Buổi Ăn Cuối Trên Phòng Cao
Giải thích lý do của bài giảng về Phục Sinh trước Thương Khó: Bởi vì muốn chúng ta nhìn sự thương khó dưới góc độ của Phục Sinh. Thương Khó có thể là dấu chấm của các môn đồ trong hai ngày thứ Sáu và thứ Bảy tuần lễ cuối đó, nhưng khi đã biết Chúa sống lại, dấu chấm đó sẽ trở thành dấu chấm than!
Trong bài giảng sáng nay chúng ta sẽ suy gẫm về một sự kiện rất quan trọng của ĐCJC trong bửa ăn cuối cùng các môn đồ. Khi xem xét về sự chết của các lãnh đạo tôn giáo khác Chúa, qv đều thấy cái chết của họ rất giống nhau. Phật chết lúc 80. Khi mất có rất nhiều môn đồ bên cạnh. Phật chết một cách bình an và xem như hoàn thành công vụ cứu sinh. Khổng Tử dù khi còn sống buộc phải bỏ quê hương, làng xóm nhưng cuối cùng cũng trở lại quê nhà, nhận chức vị, vinh dự to lớn. KT mất lúc 72 tại xứ ông là Qufu bên cạnh bao nhiêu người đệ tử hứa sẽ tiếp tục sự nghiệp thầy. Mô-ha-mét của Hồi giáo chết trong tuổi 60 sau khi đã trở nên người sáng lập và lãnh đạo của một tôn giáo mới, một lãnh tụ chính trị đầu tiên thống nhất các chi bộ Arabia. Ông chết trong tay người vợ.
Chúng ta tương phản những cái chết này với ĐCJC. KT viết về một người thợ mộc, không được tôn trọng trong xứ mình, chết vào tuổi khoảng 33 sau khi chỉ giảng đạo trong vòng 3 năm. Khi chết lại bị chính dân Ngài từ bỏ. Chết như một tử tội trên thập tự giá, một hình phạt kinh khủng nhất của người La-mã. Trước đó lại bị phản bội, chối bỏ bởi chính các môn đồ gần gũi nhất, những người cùng sống trong 3 năm. Và theo lời KT còn bị chính ĐCT từ bỏ khi bị treo trên thập giá.
ĐCJC chết khi còn quá trẻ. Chết một cách thảm thương, đau đớn, nhục nhả. Nhục nhả bởi vì bị đóng đinh trên thập tự giá là một xử tử ghê gớm, nhục nhả nhất dành cho những kẻ phạm trọng tội như những kẻ giết người. Nhục nhả vì khi treo trên thập giá, người phải bị lột trần truồng trước bao nhiêu cặp mắt ngắm nhìn từng phút. Bởi vì cái chết không đến ngay lập tức nhưng kéo dài giờ này qua giờ nọ thậm chí một hai ngày, với mỗi giây phút đau đớn vô cùng.
Tôi muốn hỏi qv. Có phải là điều hợp lý, phải lẽ khi các lãnh tụ tôn giáo chết cách bình an, phước hạnh hay không? Nhìn cái chết của những người thầy dạy đạo đức đó, các môn đồ đều nghĩ thật phải lẽ, xứng hợp, thật phước hạnh. Nhưng khi nghĩ về cái chết của ĐCJC, qv nghĩ thế nào? Ai có thể ngưỡng mộ, khâm phục khi nhìn Giê-xu trên thập giá, người đẫm máu, trần truồng, chết dần mòn, không nhà, không tiền, không sự nghiệp? Ai muốn nhìn vào sự cuối của cuộc đời ĐCJC nói: Tôi muốn cuộc đời tôi như vậy, rồi chết giống như vậy. Ai trong số dân chúng ngày đó muốn xem thập giá và lấy đó làm vinh dự, xem như ơn phước?
