm cho chúng ta lại được sống với Chúa Cứu Thế. Ấy chính nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời mà anh chị em được cứu… Thật nhờ ân sủng, bởi đức tin mà anh chị em được cứu, chẳng phải tự anh chị em, mà là một tặng phẩm Đức Chúa Trời ban, 9 cũng không căn cứ vào công đức để không ai có thể khoe mình. (2:4-5, 8-9)
Trong nhiều bài giảng trước đây tôi đã giải thích rằng KTCU là bóng mà hình ở trong KTTU. Như học giả KT B.B. Warfield viết: KTCU có thể được ví như một căn phòng trang trí đầy đủ bàn ghế lịch sự nhưng không sáng đủ để có thể thấy được tất cả những bàn ghế đắt tiền đó cho đến khi nào qv mở cửa sổ để ánh sáng từ TU rọi vào. Như lời hứa lạ lùng, vô điều kiện của ĐCT cùng Ạ trong STK 15 là bóng mà hình là sự giáng sinh, chịu chết để chuộc tội cho loài người của ĐCJC. Hay như trong bài giảng tuần qua trong STK 13 khi ĐCT hứa cùng Ạ khi ông đứng trên nơi cao giữa Bê-tên và A-hi sẽ ban cho đất mà mắt ông nhìn 4 hướng là bóng mà hình là khi ĐCJC bị ma quỉ cám dỗ trên nơi cao và là hình khi ĐCJC chịu chết trên đồi sọ giữa 2 tên trộm cướp.
Chúng ta được cứu nhờ ân điển bởi đức tin cũng đã được viết trong KTCU mà Xa-cha-ri 3:1-5 là bóng. Xa-cha-ri là 1 trong 12 tiểu tiên tri cũng như sách Ha-ba-cúc mà tôi đã giảng qua.
BỐI CẢNH VỀ XA-CHA-RI
Sau khi vua Sa-lô-môn qua đời, bởi vì sự ngu dại của con trai ông là Rê-hô-bôm mà đất nước Y-sơ-ra-ên chia cắt làm 2: Y và Giu-đa. Tất cả các vua Y đều độc ác, xa Chúa. Chúa cho họ 200 năm để ăn năn. Cuối cùng bị giặc A-sy-ri chiếm. Giu-đa còn có vài vua biết kính sợ Chúa nên ĐCT cho họ thêm 150 năm nữa tức tổng cộng là gần 350 năm để ăn năn. Trong suốt thời gian này, ĐCT sai tiên tri để kêu gọi dân sự, vua chúa bỏ con đường tội lỗi, đừng theo tà thần, trở lại với Chúa.
Cuối cùng đến 586 BC giặc Ba-by-lôn bao vây thủ đô Giu-đa là Jerusalem rồi tàn phá thành phố, cả đền thờ và tường thành chung quanh Jerusalem. Giặc B. cũng bắt vua quan và dân sự giải về xứ Ba-by-lôn. Nhưng theo lời tiên tri Giê-rê-mi thì ĐCT sẽ trừng phạt đế quốc B. sau 70 năm: Cả đất nầy sẽ trở nên hoang vu gở lạ, các nước nầy sẽ phục sự vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm. 12 Đức Giê-hô-va phán: Khi bảy mươi năm ấy sẽ mãn, ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và dân người, vì cớ tội ác chúng nó. (Jer 25:11-12). Và sẽ đem dân sự trở về lại thành Jerusalem để xây lại đền thờ: Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Khi bảy mươi năm sẽ mãn cho Ba-by-lôn, ta sẽ thăm viếng các ngươi, sẽ làm trọn lời tốt lành cho các ngươi, khiến các ngươi trở về đất nầy. (Jer 29:10)
Đúng y như lời tiên tri, đế quốc B. bị hủy diệt bởi một đế quốc khác là Persia. Và cũng đúng y như lời tiên tri của Giê-rê-mi vua Cyrus của xứ Persia ra chiếu chỉ cho dân sự bị đày sang B. được trở về lại thành J. để xây lại đền thờ. Gần 45 ngàn dân sự trở về dưới sự lãnh đạo của một vị quan tên Sết-ba-xa và một thầy tế lễ cả tên Giô-suê, tức nhân vật trong sách Xa-cha-ri 3:1-7.
