Can Đảm Để Thay Đổi – Lu-ca 19:1-9
Trước khi đọc câu chuyện chúng ta cần có một định nghĩa về can đảm. Can đảm là gì? Định nghĩa thông thường nhất là dám làm những điều người khác không dám làm. Khi còn học tiểu học tại VN mấy mươi năm trước đây có môn Công Dân Giáo Dục. [Bài học về một thanh niên chạy xe đạp ngang qua một chiếc cầu hẹp với hai tay sau đầu. Và câu chuyện Cậu Bé Can Đảm trong Tâm Hồn Cao Thượng, dịch bởi Hà Mai Anh]
Định nghĩa của can đảm phải gắn liền với nguyên nhân, động cơ, lý do và mục đích. Vài ví dụ:
Áp-ra-ham được ĐCT gọi lìa bỏ quê hương đến một xứ mà ĐCT sẽ chỉ cho -> can đảm
Lót chọn đất màu mở gần Sô-đôm và Gô-me-ra -> không can đảm
Gia-cốp lừa cha và anh -> không can đảm
Giô-sép từ chối sự cám dỗ của vợ chủ Potiphar -> can đảm
KT không chỉ viết về sự can đảm của những anh hùng lấp biển, vá trời, làm những công việc phi thường nhưng còn về những nhân vật hết sức bình thường, thậm chí nhân vật vô danh (không tên tuổi) như người đàn bà Sa-ma-ri ĐCJC gặp tại giếng nước, người phụ nữ khóc dưới chân Chúa, đổ thuốc thơm lên chân rồi lấy tóc lau chân cho Ngài (Lu-ca 7:36-50)
Kỵ nữ A-háp giúp cho các thám tử Y-sơ-ra-ên trốn khi thám xát thành Giê-ri-cô. Bà là tổ phụ vua Đa-vít và ĐCJC. Tên bà có trong gia phổ Chúa
Ru-tơ
Câu chuyện về một vị tướng của đại đế Nã-phá-luân (Napoleon) tên Marshall Ney, a captain in Napoleon's army. Napoleon often referred to Marshall Ney as the bravest man he had ever known. Yet, the captain's knees trembled so badly one morning before a battle that he had trouble getting on his horse. When he was finally in the saddle, he looked at his knees and said with disgust, "Shake away, knees. You would shake worse than that if you knew where I am going to take you."
Định nghĩa: Can đảm là khả năng của trí tuệ giúp một người đương đầu với những nguy hiểm bằng cách làm chủ được mình, tự tin, và biết cách giải quyết vấn đề. Không phải là không biết sợ nhưng có thể khắc phục được nỗi lo sợ vì có một niềm tin mạnh mẽ hơn vào Chúa, vào việc đúng phải làm.
Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và dè giữ. 8 Vậy con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ; nhưng hãy cậy quyền phép Đức Chúa Trời mà chịu khổ với Tin Lành. (2 Ti-mô-thê 1:7-8)
Đoạn KT đọc là về một nhân vật tên Xa-chê, một người làm đầu (chief) bọn thu thuế [trưởng khu thuế vụ]. 1) Là người bị dân chúng khinh bỉ, ghét bỏ, coi là phường tội nhân; 2) Lý do là vì Xa-chê làm giàu bằng cách bắt chẹt thuế người khác; 3) Xa-chê là một người lùn.
There is a story about a local fitness center (trung tâm thể thao, thể dục) that was offering $1,000 to anyone who could demonstrate that they were stronger than the owner of the place. Here is how it worked. This muscle man would squeeze a lemon until all the juice ran into a glass, and then hand the lemon to the next challenger. Anyone who could squeeze just one more drop of juice out, would win the money. Many people tried over time - other weightlifters, construction workers (người làm nghề xây cất), even professional wrestlers, but nobody could do it.
One day, a short and skinny guy came in and signed up for the contest. After the laughter died down, the owner grabbed a lemon and squeezed away. Then he handed the wrinkled remains to the little man.
