Cảm Tạ Chúa Về Ơn Tha Thứ
Thi Thiên 103 được viết bởi Đa-vít về một ơn phước vô cùng quí báu của ĐCT cho dân sự Ngài: ơn tha thứ. Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, chớ quên các ân huệ của Ngài. Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, chữa lành mọi bịnh tật ngươi, cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát, lấy sự nhơn từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi. (103:1-4)
Tại sao quan trọng? Hai lý do:
Sự tha thứ tội là điều kiện đầu tiên và cần thiết để có thể nhận được sự cứu chuộc tội lỗi và sự hồi phục quan hệ.
Giá đắt của sự tha thứ, đặc biệt giá đắt của sự tha thứ, cứu chuộc tội lỗi chúng ta
Nếu không có sự tha thứ sẽ không có sự cứu rỗi. Không được tha tội, thì làm sao được làm con cái ĐCT, được dự phần kế nghiệp với Đấng Christ, được nhận ĐTL? Nếu không có sự tha thứ sẽ không đón nhận được tình yêu thương của ĐCJC vào đời sống. Thể hiện, bày tỏ cụ thể nhất của ân điển là gì, nếu không phải là sự tha thứ. Nếu không có sự tha thứ thì tất cả chúng ta sẽ đứng trước Chúa trong ngày phán xét để chịu hình phạt đời đời vì tội đã phạm. Sự cứu rỗi, tình yêu thương và ân điển của ĐCT có cùng một gốc rễ từ sự tha thứ của Ngài đối với tội nhân như tôi và quý vị hiện diện tại đây.
Trong cuộc sống không phải ai được cứu cũng được tha tội. Kẻ giết người, bọn khủng bố bị thương tích sau khi đã giết người lại được cứu mạng để rồi bị xử án, chịu tù ngục hay bị xử chết. Có người phạm tội muốn tự tử nhưng được cứu, không phải để được tha tội, nhưng để chịu xử tội. Được cứu để chịu tội. Nhưng trong Chúa, chúng ta được cứu và được tha tội. Thử nghĩ xem nếu đến ngày phán xét cuối cùng khi đứng trước Chúa chịu phán xét mới biết rằng qv được cứu nhưng không được tha thứ khi kinh khủng đến chừng nào!
Sự tha thứ là một ơn phước từ trời vô cùng quí báu, vô giá. Tại sao? Bởi vì sự tha thứ là món quà quí giá hơn mọi món quà, là thể hiện đầu tiên rõ nhất về tình yêu thương của ĐCT cho người tin Ngài. Bởi vì sự tha thứ là điều kiện đầu tiên và cần thiết để một người có thể nhận được sự cứu chuộc tội lỗi từ ĐCJC. Có tình yêu thương thật sự nào lại không có sự tha thứ? Yêu thương là tha thứ; tha thứ luôn gắn liền với tình yêu thương. ĐCT tha thứ tội lỗi cho những kẻ Ngài yêu thương. Và trong Eph 1, PL cho biết sự tha thứ là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất để có thể nhận được đủ các ơn phước thiêng liêng từ trời.
Tác giả Thi Thiên viết: Chúa ôi, nếu Ngài ghi nhớ các tội ác chúng tôi; Thì lạy Chúa, còn ai sống nổi. 4 Nhưng Chúa có lòng tha thứ Để người ta kính sợ Chúa. (TT 130:3-4). Thật vậy ai sống nổi nếu ĐCT không tha thứ?
Đại văn hào Hoa Kỳ là Ernest Hemingway, người được giải Nobel về văn chương, tác giả của quyển “Ngư ông và biển cả” (The old man and the sea), viết một câu chuyện sau đây. Một người cha Spanish quyết định giải hòa với đứa con trai đã bỏ nhà ra đi đến thành phố Madrid. Buồn phiền và hối hận người cha đăng một dòng quản cáo trên tờ báo lớn là El Liberal: “Paco (tên người con trai) gặp cha tại khách sạn Montana trưa thứ ba. Tất cả đã được tha thứ. Papa (cha)”. Paco là tên rất phổ thông tại xứ Tây Ban Nha. Khi người cha đến khách sạn Montana trưa ngày thứ ba ông thấy có đến 800 người thanh niên trẻ tuổi đang chờ cha của họ tại đó để được tha thứ và hòa giải cùng cha mình.
