Cáo Trách Chúa Trong Đồng Vắng
Bài giảng tuần rồi là về sự cám dỗ của ma quỉ với ĐCJC trong đồng vắng ngay sau khi Chúa nhận lễ Báp-tem. Sau khi được Giăng Báp-tít làm lễ Báp-tem, ngay lập tức (Mác) ĐTL của ĐCT đưa ĐCJC vào đồng vắng. 40 ngày đêm dù không bánh, thiếu nước, đói khát, mệt lã trong thể xác, Chúa chiến thắng ma quỉ. Qua sự cám dỗ này ĐCJC từ chối làm đấng Mê-si để cứu dân sự bằng bánh; từ chối cứu dân sự bằng sự bảo đảm mọi an toàn cho đời sống họ, và từ chối cứu họ bằng vật chất hào nhoáng, bằng vinh quang của thế gian này. Trái lại ĐCJC chọn con đường thập giá.
Trong đồng vắng, ĐCJC chiến thắng cám dỗ của ma quỉ: Chúa từ chối phép lạ để hóa đá thành bánh; từ chối thử ĐCT để xem Ngài có bảo vệ khỏi mọi nguy hiểm; từ chối nhận vinh hiển thế gian. Trái lại trong đồng vắng, dân được cứu từ nô lệ sang tự do lại muốn tự nguyện trở nên nô lệ để chỉ nhận được những vật chất, an ninh mà ma quỉ cám dỗ ĐCJC. Trong đồng vắng, bị cám dỗ ĐCJC khi đói khát dùng lời ĐCT để trả lời ma quỉ; trong đồng vắng, khi đói khát dùng lời người để cáo trách ĐCT và Mô-se. Tất cả những gì dân sự ngày xưa thất bại, phạm tội trong đồng vắng, ĐCJC chiến thắng.
Trong bài giảng hôm nay, tôi dùng nhiều ý từ bài giảng của MS Tim Keller God in the Dock (ĐCT trước vành móng ngựa). Ba điều trong bài giảng hôm nay: 1) Trước nơi thiếu nước; 2) Dân sự cáo trách Chúa; 3) Tảng đá thiêng liêng
TRƯỚC NƠI THIẾU NƯỚC
Bài giảng hôm nay đưa chúng ta ngược lại dòng thời gian khoảng 1400 năm trước khi ĐCJC giáng sinh. Sau 430 năm dài làm nô lệ cơ cực, nhục nhã trong xứ Ai-cập (Ê-díp-tô), ĐCT giải cứu dân sự ra khỏi xứ với mục đích để đem họ vào vùng đất hứa mà Chúa đã hứa gần 500 năm trước đó với Áp-ra-ham: Chúa bảo Áp-ram: "Con phải biết chắc rằng dòng dõi con sẽ kiều ngụ nơi đất khách quê người, phải phục dịch dân bản xứ và bị áp bức suốt bốn trăm năm. 14 Nhưng Ta sẽ trừng phạt quốc gia mà dòng dõi con phục dịch. Sau đó, dòng dõi con sẽ thoát ra và đem theo rất nhiều của cải (STK 15:13-14)
Đoạn KT chúng ta đã nghe đọc trong XEDTK 17:1-7 nói lên một sự kiện xảy ra ít hơn 3 tháng sau khi ĐCT giải cứu dân sự ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập. Làm sao có thể biết điều này? KT giải thích trong 2 đoạn tới: Tháng thứ ba, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, trong ngày đó dân Y-sơ-ra-ên đến nơi đồng vắng Si-na-i (Xuất 19:1). 3 tháng trước đó, dân sự Y-sơ-ra-ên vẫn còn là nô lệ trong xứ Ai-cập. Họ làm nô lệ trong 430 năm dài. Trong 4 thế kỷ đó, có ít nhất 5-6 thế hệ đã qua nếu tín tuổi thọ thời bấy giờ như lời Mô-se đã viết trong TT 90: Tuổi tác chúng tôi thọ được bảy mươi, Nếu mạnh khỏe thì tám mươi, Nhưng sự kiêu căng của chúng chỉ là lao khổ và buồn thảm (TT 90:10)
Đời sống vật chất họ khổ cực, thiếu thốn. Vua Ai-cập vì sợ dân Ỵ sinh sản quá nhiều nên ra lệnh giết tất cả các con trẻ mới sinh là nam giới. Vì vậy họ cũng sống trong sự sợ hãi, lo lắng. Thiếu thốn về vật chất, lo sợ cho tương lai, lại chịu nhục nhả vì bị cai trị, hà khắc bởi quân dân Ai-cập. Họ mong chờ, cầu nguyện ngày đêm để ĐCT giải cứu họ ra khỏi cuộc sống đau khổ của người làm nô lệ.
