Cả Kinh Thánh – Ta Đến Để Làm Trọn
Trong phần này của BGTN ĐCJC, khi mới đọc qua, chúng ta có thể cảm thấy dường như Chúa đổi đề tài từ cách sống của người tín đồ cần như muối, ánh sáng sang đến luật pháp. Để hiểu đoạn KT này trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là luật pháp và lời tiên tri Chúa nói đến. Trong thời ĐCJC sinh sống, KT Chúa đọc là KT CU của người Do Thái. Dù nội dung giống nhau nhưng phân đoạn của KT Chúa đọc và CU ngày nay khác nhau.
Về KT Cựu Ước [3]
KT CU chúng ta dùng ngày hôm nay gồm 39 sách được chia làm 5 phần chính [3]: [3] Luật pháp gồm 5 sách đầu (gọi là ngủ kinh) do Mô-sê (hay tin là Mô-se) viết; [4] Lịch sử gồm 12 sách từ Giô-suê đến Nê-hê-mi.; [5] Thơ văn gồm 5 sách: Giốp, Thi Thiên, Châm ngôn, Nhã ca và Truyền đạo; [6] Đại tiên tri gồm 5 sách: Ê-sai, Giê-rê-mi, Thương ca, Ê-xê-chên, và Đa-ni-ên; [7] cuối cùng là Tiểu tiên tri gồm 12 sách. Gọi là đại và tiểu không phải bởi vì tầm quan trọng của nó nhưng bởi vì dài hay ngắn như Ê-sai gồm 66 đoạn nhưng Áp-đia chỉ gồm 1 đoạn. Chú ý về sự sắp xếp này: 5, 12, 5, 5, 12. Tổng cộng KT CU gồm 39 sách.
Khác với cách phân bố của KT hôm nay, KT của người Do Thái (KT Hê-bơ-rơ) gồm 24 sách chia làm 3 phần [8]: Luật pháp (Torah), Tiên tri (Nebi'im – Nê-vi-im), và Các Sách (Writings – Kethubim - Kết-tu-vim). Phần thứ I gọi là Luật Pháp gồm 5 sách đầu tiên do Mô-se (hay tin là Mô-se) viết [8]. Phần thứ 2 [8] gọi là Tiên Tri chủ yếu gồm các sách lịch sử và sách tiên tri (12 tiểu & 5 đại tiên tri) ngoại trừ một số khác biệt như không gồm có 2 sách Sử Ký, sách tiên tri Đa-ni-ên và Ê-xê-tê. Phần thứ 3 [3] gọi là Các Sách chủ yếu gồm thơ văn như Thi Thiên, Gióp, Nhã Ca, hay sách dạy về sự ngôn khoan như Châm Ngôn và Truyền Đạo nhưng lại gồm sách tiên tri Đa-ni-ên và vài sách sử ký. KT Hê-bơ-rơ gồm 24 sách bởi vì nhiều trường hợp một sách lại gồm 2 hay nhiều hơn sách trong KT chúng ta.
Vậy KT ĐCJC đọc chủ yếu là KT CU chúng ta đọc hôm nay. Và Chúa khẳng định rằng Ngài không đến thế gian để phá bỏ luật pháp và các sách tiên tri nhưng để làm trọn. Không phải bởi vì Jêsus Christ đã đến thế gian, chia xẻ Tin Lành về sự cứu rỗi, chết cho tội loài người trên thập giá, không phải vì hôm nay đã có KT TU nên hội thánh không cần CU. KT CU dù nội dung có khác với TU, dù những lời dạy có thể khác nhưng cả hai đều có giá trị như nhau, cả hai phần đều được ĐCT soi dẫn cho người viết để ghi lại lời và ý của ĐCT phán dạy loài người: [9] Cả Kinh Thánh (CU lẫn TU) đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành (2 Ti-mô-thê 3:15-16).
Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ư một người nào mà ra, nhưng ấy là [được] Ngài Đức Thánh Linh cảm động [tác động, dùng để ] mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời. (2 Phi-e-rơ 1:20-21)
Tại Sao Lại Cần KT CU? [10]
Trước khi tiếp tục giảng về lời Chúa trong Ma-thi-ơ, tôi muốn dừng lại đây một chút để giải thích vài câu hỏi phổ thông trong vòng tín đồ. Tín đồ thường hỏi tại sao Kinh Thánh gồm cả Cựu Ước và Tân Ước, hai phần này giống và khác nhau,và liên quan với nhau như thế nào? Tại sao tín đồ cần đọc, học, biết KT CU? Không phải những điều ĐCJC và các sứ đồ dạy trong TU là đủ rồi hay sao? KT CU thật là khó hiểu, gồm nhiều gia phả, luật pháp, câu chuyện lịch sử như chẳng liên quan gì đến đức tin mỗi ngày.
Từ ước trong CU và TU không có nghĩa là ước vọng, ước muốn nhưng là lời hứa, giao kết, khế ước. Để có thể gọi là lời hứa, giao kết thì phải có hai bên. Cựu dù có nghĩa là cũ, xưa, trước đó nhưng không có nghĩa là lỗi thời, lạc hậu hay không có ý nghĩa, giá trị gì cho đức tin.
[10] CU chủ yếu ghi lại về lời hứa của ĐCT cho loài người sau khi phạm tội rằng sẽ có một đấng cứu tinh (Mê-si) sẽ đến từ dân tuyển Y-sơ-ra-ên (Do Thái) để chịu chết và chuộc tội cho loài người. Đấng đó sẽ đến thế gian trong thời điểm đã được ĐCT định trước, chứ không do sự chọn lựa hay quyết định của loài người.
[10] TU ghi lại sự ứng nghiệm của lời ĐCT đã hứa trong CU về Đấng cứu tinh qua sự giáng sinh của ĐCJC, qua cuộc đời và những lời dạy, qua sự chịu chết trên thập tự giá và sống lại vào ngày thứ ba của ĐCJC cho tội của nhân loại. Dĩ nhiên tôi đơn giản hóa hai phần này của KT rất nhiều.
Chính nhờ CU mà chúng ta có những tiên tri vô cùng mầu nhiệm về sự giáng sinh của ĐCJC, về dân tuyển Y-sơ-ra-ên cho đến hôm nay. Nhờ CU mà chúng ta ý thức về giá trị bội phần của sự cứu chuộc của ĐCJC trên thập tự giá, về ân điển, về sự tự do trong Đấng Christ.
Có người lại hỏi: chúng ta cần gì đến luật pháp dạy trong CU nếu hiện nay đã được Chúa cứu và sống trong thời ân điển. Tôi xin được giải thích như sau: Khi con cái chúng ta còn trẻ thơ, chúng ta dạy cho chúng nó những điều đơn giản: ăn cái này, uống thức nọ, chơi ở đây, đừng chạy chổ khác, mặc áo này, mặc quần nọ. Đến vài ba tuổi em bé bắt đầu tự lập hơn sau khi biết rõ được giới hạn trong sinh hoạt mỗi ngày, trong quan hệ với cha mẹ, anh chị em, người thân quen. (Quan hệ với người lạ vẫn còn khó khăn lắm). Nếu không được dạy đừng thọc kim vào ổ điện thì em bé có thể làm điều đó mà không biết sẽ gặp nguy hiểm. Theo thời gian, thêm kiến thức, thêm kinh nghiệm sống, trẻ em bắt đầu tự quyết định cho mình về quần áo mặc, về thức ăn, về việc đi lại. Và khi càng lớn lên thì càng độc lập, càng có nhiều tự do hơn. Mọi quyết định trong đời sống lúc bấy giờ hoàn toàn thuộc về cá nhân đó.