Dù đây là một câu chuyện tiểu thuyết nhưng nó nói lên một sự thật hết sức quan trọng trong đời sống con người: Mọi người đều cần được tha thứ và cần phải tha thứ. Thật vậy sự tha thứ là một vài chủ đề hết sức quan trọng và xuyên suốt KT. Một điều quí báu nhất người tin Chúa nhận được từ ĐCT là sự tha thứ.
Không được tha thứ thì sẽ luôn luôn sống trong mặc cảm tội lỗi (guilt), trong sự hổ thẹn, nhục nhã (shame); sẽ không có hy vọng gì cho cuộc sống đời sau. Có gì đau khổ cho bằng sống mỗi ngày biết lỗi của mình không được người thân yêu, vợ, chồng, anh chị em, tha thứ? Có gì đau khổ cho bằng trước khi qua đời biết lỗi mình phạm vẫn không được tha thứ? Người không được tha thứ như người lúc nào cũng mang cái gánh đè nặng trên lưng, con tim vẫn còn rỉ máu vì không lành. Họ như người bị cùm xích giam lại trong ngục tù của quá khứ.
Sự tha thứ là một chủ đề xuyên suốt 66 sách trong KT từ STK cho đến KH. Tiên tri Mi-chê viết về ĐCT như sau: Ai là Đức Chúa Trời giống như Ngài, tha thứ sự gian ác, và bỏ qua sự phạm pháp của dân sót của sản nghiệp Ngài? Ngài không cưu giận đời đời, vì Ngài lấy sự nhân từ làm vui thích. 19 Ngài sẽ còn thương xót chúng tôi, giập sự gian ác chúng tôi dưới chân Ngài; và ném hết thảy tội lỗi chúng nó xuống đáy biển. (Mi-chê 7:18-19)
Tại sao Đa-vít ca ngợi, cảm tạ ĐCT vì ơn tha thứ? Bởi vì chính Đa-vít đã phạm trọng tội khi ông phạm tội tà dâm cùng Bát-sê-ba dù biết bà đã có chồng. Sau đó lại lập mưu đẩy chồng bà là tướng U-ri ra đầu trận mạc để bị giết hầu cứu vợ người. Và tướng U-ri là ai? Ông là 1 trong 30 dũng tướng mà chính vua Đa-vít đã nêu tên vì công lớn với đất nước và với vua. Đây là những người sẵn lòng hy sinh chính mạng sống cho Đa-vít.
Vua Đa-vít cũng viết 2 thi thiên về tội ác và sự tha thứ của ĐCT cùng ông trong TT 32 và 51. Qv có thể xem đề tựa của TT 51: Thơ Đa-vít làm, lúc đấng tiên tri Na-than đến cùng người, sau khi Đa-vít đã vào cùng Bát-Sê-ba. TT 51 bắt đầu với lời cầu nguyện xin Chúa tha tội Đức Chúa Trời ôi! xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhân từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa. 2 Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi. 3 Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi. (51:1-3)
Và TT 32: Thơ Đa-vít làm, để dạy dỗ. Bắt đầu với lời ca ngợi, cảm tạ về ơn tha tội Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình! 2 Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho, và trong lòng không có sự giả dối! (32:1-2)
Tha thứ là điều kiện đầu tiên và cần thiết cho sự cứu chuộc tội lỗi của ĐCJC. Nhưng còn hơn thế nữa, tha thứ còn là điều kiện cần thiết và quan trọng cho sự hồi phục quan hệ. Khi chúng ta phạm lỗi, phạm tội, chúng ta tạo nên một hố sâu, một khoảng cách giữa mình và người mình phạm lỗi, phạm tội.
Tội lỗi con người tạo nên một hố sâu không đáy và một khoảng cách vô cùng rộng lớn mà không điều gì có thể trở nên cây cầu nối lại quan hệ với ĐCT, dù đó là việc lành, đạo đức hay tôn giáo. Khi phạm lỗi, phạm tội cùng một ai đó, chồng vợ, anh em trong gia đình, hội thánh, thì giữa hai người sẽ có một khoảng cách.
Hễ tội lỗi càng nặng thì khoảng cách càng rộng. Chúng ta có thể mất tình bạn, tình thân trong gia đình vì lừa dối. Tội tà dâm phản bội, tàn phá, hủy hoại quan hệ chồng vợ đến nỗi không thể tha thứ được. Chỉ khi có sự tha thứ, quan hệ mới có thể hồi phục.