Xa-cha-ri là tiên tri trong thời kỳ khi đền thờ thành Jerusalem được xây lại và hoàn tất. Chúng ta có thể biết thời gian cụ thể theo X 1:1 Tháng tám năm thứ hai Đa-ri-út, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng đấng tiên tri Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, cháu, Y-đô. Tháng tám năm thứ hai Đa-ri-út theo các sử gia nhằm khoảng tháng 11 năm 520. Đoạn 3 mà tôi đã đọc là khải tượng thứ 3 trong 9 khải tượng mà tiên tri X. đã nhận được từ ĐCT trong một giấc mơ. Xa 1:7-8 cho biết rõ thời gian: Ngày hai mươi bốn tháng mười một, là tháng Sê-bát, trong năm thứ hai Đa-ri-út, có lời của Đức Giê-hô-va phán cho đấng tiên tri Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, cháu Y-đô, như vầy: 8 Ta thấy trong ban đêm: Tức theo các sử gia là tháng 2 năm 519 (5/2/519) tức gần 20 năm sau khi đoàn dân sự đầu tiên về xây lại đền thờ hay 3 năm trước khi đền thờ hoàn tất.
CHÚA cho tôi thấy thượng tế Giô-suê đứng chầu trước mặt thiên sứ của CHÚA, và Sa-tan đứng bên phải ông để buộc tội ông. 2 CHÚA bảo Sa-tan: "Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi! Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa?" 3 Giô-suê mặc quần áo bẩn thỉu, đứng chầu trước mặt thiên sứ (3:1-3 – BDM)
Trong khải tượng này tiên tri Xa-cha-ri thấy 3 nhân vật như trong một tòa án: thầy tế lễ cả Giô-suê (Giê-hô-sua theo bản cũ) là kẻ bị cáo (bị buộc tội), thiên sứ là người bào chửa như luật sư bênh vực cho kẻ bị cáo, và Sa-tan là kẻ cáo tội. Một số nhà giải kinh thánh thì cho rằng thiên sứ ĐGHV chính là ĐCJC trước khi Ngài hiện thân làm người, là Ngôi Hai ĐCT.
Trong tòa án này, thầy tế lễ G. đứng trước thiên sứ mặc áo dơ bẩn (chứ không phải quần áo như BDM) còn Sa-tan thì đứng bên phải G. để buộc tội ông. Trước hết thầy tế lễ là người đại diện cho dân sự Y-sơ-ra-ên, tức là dân tuyển, trước ĐCT. Vậy hình ảnh G. trước Chúa là tượng trưng cho hình ảnh của tất cả dân sự đứng trước Chúa, tôi và qv. G. chính là qv. Chính qv và tôi đứng trước ĐCT mặc áo bẩn thỉu.
Theo học giả KT Merrill Unger thì từ bẩn thỉu có thể dịch là như dính phân. Nên không những bẩn thỉu mà còn hôi thối, đáng tởm. Tôi nhớ hồi còn ở trại tị nạn phải cất nhà gần một hố lớn nơi dân chúng đi tiêu tiểu. Cái hồ hôi thối, đầy dòi bò trắng xóa, ruồi bay đặt đen cả một vùng. Khi ăn ruồi bay phủ đầy chén.