Nhà hùng biện La-mã Cicero nói từ gọi thập giá là một lời nguyền rủa, như một tiếng chửi thề. Tại sao thập giá là một lời nguyền rủa? Bởi vì thập giá tượng trưng cho hình phạt độc ác, ghê sợ, cho sự thảm bại, tuyệt vọng, và cho một cái chết đau đớn, nhục nhả của một tử tội. Vậy đó mà những môn đồ của hội thánh đầu tiên lập lấy thập giá làm dấu hiệu cho niềm tin. Tại sao người theo Chúa lại chọn hình ảnh biểu hiện cho tất cả những điều đó cho niềm tin?
Câu trả lời độc nhất là bởi vì những lời dạy của ĐCJC về mục đích, ý nghĩa của cái chết Ngài trên thập giá là thật, bởi vì sự sống lại vinh hiển của Ngài là thật. Điều gì Chúa dạy về thập tự giá? Là nơi con Trời chịu nhận hình phạt dã man nhất, đau đớn cho đến chết để trả giá đắt của tội lỗi con người, tội lỗi của tôi, và mỗi qv. Bởi vì nếu không sự đổ huyết thì cũng sẽ không có sự chuộc tội, tha thứ. Theo Kinh Luật, hầu hết mọi vật đều được tẩy thanh bằng huyết, và không đổ huyết thì không có sự tha tội. (Hê-bơ-rơ 9:22 – BDM) Chỉ sau khi Chúa sống lại, các môn đồ mới hiểu được ý nghĩa và giá trị của thập giá.
Trong buổi ăn cuối cùng các môn đồ trên phòng cao, còn gọi là buổi ăn về lễ Vượt Qua, ĐCJC cho chúng ta những lời dạy rõ nhất về ý nghĩa của thập giá và sự chết của Ngài. Buổi ăn lễ VQ dạy ba điều: 1) Quan trọng của sự Chúa chết; 2) Mục đích của sự Chúa chết; 3) Ý nghĩa của sự Chúa chết cho đời sống (nhận lãnh được gì)
QUAN TRỌNG CỦA SỰ CHÚA CHẾT
Lu-ca 22:7-13 cho biết trước ngày lễ VQ, ĐCJC sai Phi-e-rơ và Giăng vào thành Giê-ru-sa-lem gặp một người vác bình nước và theo người đó về nhà. Ông sẽ chỉ cho một phòng rộng lớn trên lầu (vì vậy mới gọi là phòng cao) là nơi mà Chúa và các môn đồ sẽ dự bửa ăn cuối cùng kỷ niệm lễ VQ. Lễ VQ là gì? Gọi là lễ VQ vì lễ kỷ niệm đêm ĐCT giải cứu dân sự ra khỏi xứ Ai-cập (vượt qua từ nô lệ đến tự do).
Sách XEDTK cho biết dân sự Chúa bị làm nô lệ trong xứ Ai-cập mấy trăm năm. Họ khổ sở và kêu cầu cùng ĐCT được giải thoát khỏi vòng nô lệ. ĐCT gọi Mô-se đối chấp với vua Pha-ra-ôn để dân Chúa được tự do.
Trong đêm trước khi ĐCT giải cứu dân sự, Chúa phán dặn dân sự làm một bửa ăn đặc biệt. ĐCT cũng dạy về bửa ăn này hay lễ này: Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ niệm; trải các đời hãy giữ làm một lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời. (Xuất 12:14). Chính vì lời răn này mà dân sự cho đến thời ĐCJC (và mãi đến hôm nay) vẫn tiếp tục giữ lễ này với bửa ăn trong đêm như khi dân sự được Chúa giải cứu. Chính vì lý do này, ĐCJC kỷ niệm lễ VQ với bửa ăn tối trên phòng cao cùng các môn đồ. Gọi là lễ VQ vì lễ kỷ niệm đêm ĐCT giải cứu dân sự ra khỏi xứ Ai-cập (vượt qua từ nô lệ đến tự do).
Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta. (Matt 22:26) Có nghĩa là chính ĐCJC là người chủ lễ, người cử hành bửa ăn kỷ niệm lễ VQ. Trong bửa ăn lễ VQ nào cũng cần một chủ lễ. Là cha, nếu trong gia đình; là một người đại diện của nhóm nếu trong nhóm đông. Mục đích của chủ lễ là để giải thích về ý nghĩa của lễ VQ trước khi cùng mọi người dự bửa ăn tối kỷ niệm lễ.
Thường thì chủ lễ sẽ đứng lên và nói: Đây là bánh của sự khốn khó (khổ sở) mà tổ phụ chúng ta đã ăn trong đêm Chúa giải cứu ra khỏi vòng nô lệ. Tổ phụ chúng ta chịu nhận mọi khổ sở để chúng ta có tự do. Nhưng khi làm lễ, Chúa đứng lên trước khi bẻ bánh nói: Bánh này là thân thể Ta. Có nghĩa là bánh khổ sở chính là thân thể Chúa sẽ chịu tan vỡ, chịu chết cho các môn đồ. Chính bánh này hay chính thân này khi chịu tan vỡ sẽ giải cứu các người ra khỏi vòng nô lệ sang đến tự do. Không phải nô lệ của vua chúa mà là nô lệ của tội lỗi. Không chỉ cho các môn đồ nhưng còn cho mọi người có tội.
Khi nói những lời này, ĐCJC muốn nói cùng các môn đồ rằng: Ngày xưa tổ phụ chúng ta ăn bửa tối này trong đêm ĐCT giải cứu khỏi vòng nô lệ của Pha-ra-ôn. Nhưng trong đêm nay, chính Ta qua thân tan nát sẽ giải cứu mọi người, không phải từ vòng nô lệ của vua chúa, mà từ vòng nô lệ của tội lỗi và sự chết. Khi Chúa đứng lên và nói cùng các môn đồ: Này là thân thể Ta, Ngài chủ ý thay đổi lời nói bình thường của chủ lễ: Đây là bánh của sự khốn khó. Ý nghĩa là chính sự hy sinh của thân Ta, sự chết của Ta mà mọi người sẽ được cứu ra khỏi tội lỗi và sự chết.
Sự giải cứu của dân Chúa khỏi xứ nô lệ có thể xem như là bóng mà hình chính là sự giải cứu tội của ĐCJC cho muôn dân. Tất cả lịch sử về sự cứu chuộc của dân Chúa cô động lại trong giờ phút khi ĐCJC dùng hình ảnh của bánh khốn khó để chỉ về thân thể sẽ nát tan trên thập giá. Tất cả những của lễ dâng trong ngàn năm qua cho tội lỗi của dân sự cô động lại trong giờ phút ĐCJC bẻ bánh và phán cùng các môn đồ khi bẻ bánh: Này là thân thể Ta vì các ngươi mà phó cho. Không chỉ cho dân Chúa mà còn cho mọi dân trên đất.
ĐCJC có thể dùng những ví dụ khác, bài học khác để dạy về điều này. Nhưng khi dùng bửa ăn kỷ niệm lễ VQ, Chúa dạy rằng: Đây là sự giải thoát kết thúc mọi giải thoát; sự xuất hành kết thúc mọi xuất hành. Trên thập giá trước khi trút hơi thở cuối cùng Chúa nói: Mọi việc đã trọn. Có nghĩa là sự chết của Chúa là sự giải thoát trọn vẹn khỏi vòng nô lệ của tội lỗi, của sự chết.
Và cũng như ngày xưa ĐCT dặn dân sự phải giữ bửa ăn kỷ niệm lễ VQ đời đời, ĐCJC cũng dạy những người tin Ngài giữ tiệc thánh thường xuyên cho đến khi Ngài đến. Các ngươi hãy làm điều này để nhớ Ta. Nhớ gì? PL viết: Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến. (1 Cô-rinh-tô 11:26) Bánh là thân Chúa, rượu (không phải nước nho) là huyết Chúa. Thân và huyết đã đổ qua sự chịu chết trên thập giá để cứu chuộc tội lỗi loài người. Nếu không quan trọng ĐCJC đã không bảo chúng ta thường xuyên làm tiệc thánh.
Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời (1 Phi-e-rơ 3:18)
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ CHÚA CHẾT
Hết thảy các con hãy uống đi. Vì đây là huyết Ta, huyết của giao ước đổ ra cho nhiều người được tha tội. (Matt 26:28 – BDM)
Bửa ăn lễ VQ gồm 3 phần: bánh không men (tượng trưng cho sự gấp rút); rượu, gồm 4 ly tượng trưng cho 4 lời hứa lớn theo XEDTK 6 sẽ được đọc trước khi uống. Bánh và rượu không chưa đủ. Món chính là gì? Là một con chiên. Chiên là điều chính yếu cho bửa ăn lễ VQ. Tôi xin giải thích. Sau 9 tai họa Pha-ra-ôn vẫn không để dân Chúa rời xứ Ai-cập (Ê-díp). ĐCT phán cùng Mô-se rằng Chúa sẽ giáng cho Pha-ra-ôn và cả xứ một tai họa cuối cùng chắn chắn sẽ làm cho Pha-ra-ôn để dân sự ra đi. Tai họa đó là thiên sứ của sự chết sẽ giết đứa con trai đầu lòng trong mỗi nhà.
Và trước khi tai họa xảy đến, ĐCT ra lệnh cho dân sự về chi tiết để chuẩn bị bửa ăn trong đêm đó và một việc họ phải làm vô cùng quan trọng. Điều đầu tiên để chuẩn bị cho buổi ăn trong đêm đó là làm thịt một con chiên để làm món chính. Các ngươi hãy bắt hoặc trong bầy chiên, hoặc trong bầy dê, chiên con đực hay là dê con đực, tuổi giáp niên, chẳng tì vít chi, 6 đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối. (Xuất 12:5-6). Sau khi giết chiên, một điều vô cùng quan trọng dân sự phải làm là: Rồi họ sẽ lấy huyết cừu đem bôi trên thanh ngang và trên hai thanh dọc của khung cửa vào nhà, là nơi sẽ ăn thịt cừu. (12:7)
Trong đêm đó, thiên sứ của sự chết đi ngang qua nhà của bất cứ người nào, nếu không có dấu máu chiên con thì con trai lớn trong nhà sẽ bị giết. Giả như gia đình nào của người Ai-cập được người Do Thái chỉ bảo làm điều này, lấy huyết chiên bôi trên khung cửa vào nhà thì cũng thoát được tai họa. Trong 10 tai họa, đây là một tai họa duy nhất mà ĐCT cho cơ hội để cả dân xứ Ai-cập có thể thoát nạn nếu có huyết chiên nơi khung cửa vào nhà. Dù là nhà của dân Chúa hay dân bản xứ Ai-cập nếu có dấu máu sẽ được tha.
ĐCT không bảo: Tai họa xảy chỉ xảy đến cho những gia đình xấu, chứ không cho gia đình tốt, hay cho gia đình dân bản xứ, chứ không cho gia đình dân Chúa. Không. Điều kiện để được tha là phải có huyết của chiên con. Huyết chiên con có nghĩa là chiên con chết thay cho người con trai đầu trong nhà. Huyết chiên con là của chuộc cho con trai đầu lòng. Sáng đến, mỗi con trai lớn trong xứ đều có thể nói: con chiên bị làm thịt, máu đổ ra để cứu tôi.