The crowd's laughter turned to silence as the man clenched his fist around the lemon and six drops fell into the glass. As the crowd cheered, the manager paid out the winning prize and asked the short guy what he did for a living. "Are you a lumberjack, a weightlifter, or what?"
The man replied, "I work for the IRS."
Thời đó, đế quốc La-mã đánh thuế các thuộc địa như xứ Giu-đa rất nặng nề để đủ chi phí cho đội quân thống trị thế giới và cho xứ và dân La-mã ngày càng lệ thuộc vào sưu cao thuế nặng để tồn tại. Tuy nhiên số thuế thật sự không phải được định bởi La-mã (Rome) nhưng bởi một quan chức người La-mã của vùng đó. Và giá thuế cao nhất được đấu thầu cho những người trưởng thuế như Xa-chê, là những người Giu-đa (Do Thái). Để làm giàu những tên trưởng thuế này lại tăng số thuế lên cao hơn khi mướn người thu thuế cho họ. Vì vậy người trưởng bọn thu thuế là người càng bị khinh bỉ, ghét tởm.
Hơn nữa Giê-ri-cô là một thị trấn, trung tâm thương mãi của cả vùng. Từ nam lên bắc, từ bắc xuống nam đến thành Giê-ru-sa-lem đều phải đi ngang qua thành nên đây là một địa điểm sầm uất và dễ kiếm tiền thuế hàng buôn bán. Xa-chê chắc phải là một người rất giàu có.
2. CAN ĐẢM TÌM BIẾT CHÚA
Xa-chê can đảm tìm mọi cách thức để được nhìn thấy, được nghe tiếng nói, lời dạy, được gần ĐCJC dù có phải leo cây [hình]
Người đầu bọn thu thuế, giàu có
Muốn tìm xem ĐJC là ai
Để tìm đến Chúa:
Chạy đến trước, trèo lên cây sung. Chủ động
Là người lùn ông chắc sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn (làm nghề thu thuế, chớ không phải nghề leo cây dừa)
Chắc sẽ dơ quần áo, thậm chí rách
Không cần giữ phẩm diện, miễn sao được nhìn thấy Chúa, nghe lời dạy, được gần Ngài
BH: Nhiều người muốn theo Chúa nhưng sợ nhiều thứ: gia đình, danh dự, thể hiện. Muốn sống theo Chúa nhưng lại giữ mặt, sợ người khác chê cười, sợ mất tình bạn.
Giô-xuê và Ca-lép giữa vòng 12 thám tử
Giô-xuê: Ta và nhà ta sẽ phục vụ ĐGHV
Tín đồ sự mất lòng người ta nên không dám làm gì khác với đám đông: Không dám nói thật sự mất lòng; không dám sống khác người (nghĩ làm để thờ phượng, phục vụ Chúa ngày Chúa nhật)
Đức Chúa Jêsus đến chỗ ấy, ngước mắt lên mà phán rằng: Hỡi Xa-chê, hăy xuống cho mau, vì hôm nay ta phải ở nhà ngươi. Xa-chê vội vàng xuống và mừng rước Ngài. Ai nấy thấy vậy, đều lằm bằm rằng: Người nầy vào nhà kẻ có tội mà trọ!
Tại sao Xa-chê lại muốn biết ĐCJC là ai?
- Có phải vì tò mò, muốn biết chỉ để biết? Có thể. Nhưng dễ hơn nếu ông có thể mướn để nghe thấy Chúa rồi thuật lại.
- Có phải vì không có gì để làm? Hay vì lý do gì khác?
- Câu trả lời ở trong câu 7: Ai nấy thấy vậy, đều lằm bằm rằng: Người nầy vào nhà kẻ có tội mà trọ! Kẻ có tội chính là Xa-chê và ông ý thức rất rõ ông là kẻ có tội. Vì vậy ông tìm đến ĐCJC. Với hy vọng được tha thứ, được cứu chuộc.