Hình ảnh áo dơ bẩn tượng trưng cho tội lỗi nhơ nhớp, bẩn thỉu, ghê tởm của chúng ta. Áo dơ bẩn tượng trưng cho tội lỗi, tội lỗi của dân sự, của tôi, của qv trước Chúa. Đây là một hình ảnh hết sức rõ ràng, cụ thể về tội lỗi như lời KT viết: Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi. (Ê-sai 64:6)
Không ai có thể đứng trước Chúa và được chấp nhận khi đầy dẫy tội lỗi nhơ nhớp. Và trong khải tượng này, thầy tế lễ G. mặc áo dơ bẩn đứng trước ĐCT như trong một quan tòa xử mà Sa-tan là kẻ lên án, buộc tội. Từ Sa-tan có nghĩa là kẻ buộc tội, lên án. Và đây là điều nó làm ngày đêm, lên án tội nhân trước ĐCT là quan xét. Sách KH 12:9-10 viết: Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó. 10 Tôi lại nghe trên trời có tiếng lớn rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, và nước Đức Chúa Trời chúng ta đã đến cùng quyền phép của Đấng Christ Ngài nữa; vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, nay đã bị quăng xuống rồi.
MS Warren Wiersbe viết thế này về sự buộc tội của Sa-tan: Khi nó nói về ĐCT cho chúng ta thì nó nói dối, nhưng khi nói về chúng ta cho ĐCT thì nó nói thật! Có nghĩa là ma quỉ nói dối về ĐCT để chúng ta không biết, hiểu và tin Chúa. Nhưng khi nó cáo tội chúng ta thì nó nói đúng như sự thật là mỗi chúng ta đều phạm tội cùng ĐCT, đều mặc áo bẩn thỉu.
Mỗi chúng ta đều có lúc phải đứng trước tòa án của lương tâm. Lương tâm lên án, buộc tội khi chúng ta phạm tội. Lương tâm khiến chúng ta ăn không ngon, ngủ không yên. Nó dày vò, đay nghiến, dằn vặt chúng ta khi thức giấc nửa khuya, khi nhìn thấy một cảnh vật quen thuộc, nghe một tiếng nói khi phạm tội. Tôi chắc rằng tất cả qv hiện diện đây đều có lần bị lương tâm lên án, buộc tội. Có người bị lương tâm dày vò, lên án đến nỗi muốn lánh mặt tất cả mọi người, đến nỗi trở nên điên loạn.
Một câu chuyện kể về đại văn hào Anh quốc Samuel Johnson. Khi còn trẻ tuổi cha ông có một quầy hàng bán rau cải, trái cây. Một thứ bảy cha ông gọi ông ra mở quầy hàng để bán và đứng đó để bán và thu tiền. Ông nói Dạ nhưng không làm. Vì vậy gia đình mất tiền trong ngày đó, còn rau cải phải bỏ đi. Mãi đến khi trưởng thành, SJ vẫn không thể quên lỗi lầm này, vẫn còn mặc cảm tội lỗi. Sau khi cha mất, một ngày trời mưa to, ông ra chính nơi mà cha mình đã có quầy hàng bán rau mà đứng đó dưới cơn mưa tầm tả trong suốt 2 tiếng đồng hồ.
Có thể một số qv đây không tin vào sự phán xét cuối cùng, không tin ma quỉ buộc tội qv trước ĐCT. Nhưng lương tâm là một bằng chứng của toàn án trong ngày phán xét cuối cùng. Mặc cảm tội lỗi mà không có nước nào, xà-bông nào, thuốc nào, rượu nào, thuốc nào có thể xóa khỏi tâm khảm là một bằng chứng của sự buộc tội trước ĐCT.
Mỗi người, mọi người trong sâu kín nhất của tâm hồn đều biết rằng tôi là người có tội, đã, đang và vẫn sẽ còn phạm tội. Khi nhận rằng tôi là người có tội có nghĩa là phải có một tiêu chuẩn, một luật pháp, một quan xét. Chỉ khi so sánh với tiêu chuẩn, luật pháp thì chúng ta mới biết tội hay không tội. Và nếu không có quan xét thì tại sao cái mặc cảm tội lỗi lại lên án chúng ta?