Rồi ĐCT nghe tiếng than vãn, nhìn thấy đời sống khốn khó nhọc nhằn của dân sự. Chúa sai Mô-se giải cứu dân Ngài ra khỏi xứ nô lệ. Chính Mô-se cũng đã chờ đợi 80 năm trời cho sự cứu rỗi này. Khi ra khỏi xứ nô lệ, ước tính dân sự độ khoảng 2 triệu người. Trong hơn 400 năm bị làm nô lệ chắc rằng có bao nhiêu lần dân sự tự hỏi: ĐCT ở đâu trong cảnh khổ của chúng tôi và tại sao Ngài lại để chúng tôi chịu đau khổ như vầy.
Dù hỏi nhưng họ không dám nổi loạn trước một đế quốc văn minh, một quân đội hùng mạnh như Ai-cập. Họ chỉ biết cầu nguyện, tin tưởng và hy vọng. Chúng ta có thể thấy được điều này qua bài hát của Mô-se sau khi ĐCT giải cứu dân sự tại biển đỏ khi quân đội Ai-cập đuổi theo để giết: Với tình thương chẳng phai tàn, Ngài dìu dắt dân Ngài cứu chuộc; Bằng sức mạnh vạn năng, Ngài dẫn họ vào nơi ngự thánh của Ngài. (Xuất 15:13 – BD2011). Dân sự biết ĐCT yêu thương họ và có một chương trình, một dự tính tốt đẹp cho dân Ngài cho dù đang sống trong một hoàn cảnh hết sức đau khổ, dù họ vẫn còn có nhiều câu hỏi hơn câu trả lời. Đức tin vào tình yêu thương, lòng nhân từ và sự thành tín của ĐCT là nguồn hy vọng giúp họ tiếp tục chịu đựng và vượt qua nỗi đau khổ của người nô lệ.
Hễ còn sống là sẽ còn nan đề, còn khó khăn, đau khổ. Vấn đề là chúng ta sẽ giải quyết thế nào. Nhưng cách giải quyết tùy thuộc vào cách chúng ta giải thích. Lý do gì, nguyên nhân gì đời sống lại có khó khăn, đau khổ, mất mát? Một câu nói rất ý nghĩa: Người có lý do để sống có thể chịu đựng hầu hết mọi cách. (He who has a why to live for can bear almost any how) (Nietzsche). Dù có rất nhiều quan điểm giải thích đau khổ trong đời sống, tôi chỉ xin nêu ra 6 quan điểm chính sau đây:
1. Quan điểm khắc kỷ (stoic view). Đây là một quan điểm đã có từ rất lâu đời, thịnh hành nhất bởi một đại đế La-mã Marcus Aurelius. Đau khổ trong đời hoàn toàn vô nghĩa nhưng con người có thể khắc phục bởi lòng can đảm, sự tự chủ, khắc khe với chính bản thân mình. Phải tập cho mình cứng cõi, tê liệt trước đau khổ. Than vãn, khóc lóc chỉ cho trẻ con. Người trưởng thành, người cam đảm lau ráo nước mắt và cười trước mọi nghịch cảnh, khổ đau trong đời sống.
2. Quan điểm nhị nguyên (dualism). Đây là một trong những quan điểm phổ thông nhất hôm nay, nhất là trong vòng những người yêu chuộng triết lý. Đây cũng là trong một quan điểm xưa nhất trong các quan điểm giải thích về đau khổ. Quan điểm này cho rằng có hai quyền lực đồng sức, đồng hàng trong thế giới vũ trụ này. Qv có thể gọi là thiện và ác, trời và quỉ, hay thượng đế và quỉ vương. Đau khổ xảy ra khi thế lực độc ác của ma quỉ hành động mà thiện, trời không làm gì được. Một quyển sách rất nổi tiếng được viết bởi một rabbi Do Thái có tựa When Bad Things Happen to Good People (Khi việc xấu xảy ra cho người tốt) giải thích quan điểm này. Thế lực thiện, trời dù là thiện, dù có ý muốn giúp cho loài người nhưng không có khả năng để đánh bại ác, ma quỉ. Vậy nếu tin vào quan điểm này, chúng ta hoặc chấp nhận tha thứ cho ông trời vì sự bất lực dù có muốn giúp nhưng không có khả năng. Hoặc chúng ta có thể chọn lực lượng nào mạnh hơn để theo. Nhưng quan trọng hơn hết là sẽ không có ngày phán xét cuối cùng.