Trước khi vào thành Jericho, Lu-ca ghi lại câu chuyện ĐCJC chửa lành cho người mù mắt: Đức Chúa Jêsus đến gần thành Giê-ri-cô, có một người đui ngồi xin ở bên đường, 36 nghe đoàn dân đi qua, bèn hỏi việc gì đó. 37 Người ta trả lời rằng: Ấy là Jêsus, người Na-xa-rét đi qua… Ngươi muốn ta làm gì cho? Thưa rằng: Lạy Chúa, xin cho tôi được sáng mắt lại. 42 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy sáng mắt lại; đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi. 43 Tức thì, người sáng mắt, đi theo Đức Chúa Jêsus, ngợi khen Đức Chúa Trời. Hết thảy dân chúng thấy vậy, đều ngợi khen Đức Chúa Trời. (Lu-ca 18:36-37, 41-43)
Dân chúng ngợi khen ĐCT khi thấy phép lạ Chúa chửa cho người mù sáng mắt nhưng lại im lặng khi Chúa mở mắt tâm linh. Chúng ta cần mắt để nhìn thấy mọi vật chung quanh. Chúa chửa cho người mù sáng mắt để thấy. Câu chuyện về Xa-chê dạy về con mắt tâm linh cũng phải cần được mở ra để nhận thấy mình là người có tội, cần được cứu rỗi, cần được thay đổi.
Các thầy thông giáo thuộc phe người Pha-ri-si thấy Ngài ăn với bọn thâu thuế và kẻ phạm tội, thì nói với môn đồ Ngài rằng: Người cùng ăn với kẻ thâu thuế và kẻ có tội sao! 17 Đức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán cùng họ rằng: Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội. (Mác 2:16-17)
Khi mắt Chúa chú vào thì trăm mắt người cũng sẽ chú vào người tìm kiếm, muốn theo Ngài.
Có người thán phục sáng kiến leo cây của ông (số rất ít)
Nhiều người xầm xì về sự thấp, lùn của ông;
Khinh bỉ, chửi mắng vì sự ông là người đầu những người thu thuế (là điều đúng)
Ghen tức vì sự giàu có hay được mắt Chúa chú đến. BH: Sự giàu có không phải là điều ngăn trở Chúa đến với mình nhưng KT cảnh cáo rằng khó cho người giàu vào nước thiên đàng hơn lạc đà đi qua lỗ kim.
Bất chấp những thiếu xót, tội lỗi, bất chấp cả điều gì đám đông nghĩ về ông, về sự đánh giá, phán xét của họ, Xa-chê tiếp nhận Chúa Jêsus cách vội vàng và mừng rỡ.
Cũng có một bài học quan trọng trong đoạn này. 3 nhân vật: Xa-chê, ĐCJC, đám đông. Đám đông lên án, chỉ trích, lầm bầm về cả Xa-chê và ĐCJC. Xa-chê là kẻ có tội. ĐCJC là người giao du, vào nhà, dùng bửa với kẻ có tội. Vậy họ hàm ý họ là người hoặc không có tội như Xa-chê, hoặc ít tội hơn Xa-chê. Không bóc lột người khác qua sưu cao, thuế nặng, nhưng có thể phạm những tội khác mà không ai biết được ngoài ĐCT: Nói xấu, vu oan, làm cho hội thánh chia rẻ, tham lam, tà dâm, lừa dối…
C.S. Lewis viết: “một người tự phụ kiêu hảnh, lạnh lùng, nghĩ mình công chính đi nhà thờ thường xuyên có thể gần địa ngục hơn là một gái bán thân” Qv nghĩ ĐCJC thường lên án hạng người nào nặng nề nhất? Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, tự phụ về kiến thức kinh luật, về sự công chính vâng giữ các luật pháp, mau chỉ trích, phán xét người có tội. Nhưng Chúa luôn có lòng nhân từ với tội nhân thật sự ăn năn (người đàn bà phạm tội tà dâm, người phụ nữ xấu nết, Xa-chê, đứa con trai hoang đàng…)
3. CAN ĐẢM NHẬN CHÚA VÀO NHÀ, VÀO ĐỜI SỐNG THẬT HẰNG NGÀY
- Nhiều người nghĩ rằng chỉ có sự giàu sang từ tiền của, tài vật, sự sảng là quan trọng hơn hết trong đời.