CU có thể tạm ví như những lời dạy khi chúng ta còn con trẻ, cần được sự hướng dẫn trong mọi vấn đề của cuộc sống. Người DT ngày nay liệt rõ trong các sách luật pháp Mô-se có 613 luật (365 tiêu cực - đừng làm điều này, 248 tích cực - cần làm điều này). 613 luật này ra từ 10 điều răn của ĐCT. Đa-vít tóm lại 613 luật đó trong 15 luật từ các thơ, các sách ông viết; Ê-sai, 6, Mi-chên 3. Và Mác ghi lại trong câu chuyện những người thầy thông giáo hỏi ĐCJC: Trong các điều răn, điều nào là đầu hết? Thay vì một, ĐCJC trả lời người đó với hai điều: Nầy là điều đầu nhứt: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hăy nghe, Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa có một. Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều đó. (Mác 12:29-30).
Theo thời gian dân sự trưởng thành, họ bắt đầu phân biệt được những điều luật thật sự bao gồm nhiều điều luật khác. Ví dụ: khi còn nhỏ, chúng ta dặn con khi đến nhà người khác: đừng làm đổ đồ, đừng chạy nhảy đụng vào tủ kiến bể đồ, đừng bóc các tượng dễ bể, đừng đụng gì lấy đó, phải khoanh tay cúi đầu chào… Nhưng đến tuổi 18, 20 cha mẹ chỉ cần dặn: phải khéo cư xử, ăn nói, có thái độ trưởng thành.
Cũng vậy luật pháp trong CU có thể xem như những lời dạy hết sức cụ thể và chi tiết nhưng hết sức cần thiết cho người tin và theo Chúa để biết cách cư xử, sinh sống, thờ phượng. Đến thời TU, chỉ sau khi học được hết và làm trọn những điều luật được dạy trong CU chúng ta mới có thể đủ trưởng thành mà hiểu được ý nghĩa của ân điển, của sự tự do trong Chúa mà PL dạy trong sách Rô-ma và Ga-la-ti.
Khi đọc điều răn thứ ba trong 10 điều răn: Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi (Xuất 20:7) , thường chúng ta nghĩ chớ nên lấy tên, lấy danh Chúa mà thề, nói tục. Nhưng lời răn này cũng mang một lời dạy khác là chớ sống cuộc sống mỗi ngày như ĐCT không hề hiện hữu, sống mà không ý thức về sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống. Phải chăng lời răn này cũng có thể được phát triển như PL trong 1 Cô-rinh-tô 10:31-32: Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hăy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm. Đừng làm gương xấu cho người Giu-đa, người Gờ-réc, hay là Hội thánh của Đức Chúa Trời. Nói cách khác PL lúc nào cũng cố sống để sanh ĐCT không bị hổ, hay để người ta lấy mà làm chơi, làm trò đùa.
Hơn nữa nhiều sách trong TU không thể hiểu được hay tách rời khỏi kiến thức từ CU như sách Hê-bơ-rơ (có nghĩa là người Do Thái), Giu-đe và Khải Huyền (có rất nhiều hình ảnh, chi tiết từ sách Đa-ni-ên và Ê-xê-chên). Biết bao nhiêu lời dẫn chứng, lời trích từ CU của ĐCT, từ sách sứ đồ trong KT TU. Như Ma-thi-ơ chủ yếu muốn người đọc biết rằng sự giáng sinh của ĐCJC là ứng nghiệm từ tiên tri trăm năm trước đó trong CU nên bắt đầu sách với gia phổ của ĐCJC bắt đầu từ Áp-ra-ham. Ma-thi-ơ cũng trích dẫn nhiều lần từ KT CU từ Ê-sai, Mi-chê, Giê-rê-mi, Ô-sê.