Tiểu thuyết Tội ác và hình phạt của nhà văn Nga Dostoevsky viết về cuộc chiến tranh nội tâm về đạo đức của một sinh viên hết sức nghèo khó tên Raskolnikov. Anh có một mơ tưởng tự cho mình là một người phi thường nhưng lại bị hoàn cảnh nghèo khó như xiềng gông trói lại. Khi nhìn thấy sự nghèo khổ của những người trong xóm toàn dân nghèo với bao cảnh đời lầm than, cùng quẫn không lối thoát, chàng sinh viên lý tưởng này trở nên căm uất về tình trạng bất công, phi nghĩa của xã hội và tìm kiếm lối thoát bằng sức lực của cá nhân mình. Những lý do đó đã khiến anh, trong một lần nọ, đã quyết định đến nhà một người đàn bà làm nghề cầm đồ là Alyona Ivanovna giàu nứt đố đổ vách, lạnh lùng lấy búa đập vỡ đầu bà rồi cướp tiền bạc, châu báu. Sau khi mở được két tiền, quay ra hắn gặp ngay em gái mụ cầm đồ, Elizabet. Vì quá hốt hoảng Raskolnikov vung búa đập chết luôn cô gái đó. Sau chín tháng dài ân hận dày vò, dằn vặt Raskonikov quyết định đến tòa tự thú. Xét thấy thần kinh của anh không ổn định, trước vành móng ngựa tòa miễn tội chết cho Raskolnikov và đày chàng biệt xứ ở Sibiria trong 8 năm khổ sai.
PL viết: Vì khi các dân ngoại, những người không có Luật Pháp, theo bản năng tự nhiên đã làm những điều Luật Pháp dạy bảo thì chính những người đó, dù không có Luật Pháp, là luật pháp cho họ rồi. 15 Họ đã chứng tỏ rằng những gì Luật Pháp đòi hỏi đã được khắc ghi trong lòng họ, và lương tâm họ cũng làm chứng cho điều đó, vì những tư tưởng của họ cứ xung đột nhau bên trong, khi thì cáo trách, khi thì binh vực họ. 16 Ðiều ấy sẽ thể hiện rõ trong ngày Ðức Chúa Trời, qua Ðức Chúa Jesus Christ, phán xét mọi tư tưởng thầm kín của con người, theo Tin Mừng tôi rao giảng. (Rô-ma 2:14-16 - BD2011)
Nhưng lương tâm cũng như một bố thắng xe. Khi đã mòn thì dù có đạp thắng sâu đến mấy xe vẫn tiếp tục chạy. Lạm dụng thắng thì nó sẽ trở nên mòn đến nỗi vô dụng. Tác giả của chuyện Hành trình vào vĩnh cửu (Pilgrim progress) là John Bunyan có viết một quyển sách tựa là Cuộc thánh chiến (Holy War). Chuyện viết về một thành phố tên là Mansoul (linh hồn con người) có một người giữ thành trên tường cao. Người giữ thành tượng trưng cho lương tâm và nhiệm vụ là phải báo động khi thành bị nguy hiểm. Nhưng ma quỉ, Sa-tan đầu độc người giữ thành. Theo chuyện thì chất độc không giết người giữ thành nhưng khiến ông điên loạn. Khi nguy hiểm thì lại làm thinh, nhưng khi bình yên thì lại kêu rống lên như nguy hiểm đang xảy đến!
Lương tâm của bao nhiêu người trong xã hội hôm nay cũng bị đầu độc bởi ma quỉ khiến cho điên loạn đến nỗi nhầm lẫn tội lỗi với đạo đức và đạo đức với tội lỗi. Như hôm nay bao nhiêu điều mà trước kia xem là tội lỗi thì nay xem là đạo đức như hôn nhân giữa người đồng tính hay như định nghĩa của giới tính linh động (gender fluidity). Thậm chí thuốc độc của ma quỉ giết chết cả lương tâm con người khiến cho họ không còn áy náy, do dự, đắng đo khi phạm tội!