Xa-chê đã giàu có về tài của nhưng ý thức rằng ông là người có tội, người nghèo nàn về tâm linh nên can đảm, cố hết sức tìm biết Chúa và đón Chúa vào nhà. Dù giàu có về tài của nhưng Xa-chê vô sản về đức tin. Giàu về tài của nhưng nghèo về tâm linh. Giàu trên thế gian này nhưng vô sản trên thiên đàng.
- Nhận đón sự cứu rỗi của ĐCJC là bước đầu tiên để được giàu trong Chúa.
- ĐCJC sẽ vào nhà chúng ta khi chúng ta tin nhận Ngài. Người tin Chúa sẽ được nhận ĐTL.
- Nhà là nơi chúng ta sống mỗi ngày, nơi có thể muốn nói gì nói, làm gì làm không ai thấy, biết được. Nhưng Chúa sẽ vào và không phải chỉ làm khách nhưng sẽ làm chủ. Chúa sẽ xem hết những tủ chứa đồ mà không ai biết, nhìn những phim ảnh, sách báo, nghe những câu chuyện.
- Dân chúng lằm bằm rằng Xa-chê là người có tội. Vì có tội nên Xa-chê mới cần mời Chúa vào nhà. Nhưng những người này chỉ thấy cái dằm trong mắt Xa-chê mà không thấy cái cột trong mắt của chính họ.
4. CAN ĐẢM ĐỂ THAY ĐỔI - NHẬN LỖI VÀ BỒI THƯỜNG
Song Xa-chê đứng trước mặt Chúa, thưa rằng: Lạy Chúa, nầy, tôi lấy nửa gia tài mình mà cho kẻ nghèo, và nếu có làm thiệt hại ai, bất kỳ việc gì, tôi sẽ đền gấp tư… Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hôm nay sự cứu đã vào nhà nầy, vì người nầy cũng là con cháu Áp-ra-ham. Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất.
Một số qv phải can đảm để bước bước đầu tiên. Thường bước đầu tiên là bước khó nhất và quan trọng nhất, bởi vì nếu không có bước đầu thì sẽ không bao giờ có bước tới.
Bước đầu tin nhận Chúa
Hứa nguyện cùng Chúa: dâng hiến, phục vụ, hầu việc Chúa
Xin lỗi, nhận lỗi (như Xa-chê)
Tha thứ, hòa giải
Thay đổi: nghĩ ngày Chúa nhật, bỏ thời gian học KT, tham gia công việc hội thánh, sinh hoạt, lớp học KT
Leighton Farrell was the minister of Highland Park Church in Dallas for many years. He tells of a man in the church who once made a covenant with a former pastor to tithe ten percent of their income every year. They were both young and neither of them had much money. But things changed. The layman tithed one thousand dollars the year he earned ten thousand, ten thousand dollars the year he earned one-hundred thousand, and one- hundred thousand dollars the year he earned one million. But the year he earned six million dollars he just could not bring himself to write out that check for six-hundred thousand dollars to the Church.
He telephoned the minister, long since having moved to another church, and asked to see him. Walking into the pastor's office the man begged to be let out of the covenant, saying, "This tithing business has to stop. It was fine when my tithe was one thousand dollars, but I just cannot afford six-hundred thousand dollars. You've got to do something, Reverend!" The pastor knelt on the floor and prayed silently for a long time. Eventually the man said, "What are you doing? Are you praying that God will let me out of the covenant to tithe?" "No," said the minister. "I am praying for God to reduce your income back to the level where one thousand dollars will be your tithe!"
Tin Chúa phải thể hiện qua hành động.