3. Quan điểm hiện sinh (existentialism). Không rán chịu. Không chấp nhận. Nhưng thách thức (defy). Chứng minh rằng dù đau khổ có vô lý, hay bất công, tôi, chính tôi vẫn có thể sống, chọn theo cách thức, đường lối tôi muốn, vẫn ngẫn đầu lên cao để chứng minh tôi là người cao thượng, hay tự kết liễu đời mình nếu không còn chịu đựng nỗi. Tất cả mọi quyết định của đời tôi là từ tôi, do tôi, bởi tôi. Tôi hoàn toàn là chủ của đời tôi. Không có trời nào, chúa nào có thể quyết định hay thay đổi đời tôi.
4. Quan điểm khoái luân hồi (karmic). Cuộc đời hôm nay là kết quả của kiếp trước. Vì kiếp trước con người sống thiện, sống tốt, nên kiếp này được hưởng phước. Nhưng nếu kiếp trước người ta độc ác, tàn nhẫn, hại người, rủa trời thì kiếp này người đó sẽ phải chịu đau khổ. Nên công bình, không có gì đáng phàn nàn hay than vãn cả. Gieo gì gặt nấy.
5. Quan điểm chính trị (political). Đổ thừa. Tôi khổ là vì hoàn cảnh, vì màu da, vì giới tính, vì cha mẹ, vì xã hội. Tôi là nạn nhân. Chúng ta thấy thể hiện của quan điểm này đang xảy ra trong các cuộc biểu tình, bạo động tại các thành phố lớn. Một số người trẻ tuổi đập phá các cửa tiệm lấy cắp đồ nhưng lại tự bào chửa họ chỉ muốn công bình.
6. Quan điểm bạn Gióp. Sống đạo đức, Chúa sẽ thưởng. Sống tội lỗi, Chúa sẽ phạt. Đau khổ trong đời là từ kết quả của đời sống. Vậy khi gặp đau khổ phải thú tội, ăn năn để được tha thứ, hồi phục. Vấn đề là quan điểm này không giải thích được sự đau khổ, mất mát của Gióp. Hay của ĐCJC - một người hoàn toàn đạo đức, không hề phạm tội nhưng lại bị chính anh em từ chối, bị phản bội, bị tra tấn rồi đóng đinh đến chết trên thập giá.
DÂN SỰ CÁO TRÁCH CHÚA
Trở lại câu chuyện về dân sự Y. Ngay sau khi ra khỏi xứ nô lệ dân sự bị quân đội Ai-cập đuổi theo. Trước mặt họ là biển đỏ. Sau lưng là đội quân Ai-cập. Họ trách móc: Chúng lại nói cùng Môi-se rằng: Xứ Ê-díp-tô há chẳng có nơi mộ phần, nên nỗi người mới dẫn chúng tôi vào đồng vắng đặng chết sao? Người đưa chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô để làm chi? 12 Chúng tôi há chẳng có nói cùng người tại xứ Ê-díp-tô rằng: Để mặc chúng tôi phục dịch dân Ê-díp-tô, vì thà rằng phục dịch họ còn hơn phải chết nơi đồng vắng? (Xuất 14:11-12).
Nghe lời trách móc vô lý đó Mô-se nói với dân sự: Môi-se đáp cùng dân sự rằng: Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi ngày nay xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi; vì người Ê-díp-tô mà các ngươi ngó thấy ngày nay, thì chẳng bao giờ ngó thấy nữa. 14 Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng. (14:13-14) Rồi ĐCT dùng Mô-se thực hiện phép lạ rẻ biển để đoàn dân đông đó đi qua biển như đi trên đất liền. Đó là phép lạ đầu tiên ngay sau khi dân sự ra khỏi xứ Ai-cập sau hơn 400 năm nô lệ.