Cảm tạ Chúa là khi ma quỉ hay lương tâm lên án, buộc tội thì người tin Chúa có ĐCJC như một Luật sư cao cả, một Đấng bào chửa, bênh vực thay: CHÚA bảo Sa-tan: "Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi! Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa? (3:2). Câu 2 cho thấy rõ rằng trong KTCU lời dạy về sự chọn lựa của ĐCT cho người được cứu cũng đã được viết rõ: Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi. ĐCT chọn dân Y-sơ-ra-ên không phải bởi vì họ tốt hơn các dân tộc khác nhưng chỉ bởi ân điển, bởi tình yêu thương của Ngài nên họ không thể khoe khoan vì việc họ làm.
Đây chính là ý của lời PL viết trong Ê-phê-sô 2:4-5: Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, 5 nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu. Và 2:8-9: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình
Cũng chính vì ĐCJC, Đấng biện hộ này mà PL có thể viết trong Rô-ma 8:1 Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt [buộc tội, kết án] nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ và trong 8:33-35: Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. 34 Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. 35 Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ?
Thiên sứ, ĐCJC, Đấng biện hộ cũng nói với Sa-tan: Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa? (3:3) Có nghĩa là Chúa cứu dân Ngài, cứu những người tin nhận ĐCJC đang khi còn có tội như que củi đang cháy. Được kéo ra khỏi lửa có nghĩa là được tha tội. Nhưng hình ảnh que củi đang cháy được kéo ra khỏi lửa còn có nghĩa là que củi đó dù không còn trong lửa để bị cháy rụi (đã được tha tội) nhưng khi được kéo ra thì vẫn còn mang phần đã bị cháy đen dơ bẩn vì lửa, là than đen, vẫn còn mang dấu tích và hậu quả đen đuối của tội lỗi. Được cứu, không còn phải mặc cảm tội lỗi nhưng vẫn còn dấu tích, hậu quả của tội. Kéo ra khỏi lửa có nghĩa là không còn bị buộc tội nhưng dấu than đen của tội lỗi vẫn còn đó. Dấu than đen này cho biết là người tin Chúa dù đã được cứu khỏi lửa, không còn bị buộc tội, nhưng vết tích tội lỗi, tội lỗi vẫn còn đó. Người tin Chúa có còn mau nóng giận không? Còn thờ ơ trước lời dạy KT không? Dĩ nhiên là có, như than cháy vẫn còn trên que củi sau khi được rút ra khỏi lửa.
Không chỉ vậy mà thiên sứ còn phán: Thiên sứ của CHÚA bảo các thiên sứ hầu cận: "Xem này, Ta đã cất bỏ tội ác của con, và cho con mặc quần áo tinh sạch." (3:4 – BDM) Chỉ có áo chứ không phải là quần áo. Kéo que củi đang cháy ra khỏi lửa nói lên sự cứu chuộc. Việc mặc áo tinh sách cho biết người trong Chúa không chỉ được cứu (kéo khỏi lửa) nhưng còn được mặc áo công chính của ĐCJC. Chỉ sau khi được mặc áo công chính của ĐCJC người tin Chúa mới được xưng là công bình qua sự công chính, tinh sạch tuyệt đối của áo Chúa ban cho.
Đúng y như PL viết vài trăm năm sau đó: Còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, [làm cho trở nên công chính] và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. 31 Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? (Rô-ma 8:30). ĐCJC không chỉ cứu chúng ta ra khỏi lửa tội lỗi mà còn mặc cho áo công chính của chính Ngài. Có nghĩa là sự công chính của ĐCJC bây giờ đã được chuyển nhượng sang kẻ trước là tội nhân. Khi ĐCT nhìn những người tin nhận ĐCJC Ngài không còn nhìn thấy áo bẩn thỉu mà là áo tinh sạch.