Nhưng còn hơn thế nữa. KT CU đem lại nguồn an ủi và động viên vô cùng cho tất cả con cái Chúa khi đi qua bóng tối của khổ đau, mất mát, khi có sự nghi ngờ, lay động trong đức tin, khi phải đối nghịch với cảnh ngộ không hiểu được. Ban Phụ Nữ đang học sách Ru-tơ và kinh nghiệm rằng trong cuộc đời này chắc chắn hoạn nạn, khốn cùng đến nỗi khiến cho con dân Chúa có thể trở nên cay đắng: Na-ô-mi, có nghĩa là đẹp đẻ, ngọt ngào, dễ mến, bảo những người phụ nữ khác gọi bà là Ma-ra, cay đắng vì Đấng Toàn năng đã đãi tôi cách cay đắng lắm. Tôi đi ra được đầy dẫy, nhưng Đức Giê-hô-va dắt tôi về tay không. Đức Giê-hô-va đã giáng họa cho tôi, và Đấng Toàn năng khiến tôi bị khốn khổ, vậy còn gọi tôi là Na-ô-mi làm chi?(Ru-tơ 1:20-21). Hay những lời thở than hết sức thống thiết của Gióp hay Đa-vít khi trải qua những cảnh ngộ đau thương quá mức. Khi nằm trên giường dưỡng thương sau khi giải phẩu đặt máy trợ tim, tôi đọc Gióp, Thi thiên, Rô-ma 8:28-39 về tình yêu thương của Chúa. Lúc bấy giờ giáo điều, luật pháp không giúp nhiều cho chúng ta lắm!
[Câu chuyện của Hunter Norwood, người cha vợ Philip Yancey trong The Bible Jesus Read trước khi qua đời đã tìm yên ủi từ KT CU, pp 39-42]
TA ĐẾN ĐỂ LÀM TRỌN [11]
[11] Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn, Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn. (Ma-thi- ơ 5:17-18)
Tôi nghĩ có thể một lý do ĐCJC nói với môn đồ và đoàn dân lời này vì những điều dạy của Ngài dường như quá khác với những lời các thầy thông giáo, các thầy tế lễ dạy họ từ CU. Họ không đọc đâu ra từ CU về 8 phước lành lạ lùng với những điều kiện khó khăn, chưa bao giờ nghe trong nhà hội rằng họ là muối của đất, ánh sáng của thế gian. Có thể họ tự hỏi hay thầm thì với nhau như được ghi lại trong cuối BGTN đoàn dân lấy đạo Ngài làm lạ (vô cùng ngạc nhiên, sững sốt): Jêsus này là ai mà dạy những điều tôi chưa bao giờ nghe đến, những điều lạ lùng này!
Tuy nhiên lý do quan trọng nhất mà Chúa phán những lời này là bởi vì Ngài muốn xác nhận rõ cùng người nghe về niềm tin vào lời ĐCT trong CU và khẳng định những lời dạy của Ngài không đối nghịch, tương phản, hay bài bác CU. Hai ý quan trọng từ lời phán này của ĐCJC:
Mục đích Chúa đến không phải để phá bỏ luật pháp hay tiên tri nhưng để chỉ rõ rằng luật pháp và tiên tri thật sự nói trước, tiên đoán trước về lý do và mục đích Ta đến thế gian. Khi Ta đến thế gian thì bấy giờ lời dạy CU mới hoàn toàn được làm trọn.
Ta cũng làm trọn lời CU qua lời dạy của chính Ta cho các người. Ta sẽ giải thích cho các ngươi rõ về ý nghĩa thật sự của luật pháp và tiên tri khi Cha Ta qua ĐTL dùng các tiên tri để ghi lại ý chỉ của Người.
Từ làm trọn (plẽrõsai) có nghĩa là làm cho đầy. Một tác giả giải thích Lời dạy của ĐCJC không phải để phá bỏ lời dạy trong CU, nhưng làm cho đầy trọn ý nghĩa thật. Chúng ta hỏi ĐCJC làm trọn thế nào?