Sau khi A-đam & E-va ăn trái cấm, họ làm gì? Cả hai ẩn núp trong bụi cây. Họ chạy trống khỏi sự hiện diện của ĐCT. Khi ĐCT hỏi A-đam: Ngươi ở đâu? A-đam trả lời: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình. Có gì đáng sợ bằng khi mọi suy nghĩ, dự định, toan tính của chúng ta phơi bày hoàn toàn trước ĐCT. Như nếu màn hình này có thể chiếu lên tất cả những suy nghĩ, tình cảm, mong muốn cho mọi người thấy. Đây cũng là ý của từ lõa lồ trước Chúa: dù người bên cạnh không thấy được nhưng ĐCT thấy, biết, hiểu tất cả về con người bên trong của tôi và qv.
A-đam phạm tội nên sợ hãi trước ĐCT và ẩn mình đi. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta không chỉ vi phạm luật pháp nhưng theo KT chúng ta còn phạm tội với Đấng ban phát luật pháp.
Cảm tạ ĐCT vì Ngài tha thứ tội cho A-đam & E-va.
Thử nghĩ xem nếu Chúa không tha thứ cho Phi-e-rơ về tội chối Chúa, các môn đồ vì bỏ chạy khi ĐCJC bị bắt thì làm sao họ còn cơ hội được nhận ĐTL nơi phòng cao, được gọi làm chứng, được dùng để lập HT đầu tiên. Nếu ĐCT không tha thứ cho Phao-lô về tội giết những người theo Chúa thì làm sao PL được trở nên một sứ đồ của Đấng Christ, viết 13 thư/sách trong số 27 thư/sách TU.
Lý do thứ hai khiến ơn tha thứ là một ơn phước vô cùng lớn lao bởi vì giá đắt mà ĐCJC phải trả để tha thứ, để cứu chuộc tội lỗi con người. Rất nhiều người ngay cả tín đồ hiểu sai rằng khi ĐCT tha thứ tội cho con người thì chẳng hề tốn Ngài điều gì cả.
Ngay cả trong quan hệ con người, người tha thứ cũng chịu nặng sự mất mát, thiệt hại lẽ ra người gây thiệt hại phải trả. Tôi cho qv mượn một cây viết, qv làm mất, tôi bỏ qua vì mua lại cây viết chỉ tốn vài đồng (nhưng tùy theo loại viết!) Qv cho tôi mượn chiếc xe Lexus đời mới nhất vừa đem từ dealer ra; tôi chạy làm trầy lớp sơn bên ngoài, thiệt hại máy bên trong. Qv có thể tha thứ cho lỗi của tôi, nhưng chắc chắn tôi phải bồi thường lại thiệt hại quá lớn và tốn kém này.
Khi nói rằng chúng ta được tha thứ tội lỗi có nghĩa là đáng lẽ ra chúng ta phải chịu trừng phạt vì tội mình đã phạm nhưng ĐCJC gánh lấy sự trừng phạt đó cho chúng ta. Vậy được tha thứ là được xóa nợ, xóa giá đắt phải trả vì tội vì ĐCJC đã nhận hết món nợ, nhận trả hết giá. Tha thứ là chấp nhận sự mất mát, thiệt hại, món nợ mà lẽ ra người gây thiệt hại, mất mát phải trả. Từ tội lỗi trong câu Xin tha tội lỗi chúng tôi trong bài cầu nguyền chung thực nghĩa là nợ. Xin tha các nợ của chúng tôi nhưng chúng tôi tha những người thiếu nợ chúng tôi.
Có người nói thế này: Thật vĩ đại thay là sự sáng tạo của ĐCT. Nhưng còn vĩ đại bao nhiêu lần hơn là sự tha thứ, cứu chuộc tội lỗi của ĐCJC cho con người. Khi sáng tạo, ĐCT chỉ phán một lời. Nhưng khi tha thứ, cứu tội, Ngôi Hai của ĐCT phải hạ thế làm người rồi đổ huyết trên thập giá cho đến chết.
Khi ĐCT sáng tạo loài người, Ngài sáng tạo A-đam và E-va theo chính hình Ngài. Khi phạm tội, con người làm lệch lạc, méo mó thậm chí tàn phá hình ảnh của ĐCT trong họ. Qv có thể nghĩ như một tấm kiến ngày càng đầy vết nhơ bẩn, ngày càng rạn nứt đến nỗi không còn dùng được. Một tấm tranh tuyệt mỹ bị ô uế, nhơ bẩn, bị những vết vẽ xấu xí phá hủy hoàn toàn giá trị bức tranh. Làm hư một bức vẽ của cháu tôi là một chuyện, nhưng làm hỏng bức vẽ của một họa sĩ trứ danh như Picasso hay Leonard de Vinci là một tội nặng.