Nhưng chỉ ba ngày sau đó, dân lại phàn nàn, trách móc Mô-se vì không tìm được nước uống. Khi tìm được nước lại là nước đắng nên họ gọi nơi đó là Ma-ra, có nghĩa là đắng. ĐCT biến nước đắng sang nước ngọt để dân sự uống. Đây là lần thứ 2 dân sự trách móc Mô-se, dù không dám trách móc Chúa trực tiếp!
1 tháng 15 ngày sau khi ra khỏi xứ nô lệ, họ đến một đồng vắng tên Sin. Nhằm ngày mười lăm tháng hai, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên ở nơi Ê-lim đi đến đồng vắng Sin, nằm về giữa khoảng Ê-lim và Si-na-i. 2 Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn tại nơi đồng vắng, 3 nói cùng hai người rằng: Ôi! thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê! Vì hai người dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đều bị chết đói (16:1-3).
Đây là lần thứ 3 trong vòng 2 tháng họ cáo trách! Không một lần, dù một lần chúng ta đọc trong KT dân sự tỏ lời cám ơn ĐCT, cám tạ Mô-se. Khi gặp khó khăn, thiếu thốn phản ứng, thái độ đầu tiên của dân sự là than vãn, nhắc lại thời vàng son khi còn là nô lệ trong xứ Ai-cập, dù khi sống trong nơi đó họ chỉ mong được giải thoát, cuối cùng họ cáo trách, đổ thừa, lên án.
Dù chính mắt họ đã chứng kiến 10 phép lạ khiến tai họa đổ xuống trên vua dân Ai-cập để họ được rời khỏi xứ nô lệ, chính mắt họ một tháng trước đó thấy ĐCT tẻ biển đỏ để họ đi qua, chính mắt họ thấy phép lạ ĐCT hóa nước đắng thành nước ngọt, họ vẫn không nhớ, vẫn cáo trách, vẫn buộc tội Mô-se cách vô lý. Vậy đó mà trong suốt 3 lần này không một lần, không một lời Chúa khiển trách họ. Chúa hiểu nỗi nhọc nhằn của dân sự sau 4 thế kỷ nô lệ và cảm thông. Rồi ĐCT ban bánh ma-na và thịt cho dân sự!
Rồi không lâu sau đó, sau sự kiện nơi đồng vắng Sin, một lần nữa khi đến một nơi không nước, dân sự lại cáo trách Mô-se và ĐCT. Chỉ trong vòng 3 tháng họ trách móc người lãnh đạo và ĐCT 4 lần! Một điều ngạc nhiên là đến lần thứ 4 này Chúa vẫn kiên nhẫn chấp nhận, không quở trách, trừng phạt. Trái lại điều Chúa thực hiện mà chúng ta sẽ tìm xem trong đoạn KT lần thứ 4 này là một điều vô cùng kỳ diệu và hết sức cảm động.
Toàn dân Y-sơ-ra-ên từ sa mạc Sin ra đi từng chặng theo lệnh của CHÚA. Họ đến cắm trại ở Rê-phi-đim, nhưng ở đó không có nước cho dân chúng uống. 2 Họ cãi nhau với Môi-se và nói: "Ông cho chúng tôi nước uống!" Môi-se đáp: "Tại sao anh chị em cãi nhau với tôi? Tại sao anh chị em thử CHÚA?"
Câu 2 cho biết dân sự gây sự hay cãi lộn với Mô-se. Từ gây sự hay cãi lộn này là từ dùng trong luật pháp khi thưa kiện hay tranh chấp với nhau về một vấn đề trước pháp lý. Từ này cũng được dùng trong câu 7: Người đặt tên nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì cớ việc cãi lộn mà dân Y-sơ-ra-ên kiếm cớ gây cùng người, và vì họ đã ướm thử Đức Giê-hô-va. Ma-sa có nghĩa là thử (ướm thử - BTT) và tên Mê-ra-bi có cùng một gốc chữ với từ cãi cọ trong câu 2 có nghĩa là gây gỗ, gây sự, cãi cọ
Đến lúc này lẽ ra dân sự phải dừng lại khi gặp hoạn nạn, khó khăn để hỏi: Nếu ĐCT đã giải cứu chúng ta khỏi quân đội Ai-cập nơi biển đỏ, đã ban cho chúng ta nước uống, bánh thịt để ăn trong gần 3 tháng qua từ khi ra khỏi đất nô lệ thì lẽ nào Chúa lại để chúng ta chết vì thiếu nước lần này. Nhưng họ không tự hỏi, mà chỉ biết tiếp tục cáo trách, buộc tội, lên án khi gặp khó khăn. Giả sử qv là người nghe những lời oán trách của dân sự trong 3 tháng này, qv nghĩ sao?