Lời nói phải lẽ và hành động đạo đức chỉ để cho người thấy là lời trống không, hành động giả tạo. Người tin Chúa thật phải tỏ ra bằng hành động, phải có sự thay đổi trong đời sống.
Thay đổi, hành động cần sự quyết chí, can đảm: Không dễ gì nhận lỗi, xin lỗi; không dễ gì bồi thường thiệt hại gấp bốn lần; không dễ gì trả lại phân nửa tài sản cho người nghèo khi biết mình đã làm sai.
Cuộc đời Xa-chê thay đổi từ ngày ĐCJC vào nhà ông. Cuộc đời của qv thay đổi thế nào?
[Câu chuyện về ông Bill ở nhà thờ Marble Collegiate Church, Fifth Avenue at Twenty-ninth Street, New York City]
Years ago, a broken, unkempt homeless man found his way into one of our country’s greatest churches Marble Collegiate Church, Fifth Avenue at Twenty-ninth Street, New York City. This great church would later be made famous by the ministry of Dr. Norman Vincent Peale. A Dr. Burrell was the pastor of Marble Collegiate Church at the time of our story. It was he who welcomed this homeless man, named Billy, into this great church.
A life of alcoholism had befuddled Billy, but one thing was clear in his hazy mind. He believed that Dr. Burrell could help him. He had known Dr. Burrell a third of a century before, in better days. Now the two men came together under far different circumstances the pastor of this great church and a broken man from the streets.
Dr. Burrell knew immediately, of course, that Billy needed help. He vowed to do what he could as he heard the story of Billy’s wrecked life. The next Sunday Billy sat in a far-away seat in the great sanctuary of this church. On later Sundays he came early to get a seat nearer to the pulpit. For six months, Billy sat with upraised face, listening to Dr. Burrell’s every word. At the end of that time, Billy came into Burrell’s study and said: “Dr. Burrell, I want to take communion and join your church.” And within a few weeks that once broken man took part in the communion service and stood before the congregation to be admitted to membership in that famous and rich old church.
But immediately afterward without warning Billy disappeared. Every pastor has seen this happen. People join the church and then kind of disappear until Christmas or Easter. But this time the story was a little different. Billy disappeared . . . never to be seen in that great church again.
Two years later Dr. Burrell received a telephone call. The call came from the Hadley Rescue Hall in the Bowery. “Dr. Burrell,” said John Callahan, the head of that mission, “can you come down here this evening and conduct a funeral? The man who is dead said he knew you very well.”
When Dr. Burrell entered the mission that evening its seats were filled. Before the platform stood a casket and as Dr. Burrell looked at the face, he knew at once that it was Billy. He turned to John Callahan and asked, “What’s he been up to, John? How did you find him? How did he come down here to the mission?”
“He came down here with his face shining,” answered Callahan. “We didn’t find him. He found us. Billy isn’t one of those we picked off the streets. The night after you took him into your church he came here, and he’s been here ever since. He patrolled the waterfront to find down-and-out men. And he found them. They’ll tell us about it themselves, this evening.”
The greater part of Billy’s funeral service consisted of the tributes of people whose paths had crossed his. He seemed to have left a blessing wherever he moved. The landlady in the waterfront boarding-house where Billy had lived stood up with her beaming face covered with tears. “He taught God to me and to every person in the house. My house became full of Christians after Billy came there.” That old boarding-house on the waterfront! It had become one of the happiest places in the big city. Billy had brought God to it, and out of it nightly went Billy, the landlady and the boarders to hunt for broken men and women and show them how they might become whole again. One after another, people arose in the audience and, with happy but tear-stained faces, they told what Billy, the longshoreman (người phu cất hàng ở cảng), had done for them. Billy had earned his daily bread beside them. And all around him, as he worked, there had been a circle of song and happiness and prayer; he had held up the cross of Jesus to all he met.
William G: Shepherd, Great Preachers As Seen By a Journalist (Fleming H. Revell, 1924).