Qvkhông biết quí ơn tha thứ, cứu chuộc là bởi vì qv không nghĩ đến giá đắt mà ĐCJC phải chịu trả cho tội lỗi của qv. Chính vì ý thức giá quá đắt này mà sứ đồ PL hiểu được bề cao, bề rộng, bề dài, bề sâu của tình yêu thương bao la của ĐCJC bày tỏ qua sự tha thứ. Đến nỗi ông viết chính vì tình yêu thương đó mà ông sống và chết: Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình. (2 Cor 5:14-15)
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC THA THỨ
Tha thứ gồm 2 người/đối tượng và 2 chiều. Người tha thứ và người được nhận sự tha thứ. Người cho đi, người nhận lãnh. Người tha thứ là người cho đi, chịu nhận giá đắt do người mình tha thứ gây ra. Người tha thứ là người có tình yêu thương, có sự kiên nhẫn. Tại sao kiên nhẫn? Bởi vì người mình tha thứ có thể tái phạm lại lỗi, lại tội. Như chính tôi và qv cũng thường tái phạm lại tội lỗi mình với ĐCT. ĐCJC dạy các môn đồ bài học này khi Phi-e-rơ hỏi Ngài có phải tha thứ 7 lần hay không, thì Chúa trả lời 70 lần 7.
Nhưng một câu hỏi quan trọng khác là làm thế nào để một người có thể để được tha thứ. Câu trả lời trong hai chữ: ăn năn. Ăn năn đòi hỏi sự dẹp bỏ tự ái, lòng tự cao, học sự khiêm nhường nhận biết lỗi, biết tội mình và đến để nhận lỗi, xin tha thứ.
Một câu chuyện (Love in time of cholera – Yêu trong kỳ bệnh dịch của đại văn hào đoạt giải Nobel văn chương Gabriel García Márquez ) kể về một cuộc hôn nhân tan vỡ bởi vì một cục xà-bông tắm. Người vợ có trách nhiệm giữ nhà cửa được ngăn nắp gồm cả việc mua giấy chùi tay, giấy đi cầu và xà-bông tắm. Một ngày nọ, người vợ quên thay cục xà bông tắm đã gần hết với một cục mới. Người chồng trách vợ sao không có xà-bông mới bằng cách phóng đại hóa lỗi này: “Gần cả tuần nay tôi tắm không có xà-bông” Vì lòng tự ái, người vợ không nhận đó là lỗi mình dù thật sự chính bà đã quên điều đó. Rồi trong suốt 7 tháng họ giận nhau, mỗi người ngủ riêng một phòng, và không ai nói chuyện với ai khi ăn chung. Tác giả viết “Dù cho đến lúc già yếu, hai vợ chồng vẫn hết sức cẩn thận không nói về chuyện này. Bởi vì như một vết thương chưa bao giờ thật sự lành, nó sẽ chảy máu trở lại như mới bị thương hôm qua”. Chúng ta hỏi làm thế nào một cuộc hôn nhân tan vở bởi vì một cục xà-bông? Bởi vì không ai nhận lỗi của mình: “Dừng lại. Điều này không thể tiếp tục. Tôi xin lỗi. Xin tha thứ cho tôi”. Chúng ta cũng hỏi có thật một quan hệ bị rạn nứt, tan vỡ bởi vì một điều nhỏ nhặt như một cục xà-bông tắm?
Chỉ vì lòng tự ái, vì thiếu sự khiêm nhường mà quan hệ gãy vỡ: mỗi người đều chờ người phối ngẫu của mình đến xin lỗi trước. Cuối cùng không ai xin loi ai, không ai tha thứ ai!
Sau khi Đa-vít phạm tội, ĐCT sai tiên tri Na-than đến gặp vua. Qv nhớ câu chuyện Na-than kể cho Đa-vít về 2 người: một giàu, một nghèo. Người giàu có nhiều chiên cừu, súc vật. Người nghèo chỉ có một con chiên nên yêu thương, bồng ẳm như con. Khi có khách đến, người nhà giàu lại giết con chiên của người nghèo để thết đãi. Khi nghe đến đoạn này, Đa-vít không dằn được cơn giận: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đáng chết! 6 Hắn phải thường bốn lần giá chiên con, vì đã làm như vậy, và vì không có lòng thương xót. 7 Bấy giờ, Na-than nói cùng Đa-vít rằng: Vua là người đó! …. Đa-vít bèn nói cùng Na-than rằng: Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. (2 Sa-mu-ên 12:5-6, 13)
Đa-vít không hề chối tội, không hề viện lý do này lý do nọ, không hề đổ lỗi cho hoàn cảnh, con người: Tôi đã phạm tội cùng ĐCT. Qv cũng có thể bắt chước Đa-vít khi phạm lôi, phạm tội: không chối tội, không hề viện lý do này lý do nọ, không hề đổ lỗi cho hoàn cảnh.