Khó khăn, thử thách trong đời sống thay đổi con người. Hoặc có thể giúp người đó trở nên mạnh mẽ hơn trong đức tin vào Chúa, trở nên kiên nhẫn, nhân từ hơn, khiêm nhường hơn vì biết mình phải nương cậy vào Chúa chứ không thể vào sức mình. Hoặc có thể khiến người đó trở nên cay đắng, chua chát với ĐCT và với người, trở nên chai đá, khó khăn, thậm chí độc ác hơn. Hoặc giúp người trong khó khăn gần Chúa hơn, hoặc khiến họ xa Chúa hơn. Nhiều người dù đã trải qua những cảnh ngộ, thử thách vô cùng khó khăn lại trở nên ngọt ngào, mềm mại, gần Chúa hơn, tin cậy Chúa hơn. Nhưng nhiều người dù chưa trải qua nhiều đau khổ trong đời, mà chỉ dựa vào lý thuyết mà từ chối Chúa, từ chối đạo Chúa.
Mục đích của thử thách trong đồng vắng là gì? Là để biết điều gì trong lòng dân sự, để họ biết điều gì quan trọng hơn là bánh ăn cho no bụng. Hãy nhớ trọn con đường nơi đồng vắng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã dẫn ngươi đi trong bốn mươi năm nầy, để hạ ngươi xuống và thử ngươi, đặng biết điều có ở trong lòng ngươi, hoặc ngươi có gìn giữ những điều răn của Ngài hay chăng. 3 Vậy, Ngài có hạ ngươi xuống, làm cho ngươi bị đói, đoạn cho ăn ma-na mà ngươi và tổ phụ ngươi chưa hề biết, để khiến ngươi biết rằng loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra. (PT 8:2-3). Để họ biết dù trong bất kỳ cảnh ngộ nào của đời sống thì ĐCT vẫn luôn ở cùng với dân sự Ngài và có chương trình tốt đẹp cho đời sống họ. Câu 7 cho biết nguyên nhân chính mà dân sự cáo trách, cãi cọ khi gặp khó khăn, thử thách: “Không biết Chúa có thật sự ở giữa chúng ta chăng?”
Đoạn KT này cũng cho biết một ý quan trọng khác là thử thách, đau khổ giúp chúng ta ý thức về giới hạn, sự hữu hạn của con người trong đời sống và về quyền năng vô hạn của ĐCT vĩ đại, toàn năng. Hoặc chúng ta xem mình nhỏ lại và xem ĐCT lớn hơn; hoặc chúng ta tự coi mình to lớn hơn ĐCT.
TẢNG ĐÁ THIÊNG LIÊNG
Môi-se kêu cầu CHÚA: "Con phải làm chi cho dân này? Chỉ còn chút nữa là họ ném đá con." CHÚA đáp lời Môi-se: "Con hãy đi trước dân chúng, dẫn theo con một số bô lão Y-sơ-ra-ên và cầm trong tay cây gậy con đã dùng đập nước sông Ninh. (XEDTK 17:4-5)
ĐCT bảo Mô-se đem theo ông hai điều: cây gậy và đem theo các trưởng lão với ông. Cây gậy tượng trưng cho quyền năng ĐCT thực hiện qua Mô-se. Đây là cây gậy khi Mô-se đập vào nước sông Ninh (Nile) ở xứ Ai-cập thì nước biến thành máu; là gậy thực hiện các tai họa; là gậy tẻ biển đỏ để dân sự đi qua như đất liền. Vậy gậy này tượng trưng cho quyền năng ĐCT thể hiện khi xét xử, khi hành động. Các trưởng lão là những người quyết định khi có một sự kiện, vấn đề để giải quyết. Họ là những người sẽ quyết định khi phân xử.
Theo giáo sư thần học Edmund Clowney viết trong quyển sách The Unfolding Mystery thì hai hình ảnh này tượng trưng cho một phiên tòa xử. Tại sao lại có phiên tòa xử và xử ai?