[11] CU gồm có lời dạy về đức tin, giáo điều (doctrinal teaching). Đức tin, giáo điều về quan hệ giữa GHVa và dân sự của Ngài, về cách thờ phượng, về những niềm tin cụ thể như trong bốn lời răn đầu tiên: Chớ có các thần khác ngoài Ta; chớ thờ hình tượng; chớ lấy danh Chúa mà làm chơi; Lấy ngày nghĩ làm ngày thánh để thờ phượng GHV. ĐCJC làm trọn qua việc thực hiện tất cả những điều dạy này qua chính đời sống hoàn toàn vô tội, qua lời dạy của Chúa, và qua sự hy sinh cứu chuộc trên thập giá cho tội loài người.
[11] CU gồm những lời tiên tri (predictive prophecy). Khi về quê hương mình vào nhà hội ĐCJC và đọc sách Ê-sai như trong đoạn 61:1-2 : Thần của Chúa ngự trên ta: Vì Ngài đă xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đă sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa... Ngài bèn phán rằng: Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó (Lu-ca 4:18-21). Tiên tri về đấng Mê-si, đấng cứu rỗi từ CU được làm trọn, ứng nghiệm qua sự giáng sinh, cuộc đời của ĐCJC.
Nhưng hơn thế nữa Jêsus làm trọn việc tế lễ của thầy tế lễ cả thượng phẩm trong đền thờ. Trước đó đại diện cho dân sự thầy tế lễ cả hằng năm phải vào nơi chí thắng của đền thờ để dân của lễ chuộc tội. Khi ĐCJC trút hơi trên thập giá, tấm màng trong nơi chí thánh bị xé làm đôi, tượng trưng rằng từ nay qua việc đổ chính huyết Ngài trên thập giá, Jêsus đã làm trọn vẹn sự cứu rỗi. Từ này sẽ không cần sự dâng của lễ chuộc tội hằng ngày, hằng tháng, hằng năm bởi vì Jêsus đã làm trọn. Từ này người tin Ngài sẽ không còn phải qua trung gian người thầy tế lễ cả mà có thể đến trực tiếp cùng ĐCT bởi vì Jêsus đã làm trọn vẹn mọi điều kiện. Những điều trong CU là bóng nhưng ĐCJC mới thật sự là hình.
[11] CU gồm những lời dạy, đòi hỏi, ý niệm về đạo đức và đời sống đạo đức ĐCT đòi hỏi (ethical precepts) để được xưng công bình trước Ngài. Người Pha-ri-si, các thầy thông giáo dạy rằng muốn làm trọn luật pháp Chúa phải giữ trọn 613 luật (248 điều lệnh và 365 điều cấm). Ai có thể giữ trọn tất cả các luật này? Chắc chắn không một ai cả. Chính vì vậy mà họ phải đến đền thờ để dâng của lễ chuộc tội. Ngoại trừ ĐCJC. Chúa hoàn toàn trong sạch, không hề phạm tội trong suốt cuộc đời trên đất. Như theo lời Phao-lô, Nhưng khi kỳ hạn đă được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài (Ga-la-ti 4:4).
Vào thế kỷ thứ 2 một phản đồ tên Marcion viết lại KT TU bằng cách loại bỏ tất cả những câu trích, những lời dạy liên quan đến CU. Các môn đồ của hắn còn đi hơn một bước bằng cách đổi ngược ý nghĩa của lời ĐCJC: Ta đến không phải để làm trọn luật pháp và các lời tiên tri nhưng để phá bỏ! Người tín đồ hôm nay chớ mắt tội như những người phản đồ này. Chúng ta tin KT, chúng ta tin cả CU và TU bởi vì lời của ĐCJC đã xác định rõ rằng Chúa không đến để phá bỏ nhưng đến để làm trọn.
Sau khi sống lại Chúa hiện ra cùng hai môn đồ trên đường Ê-ma-út. Lu-ca viết: [12] Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. (24:27). Đây là ý nghĩa của việc làm trọn.
Trong Giăng 5:39-40, Chúa phán [13] Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. [Nhưng, vậy đó mà] Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống!