Nếu sự tha thứ là chủ đề xuyên suốt 66 sách KT từ STK đến KH thì ăn năn là sự kêu gọi xuyên suốt từ STK đến KH. TT 51 là lời ăn năn thống hối của Đa-vít sau khi đã phạm tội tà dâm và giết người: Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, Và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi.3 Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi. 4 Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; (TT 51:2-4)
Ăn năn là ý thức rằng con đường tôi đang đi, hành động đang làm, thái độ đang có là sai quấy, tội lỗi và cần phải thay đổi để trở lại con đường đúng, có hành động và thái độ đúng. Vậy ăn năn chủ yếu gồm 3 phần: 1) Nhận thức điều sai, hiểu biết điều đúng; 2) Khiêm nhường đến nhận lỗi và xin tha thứ; 3) Quyết định từ bỏ đường sai để trở lại hay đi theo đường đúng. Người thật sự ăn năn xưng nhận tội mình đã phạm với Chúa, với người, không đổ lỗi cho hoàn cảnh, người chung quanh hay tự biện hộ, tự bào chửa về những sai lầm đã phạm.
Trong KTTU mọi khi Tin Lành rao giảng, người nghe luôn luôn kêu gọi phải ăn năn, từ bỏ cuộc sống, con đường tội lỗi đang đi để theo con đường mới. Trước là con đường rộng nhiều người đi, dân đến sự hư mất, sự chết, nay ăn năn và quyết định đi theo con đường hẹp, ít người đi nhưng sẽ dẫn đến sự sống và phước hạnh.
Giăng Báp-tít bắt đầu giảng về nước Trời với lời kêu gọi dân chúng phải ăn năn. Trước khi Đức Chúa Jêsus chưa đến, Giăng đã giảng dạy phép báp-têm về sự ăn năn cho cả dân Y-sơ-ra-ên. (CV 13:24) Giăng đã tới, trong đồng vắng vừa làm vừa giảng phép báp-têm ăn năn, cho được tha tội. 5 Cả xứ Giu-đê và hết thảy dân sự thành Giê-ru-sa-lem đều đến cùng người, xưng tội mình và chịu người làm phép báp-têm dưới sông Giô-đanh. (Mác 1:4-5).
Lời dạy đầu tiên của ĐCJC là lời răn dạy dân chúng phải ăn năn tội và tin nhận Tin Lành: Đức Chúa Jêsus đến xứ Ga-li-lê, giảng Tin lành của Đức Chúa Trời, 15 mà rằng: Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành. (Mác 1:14-15).
Các môn đồ được Chúa sai đi giảng TL. Sứ điệp đầu tiên của họ là về sự ăn năn: Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn (Mác 6:12). Sau khi ĐTL hiện ra cùng các môn đồ trên phòng cao sau khi Chúa sống lại từ cõi chết, Phi-e-rơ giảng TL với sự điệp ăn năn: Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi (CV 3:19)
Lời kêu gọi ăn năn không phải là chỉ là lời kêu gọi cho những người thu thuế và có tội, nhưng cho cả người Pha-ri-si và thông giáo. Cho cả người chưa tin Chúa và người đã tin Chúa. Với người chưa tin Chúa, ăn năn tội lỗi để nhận sự tha thứ, cứu rỗi. Với người đã tin Chúa, ăn năn để nhận sự tha thứ mà hồi phục quan hệ với Chúa.
Ăn năn không phải chỉ cho mỗi cá nhân, mỗi tín đồ nhưng Chúa còn gọi cả HT ăn năn: Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó. (KH 2:5)
KT dạy rất rõ về liên hệ giữa sự tha thứ và lòng ăn năn. Rô-ma 5:8 Chúa tha thứ cho chúng ta đang khi chúng ta còn là người có tội. Vậy có phải là mọi người đều được cứu hay không? Câu trả lời là không.