Dân sự muốn xử Mô-se, và qua đó xử ĐCT vì đã đem họ ra khỏi xứ nô lệ và để họ đói khát trong đồng vắng. Họ muốn xử Mô-se, và qua đó xử ĐCT vì cố ý giết họ, giết con cái và phá hủy tài sản của họ. Khi dân sự cải lộn cùng Mô-se, họ buộc tội ông "Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai-cập để cho chúng tôi, con cái chúng tôi và bầy súc vật phải chết khát?" Mô-se hiểu dân sự không chỉ buộc tội ông mà còn lên án ĐCT nên ông trả lời: "Tại sao anh chị em cãi nhau với tôi? Tại sao anh chị em thử CHÚA?"
Dân sự đem Mô-se và ĐCT ra tòa án, buộc tội là giết họ bằng cách để họ, các con họ và bầy súc vật của họ bị chết vì khát. Và theo luật của dân sự thì đây là một trọng tội, tội giết người, phá họai tài sản. Vì vậy họ quyết định xử Mô-se bằng cách ném đá ông.
Chúng ta cho là vô lý, buồn cười. Nhưng không phải con người ngày nay cũng xử Chúa mỗi khi chịu mất mát, gặp đau khổ, hoạn nạn trong đời hay sao? Tại sao ĐCT lại để điều này xảy ra cho tôi, cho gia đình tôi, cho con cái, cho tài sản tôi? Chúa ở đâu mà lại để cho những tai họa, đau khổ này xảy ra cho tôi? Và dưới mắt chúng ta, theo lý lẽ của chúng ta, chúng ta tuyên bố: chính quyền, dân chúng, gia đình phạm tội, học đường, xã hội, hội thánh phạm tội với tôi vì họ mà tôi phải chịu đau khổ. Hơn hết ĐCT phạm tội vì chính Chúa để cho những khổ đau xảy đến cho tôi.
Một vở kịch viết về cuộc tàn xát của Đức Quốc Xã với dân DT trong thế chiến II. Một người hỏi: Ai chịu trách nhiệm về việc tàn xát này? Một người vợ trả lời: Tôi chỉ vâng lời chồng tôi, nên chồng tôi là người có tội. Chồng trả lời: Tôi chỉ vâng lời những người lính. Họ là người có tội. Người lính trả lời: Tôi chỉ là lính làm theo lệnh cấp trên. Cấp trên là người có tội. Rồi người này đổ tội cho người trên mình. Họ tiếp tục cho đến một lúc mọi người dừng lại và hỏi: Vậy chính Thượng Đế là người có tội cho mọi đau khổ trong đời này. Đúng chính là ĐCT bởi vì chúng ta chỉ làm theo lệnh của người trên mình.
Nhưng hợp lý hơn phải là phiên tòa xử của Mô-se và ĐCT với dân sự. Vì dân sự mắc tội bội phản, vì đã vu oan cho Mô-se, vì đã oán trách ĐCT. Phải có phiên tòa để xử dân sự phản bội, bất trung, vu oan vô cớ với Mô-se, người lãnh đạo họ và với ĐCT, Đấng đã giải cứu họ ra khỏi xứ nô lệ, Đấng đã ban cho nước uống, bánh thịt ăn, đã bảo vệ cho trước mọi nguy hiểm. 4 lần trước đó, ĐCT tha cho họ, nhưng giờ Chúa sẽ xử họ. Tôi muốn hỏi qv tại đây: theo qv thì ai xử ai? Nếu còn tỉnh táo thì chúng ta sẽ trả lời không do dự: ĐCT phải xử dân sự bội nghịch, vô ơn, vô nghĩa này. Nhưng điều đáng buồn là khi chúng ta lên án họ thì phải chăng chính chúng ta cũng tự lên án chính mình?