Cách đây hơn 50 năm, nhà văn Duyên Anh có viết một tiểu thuyết tự là Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang. Nhân vật chính trong chuyện có tên là Hoàng và vì chơi guitar giỏi nên được gọi là Hoàng guitar. Hoàng có địa vị cao trong một băng du đãng , sau đó muốn hoàn lương, về mở lớp dạy đàn, nhưng đồng bọn vẫn muốn kéo anh vào những việc bất lương. Ngày cuối vì mong có điều kiện xây dựng tương lai hạnh phúc, anh đã nhận lời làm một phi vụ cuối cùng và bị lộ. Những phát đạn oan nghiệt cắm sâu vào lưng Hoàng như những vết thù đời không bao giờ xoá được và cũng chấm dứt kiếp ngựa hoang. Ý của chuyện là dù một người muốn thoát khỏi vòng tội lỗi nhưng xã hội, con người tội lỗi vẫn không buông tha. Một khi đã phạm tội thì tội vẫn mãi đeo đuổi và giết chết kẻ tội phạm. Nhưng nếu trong chuyện có một người yêu mến Hoàng để nỗi chịu nhận viên đạn bắn đó thì Hoàng sẽ sống.
Cám ơn Chúa vì ĐCJC là Đấng đã chịu nhận viên đạn kết liễu đời đó cho những người tin nhận Ngài dù đang khi họ vẫn còn phạm tội. Kẻ tội phạm mặc áo dơ bẩn trước ĐCT thánh khiết được ĐCJC biện hộ, bào chửa rằng kẻ tội này đã được cứu chuộc ra khỏi lửa tội lỗi và đã được mặc lấy áo trắng tinh, công chính của Đấng vô tội đã chết để chuộc tội. Khi ĐCT là quan án xét phạt kẻ phạm tội về tội của họ, thì ĐCJC sẽ nói: chính Con đã chịu chết, đổ huyết trên thập giá để làm giá trả cho tội của họ, nên Cha hãy tha bổng cho họ.
Đây là ý nghĩa của câu KT mà tiên tri Ê-sai đã viết gần 300 trăm năm trước đó: Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. 6 Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. (Ê-sai 53:5-6) Và của sứ đồ PL viết hơn 500 năm sau đó: Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 5:21)
Chưa hết. Cao điểm của câu chuyện là trong câu 5: Tôi nói: "Xin Ngài bảo họ đội mũ miện tinh sạch cho ông." Và họ đội mũ miện tinh sạch lên đầu ông. Vậy họ trang phục cho ông trong khi thiên sứ của CHÚA đứng cạnh bên. Sách XEDTK 28:35-38 viết: A-rôn phải mặc áo này mỗi khi thi hành chức vụ. Người ta sẽ nghe tiếng chuông vàng mỗi khi A-rôn vào Nơi Thánh trước sự hiện diện của CHÚA, và khi ra khỏi nơi này để người khỏi phải chết. 36 Làm một cái thẻ bằng vàng ròng, và khắc trên thẻ như cách khắc con dấu "Thánh cho CHÚA". 37 Dùng dây mầu xanh buộc thẻ vào khăn đội đầu, ngay ở phía trước khăn. 38 Thẻ sẽ ở trên trán A-rôn và người sẽ mang lấy tội của dân Y-sơ-ra-ên, khi họ dâng tế lễ thánh, bất cứ loại của lễ nào. Thẻ sẽ thường trực ở trên trán A-rôn để của lễ được CHÚA chấp nhận
Và 39:30-31 Họ làm một bông hoa, một biệt hiệu thánh bằng vàng ròng và khắc trên đó như khắc dấu ấn dòng chữ: THÁNH CHO CHÚA. 31 Rồi họ dùng dây mầu xanh buộc thẻ vào khăn đội đầu, đúng theo mạng lệnh CHÚA đã truyền cho Môi-se.
THÁNH CHO CHÚA! Kẻ mặc áo bẩn thỉu, hôi thối trước Đấng hoàn toàn thánh khiết được cứu khỏi tội, được mặc áo trắng công chính và còn lại được đội mũ miện tinh sạch trên đó có chữ viết THÁNH CHO CHÚA. Đến giờ chúng ta mới có thể hiểu hết được ý nghĩa và giá trị của lời PL viết: Còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, [làm cho trở nên công chính] và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển (Rô-ma 8:30)
Có tôn giáo này, triết lý nào đem lại niềm hy vọng, an ủi vô cùng như vầy cho kẻ phạm trọng tội đáng chết.