Khi Chúa tha thứ, Ngài ban cho chúng ta cơ hội để được tiếp nhận sự cứu rỗi. Tuy nhiên không phải mọi người đều tiếp nhận sự tha thứ của ĐCT. Nhiều người quá kiêu hảnh để nhận mình là người có tội, cần Chúa cứu. Nhiều người khác quá kiêu hảnh không tin ĐCJC là con đường duy nhất cho sự cứu rỗi. Cụ thể là những người Pha-ri-si và thông giáo, tự hào là con cháu Áp-ra-ham, biết luật pháp, vâng giữ luập pháp, sống đạo đức, không cần Chúa cứu. Đây chính là hình ảnh của người con trai trưởng, người anh cả trong ngụ ngôn Chúa kể.
Chỉ có những người ý thức rõ họ là kẻ có tội, cần được tha thứ nên ăn năn, đón nhận sự tha thứ. ĐCJC tóm tắt qua câu chuyện ngụ ngôn về người con tội lỗi: Vậy nó mới tỉnh ngộ, mà rằng: Tại nhà cha ta, biết bao người làm mướn được bánh ăn dư dật, mà ta đây phải chết đói! 18 Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha, 19 không đáng gọi là con của cha nữa (Lu-ca 15:17-18). Vậy điều đầu tiên KT dạy về sự ăn năn: Ăn năn bắt đầu với ý thức rằng tôi là người có tội, chính tôi đã phạm tội cùng ĐCT.
Tỉnh ngộ - bừng tỉnh và hiểu ra, nhận ra được sai lầm của mình; tỉnh ra mà hiểu rõ (giác ngộ). Đứa con hoang đàng ăn năn khi anh bừng tỉnh và hiểu rằng anh đã làm điều sai quấy, tội lỗi cùng Trời, cha, cùng anh, cùng gia đình. Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha.
Làm thế nào để một người có thể tỉnh ngộ? Bao nhiêu người phạm lỗi, phạm tội cùng ĐCT, cùng người quanh họ mà không hề biết, không hề tỉnh ngộ. Tôi hỏi qv: Có phải tôi & qv đều nhanh chóng nhận thức về những tội lỗi của mình, những sai sót về tính tình, phẩm hạnh, những vi phạm cùng người chung quanh chúng ta hay không? Chắc là không.
Chúng ta luôn chối bỏ sự thật là đã làm sai, phạm lỗi, phạm tội. Lời ĐCJC dạy hoàn toàn chính xác với thực tế đời sống: chúng ta rất mau thấy cây dầm nhỏ trong mắt anh em mình, tức những sai sót, vi phạm, tội lỗi nhưng không hề thấy được cây cột lớn trong mắt mình, tức những tội lớn, vi phạm nghiêm trọng của chính mình. Tại sao? Một tác giả giải thích thế này: the human heart runs on denial the way my car run on gas (tấm lòng con người chạy bằng sự chối tội như xe chạy bằng xăng)
Vậy chúng ta chỉ tỉnh ngộ để để nhận biết tội, ăn năn tội với Chúa và tin nhận TL khi ĐTL mở mắt của lòng chúng ta. Chúa của đời này là ma quỉ luôn muốn chúng ta làm ngơ hay chối tội mình. Sứ đồ PL giải thích: Nếu Tin lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất, 4 cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 4:3-4)
Trong xã hội ngày nay mọi lỗi lầm, mọi tội ác đều có thể đổ thừa vào hoàn cảnh, môi trường, hay đổ thừa cho gia đình, cho người chung quanh hay cho những bất công trong xã hội. Nói cách khác người phạm tội, phạm lỗi cho mình là một nạn nhân. Vì là nạn nhân nên họ phạm tội. Vâng tôi làm sai, nhưng tôi làm sai bởi vì gia đình, cha mẹ, anh em tôi đã khiến tôi làm sai. Tôi làm sai bởi vì môi trường, vì hoàn cảnh khi tôi lớn lên khiến tôi làm sai. Tôi làm sai là bởi vì họ là nạn nhân của môi trường, của hoàn cảnh, của gia đình, của xã hội.
Người con hoang đàng chỉ tỉnh ngộ khi anh hết tiền bạc, hết bè bạn, khi có cơn đói trong xứ, khi phải chăn heo kiếm sống, khi muốn ăn vỏ đậu của heo nhưng không được. Hoàn cảnh, thông thường là nghịch cảnh giúp chúng ta tỉnh thức để ăn năn. Nghịch cảnh khó khăn làm giảm đi lòng kiêu ngạo, tự phụ. Bệnh hoạn, đau đớn, mất mát làm giảm đi lòng kiêu ngạo, tự phụ.