Và đoạn KT tới đây sẽ giải thích về sự cám dỗ của ĐCJC trong đồng vắng hơn 1000 năm sau đó, giải thích về sự chịu thương khó, về cái chết đau đớn trên thập giá của ĐCJC. Thay vì ĐCT xử dân Ngài thì Chúa chịu gánh lấy sự xử đoán, hình phạt đó. 6 Ta sẽ đứng đó, trước mặt con ở bên [trên – BD2011] vầng đá Hô-rếp. Con sẽ đập vầng đá và nước sẽ tuôn tràn ra cho dân chúng uống." Môi-se làm đúng theo điều Chúa phán dạy trước mắt các bô lão Y-sơ-ra-ên. 7 Ông đặt tên chỗ đó là Ma-sam và Mê-ri-ban vì dân Y-sơ-ra-ên có cãi lộn và vì họ thử CHÚA khi nói rằng: "CHÚA có ở giữa chúng ta không?” (XEDTK 17:6-7 – BDM)
Không một nơi nào trong KT nói rằng ĐCT đứng trước con người. Đứng trước đây không phải như một người có thẩm quyền ngồi trên ngôi trước kẻ dưới quì dưới chân. Từ đứng trong câu này có nghĩa là đứng như một người nô lệ trước chủ, như một người thiếu nợ trước người cho vay nợ, như tội nhân trước quan xét tại vành móng ngựa. Hai lần trong STK 18-19 viết rằng Áp-ra-ham đứng trước ĐCT. Đây là lần đầu tiên và duy nhất trong KT viết ĐCT đứng trước con người. ĐCT đứng trong vành móng ngựa của tòa án nhưng một tội nhân để bị xử.
ĐCT đứng đâu? Trên hòn đá tại Hô-rép. Và Chúa bảo Mô-se làm gì? ngươi hãy đập hòn đá, thì nước từ đó chảy ra, dân sự sẽ uống lấy. 2000 năm sau đó, PL giải thích cho tín đồ HT Cô-rinh-tô về ý nghĩa của hòn đá này trong câu chuyện này: Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em nhớ rằng tổ tiên chúng ta tất cả đã ở dưới đám mây và tất cả cũng đã đi ngang qua biển. 2 Tất cả đều nhân danh Môi-se mà chịu phép báp-tem trong đám mây và dưới biển. 3 Tất cả cũng đã ăn cùng một thức ăn thiêng liêng, 4 và tất cả đã uống cùng một thứ nước thiêng liêng. Vì họ đã uống nước từ tảng đá thiêng liêng đi theo họ, tảng đá đó chính là Chúa Cứu Thế. (1 Cô-rinh-tô 10:1-3).
Hòn đá tại Hô-rép chính là biểu tượng của ĐCJC. Đập hòn đá tức đập ĐCJC. Thay vì ĐCT xử dân sự, Chúa chịu sự xử phạt đó cho dân sự để họ được nước uống. Khi hiểu được điều này tôi không cầm được nước mắt.
Nửa thế kỷ trước đó, ĐGHV cũng đã thực hiện một lời thề cùng tổ phụ dân sự bội nghịch, đáng xử phạt này là Áp-ra-ham. Tôi đã giảng cho HT Chúa về giao ước không điều kiện này của ĐGHV cùng Áp-ra-ham trong STK 15. Tại đồng vắng khi dân sự phạm tội trọng thay vì xử họ, Chúa nhận lấy trên Ngài hình phạt đó để dân được nước uống. Thật đúng như lời của ĐCJC giải thích cho hai môn đồ trên đường Em-ma-út: "Tất cả những điều chép về Ta trong Kinh Luật Môi-se, các Kinh Tiên Tri và các Kinh Thánh Thi phải được ứng nghiệm. (Lu-ca 24:44). Và sau đó: Lúc ấy, Ngài mở trí cho họ hiểu Thánh Kinh, 46 và bảo: "Thánh Kinh đã ghi: "Chúa Cứu Thế phải chịu đau đớn đến ngày thứ ba phải sống lại từ cõi chết. Khi ĐCJC nói về KT thì chỉ có CU, tức đoạn KT trong XEDTK chúng ta đọc trong bài giảng hôm nay. Chỉ khi Chúa mở trí cho chúng ta thì chúng ta mới có thể thật sự hiểu được KT.
Lần đầu tiên từ hơn 30 năm qua sau khi tin và theo Chúa tôi hiểu được lời của ĐCJC: Kẻ trộm chỉ đến để cướp, giết và hủy diệt; còn Ta đã đến để chiên được sống và sống sung mãn. 11 Ta là người chăn nhân từ. Người chăn nhân từ hy sinh tính mạng vì đàn chiên. (Giăng 10:10-11). Sung mãn không phải vì được đầy đủ vật chất, được bảo vệ trong mọi nguy hiểm, được nhận mọi vinh hiển thế gian, nhưng vì đã uống được nước hằng sống từ hòn đá muôn đời. Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với bà, “Ai uống nước nầy sẽ khát lại, 14 nhưng ai uống nước Ta cho sẽ không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người ấy tuôn ra đến sự sống đời đời.” (Giăng 4:13-14 – BD2011)