Khi làm chứng cho một người về tin lành, về Chúa Giê-xu, thường chúng ta nói về sự tha tội, nói về tình yêu thương, về ơn phước Chúa ban cho người tin nhận Ngài. Không có gì sai cả. Nhưng làm sao có sự tha tội, nếu một người không tin rằng họ phạm tội cùng ĐCT và thật lòng ăn năn tội.
Không ăn năn, thú nhận tội thì không có sự cứu rỗi. Nhưng ăn năn không phải chỉ tỉnh ngộ nhưng tỉnh ngộ để ý thức tội lỗi mình đã phạm và để thay đổi. True repentance is a turning of the heart as well as of the life. It is the giving up of the whole soul to God to be His forever and ever. It is the renunciation of the sins of the heart as well as the crimes of the life” (Charles Spurgeon)
TẠI SAO KHÓ THA THỨ?
Qv chắc đồng ý với tôi rằng con người như không có khả năng để tha thứ. Thử nhìn trong xã hội, trên thế giới đầy xung đột, chiến tranh. Dĩ nhiên lòng tham lam, độc ác là nguyên nhân. Nhưng một nguyên nhân quan trọng hơn là vì sự trả thù. Trả thù là buộc người đã làm cho mình mất mát, thiệt hại, đau khổ cũng phải mất mát, đau khổ như họ đã làm cho mình. Không tha thứ được là bởi vì không thể chấp nhận được sự mất mát, đau khổ người ta gây ra, là muốn người làm thiệt hại mình phải trả đó thì mới thỏa lòng. Nhưng tha thứ là chấp nhận mất mát, thiệt hại, món nợ mà người gây thiệt hại cho mình phải trả.
Tha thứ là chấp nhận trả giá cho sự mất mát, thiệt hại, cho một món nợ thay vì buộc người phạm lỗi phải trả. Thay vì bắt qv phải trả giá đắt cho tội lỗi đã phạm, ĐCJC trả giá đó. Một điều nghịch lý là mọi người đều muốn được tha thứ, nhưng lại không tha thứ. Hầu hết mọi người đều khuyên nhau thôi bỏ qua đi, chuyện không đáng gì. Nhưng khi chuyện đến mình thì chuyện không đáng trở nên quá đáng.
Hơn thế nữa Chúa không chỉ tha thứ chúng ta một lần khi chúng ta xưng nhận mình là kẻ có tội không thể tự cứu chính mình và được nhận sự cứu rỗi qua ĐCJC, nhưng còn trong cuộc sống mỗi ngày. Bởi vì mỗi ngày chúng ta đều phạm lỗi, phạm tội cùng Chúa.
Theo thống kê của cơ quan nghiên cứu Barna về cảm nghĩ của những người trẻ tuổi khi được hỏi điều gì đến trong trí họ khi nghĩ về người Cơ Đốc. Thông thường câu trả lời là họ hay xét đoán, lên án, buộc tội, chỉ trích, cố chấp không bỏ qua lỗi, không tha thứ. Tín đồ thuộc Ê-phê-sô 2:8-9: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Thuộc bài cầu nguyện chung: Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi nhưng vẫn không tha thứ. Được nhận ân điển, tha thứ từ ĐCT nhưng đối xử với người chung quanh thiếu ân điển, không có sự tha thứ.
Lắm lúc trong vòng tín đồ người ta khó tìm được sự tha thứ, ân điển hơn cả bên ngoài đời. Như trong bài giảng ngày lễ Mẹ tuần rồi tôi kể cho qv nghe câu chuyện thật tại một HT đối với một cô gái lỡ dại có thai: bộ mẹ con bà không biết xấu hổ sao mà còn chừa mặt đến nhà thờ. Tín đồ có thể nghĩ rằng mình trong sạch hơn, chân chính hơn, có quan hệ gần gủi với ĐCT hơn người khác, nghĩ mình đúng hơn, động cơ mình trong sạch hơn, thái độ, việc làm mình chính đáng, phải lẽ hơn!
Tuy nhận lấy món quà hết sức quí báu là sự tha thứ từ ĐCT mỗi ngày trong cuộc sống, nhưng tín đồ lại khó tha thứ cho người. Không phải vì sự tha thứ quá quí báu nên chỉ cho ra mỗi lần một chút. Không phải bởi vì sự tha thứ hiếm hoi, khó tìm từ nơi Chúa nên tín đồ phải dè xẻn, cẩn thận khi dùng nó. Không phải khi xài hoài thì sự tha thứ sẽ cạn hết.
Sự tha thứ, có thể nói, là một món quà quí báu nhất tín đồ được ĐCT ban cho cách rộng rãi, dư dật nhưng chính là món quà tín đồ ít cho đi nhất. Một tác giả viết: Người không thể tha thứ đã tự đốt chính cây cầu chính mình sẽ phải đi qua để được đến thiên đàng. (George Herbert)
Sự tha thứ là thói quen con tim đầu tiên và quan trọng nhất mà tín đồ phải có. Nếu không tập tành sự tha thứ thì không thể tạo được thói quen tha thứ. Nếu không có thói quen tha thứ thì sẽ không bao giờ có thói quen con tim về sự tha thứ. Tha thứ thật sự từ tận đáy lòng, tha thứ cách chân thành từ con tim, không giả dối, không đầu môi chót lưỡi.
Làm sao để tha thứ? Khi thật sự, thật sự đã kinh nghiệm được tình yêu thương quá lớn, sự tha thứ quá lớn mỗi ngày, vâng mỗi ngày vì chúng ta phạm tội mỗi ngày, của ĐCT cho tội nhân như tôi. Trái tim, tấm lòng của người thật sự kinh nghiệm được sư tha thứ sẽ lớn đủ, giàu có đủ để tha thứ. Làm sao để tha thứ? Khi thật sự, thật sự hiểu rằng ĐCT đã ban cho tôi, kẻ được cứu và tha thứ, mọi thứ ơn phước thiêng liêng từ trời và kinh nghiệm được sự ngọt ngào của những ơn phước thiêng liêng này.
Qv có nhớ câu chuyện của người phụ nữ xấu nết (trụy lạc – BDM) trong sách Lu-ca 7:36-50 không? Chuyện một người Pha-ri-si tên Si-môn mời ĐCJC đến nhà ăn tối. Vả, có một người đàn bà xấu nết ở thành đó, nghe nói Đức Chúa Jêsus đang ngồi bàn tại nhà người Pha-ri-si, bèn đem đến một bình ngọc trắng đựng đầy dầu thơm. 38 Người đứng đằng sau, nơi chân Đức Chúa Jêsus, khóc, sa nước mắt trên chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà chùi; lại hôn chân Ngài, và xức dầu thơm cho. (7:37-38). Si-môn, người chủ nhà thấy người phụ nữ này thì nghĩ trong lòng tại sao ĐCJC lại để bà này làm như vậy, không biết đây là người xấu nết, trụy lạc này sao. Biết vậy ĐCJC mới kể cho hắn nghe một câu chuyện ngụ ngôn: một chủ có hai người nợ, 100 đồng đơ-ni-ê (1 đồng = 1 ngày làm việc) và 50 đồng. Chủ tha nợ cho cả hai. (Trong một câu chuyện khác ĐCJC kể về người được tha nợ nhiều lại nắm cổ đòi nợ người nợ mình)
Chúa hỏi: trong 2 người đó người nào yêu chủ hơn. Si-môn trả lời: chắc là người được chủ tha nợ nhiều. Đoạn, Ngài xây lại người đàn bà mà phán cùng Si-môn rằng: Ngươi thấy đàn bà nầy không? Ta vào nhà ngươi, ngươi không cho nước rửa chân; nhưng người đã lấy nước mắt thấm ướt chân ta, rồi lấy tóc mình mà chùi. 45 Ngươi không hôn ta; nhưng người từ khi vào nhà ngươi, thì hôn chân ta hoài. 46 Ngươi không xức dầu đầu ta; nhưng người lấy dầu thơm xức chân ta. (44-46). Và đây là câu KT từ chính ĐCJC mà mỗi tín đồ cần nhớ Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đàn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít. (47).
Chúa dạy khi ý thức rõ rằng người tin Chúa đã được tha thứ quá nhiều thì tình yêu thương của họ đối với Chúa càng nhiều hơn. Nhiều đến nỗi tình yêu thương đó tràn đầy ra làm cho sự tha thứ trở thành một thói quen của con tim.
Tôi đọc lại lời của ĐCJC: Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đàn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít.
Tôi xin kết thúc với lời dạy của sứ đồ PL: Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhượng, mềm mại, nhịn nhục [kiên nhẫn với nhau], 13 nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác, thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. 14 Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành. (Cô-lô-se 3:12-14)