Qv nhớ trong KTTU khi Giăng Báp-tít nhìn thấy ĐCJC thì nói gì? Đây là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng xóa tội lỗi cho nhân loại! (Giăng 1:29). Sách KH viết về thiên đàng, thành phố trên trời sáng láng, đẹp đẻ: Tại đó sẽ không còn nghe lời nguyền rủa. Ngai Đức Chúa Trời và ngai Chiên Con sẽ đặt trong thành; các đầy tớ Chúa sẽ phụng vụ Ngài. (KH 22:3)
Chúa phán cùng các môn đồ trong bửa ăn tối đó: Hết thảy các con hãy uống đi. Vì đây là huyết Ta, huyết của giao ước đổ ra cho nhiều người được tha tội. Trong bửa tối đó chỉ có bánh và rượu, không có con chiên bởi vì chính ĐCJC là chiên con của ĐCT sẽ đổ huyết cho tội của muôn người. Khi nói: vì đây là huyết Ta, Chúa nói Ngài tự mình làm chiên chịu chết thế để chúng ta khỏi phải chịu chết vì tội lỗi mình. Tai họa sẽ đến, nhưng thiên sứ của sự chết sẽ bỏ qua nhà nào có máu chiên con. Chiên con chịu chết thế cho con trai trong nhà. Phán xét rồi sẽ đến, ai có huyết Chúa bao phủ thì sẽ tránh được sự chết đời đời. ĐCJC chịu chết thế cho tội của loài người. Thay vì con trai lớn phải chịu chết thì chiên con chịu chết thế. Thay vì qv phải chịu chết vì tội lỗi mình, nhưng Chiên Con ĐCT là ĐCJC chịu chết thế cho qv.
Tôi không biết trên đường Ê-ma-út với hai môn đồ, khi ĐCJC nói với họ tất cả KTCU đều chỉ về Chúa, thì Chúa có giải thích ý nghĩa của lễ VQ chỉ là cái bóng mà hình chính là sự chịu chết cho tội lỗi loài người hay không. Nếu chỉ có huyết chiên con trước cửa ra vào cứu được con trai đầu, thì cũng chỉ có huyết của ĐCJC mới cứu được tội chúng ta. Niềm tin về sự Chúa chịu chết thế này vô cùng quan trọng.
Khi chia sẻ Tin Lành, thường tôi nghe đạo nào cũng tốt. Đúng đạo nào cũng dạy người làm điều tốt, nhưng chỉ có một đạo Chúa mới cứu được tội. Khi nghe chỉ có duy nhất một đạo cứu thì có người bảo tại sao lại cực đoan quá như vậy? Bởi vì sự chết của ĐCJC hoặc cứu tội, hoặc chỉ là vô ích, vô nghĩa, vô lý.
Trong thời đầu của hội thánh, khi đại đế La-mã Alexander Severus biết về đạo Chúa, ông đem hình ĐCJC vào đền thờ và đặt chung với bao nhiêu hình của các thần khác. Rồi đại đế thờ lạy tại đền thờ, có nghĩa là thờ lạy của ĐCJC. Nếu đại đế thờ Chúa của người tin Ngài, thì tại sao người tin Chúa lại không thể thờ lại đại đế? Tín đồ trả lời: Chúng tôi không thể thờ phượng ĐCJC ngoại trừ khi chúng tôi chỉ thờ phượng Ngài. Tại sao vậy? Bởi vì chỉ có ĐCJC là Đấng qua sự chịu chết của Ngài cứu được tội lỗi con người, không có một thần, một chúa nào khác.
Khi hỏi tại sao Chúa chết, tôi nghe một số người, ngay cả tín đồ, trả lời: để bày tỏ tình yêu thương của Ngài. Giả sử có một cặp tình nhân đi dạo mát dọc bờ sông. Người nữ hỏi anh có yêu em nhiều không? Yêu nhiều lắm. Yêu nhiều đến chừng nào? Bộ em không biết sao? Thôi được để anh chứng minh cho em. Rồi đùng một cái, người nam nhảy xuống sông rồi chết. Qv nghĩ người nữ nghĩ sao, hay qv nghĩ sao? Thật là đồ ngu, đồ điên, đồ khùng. Cái chết đó là vô ích, vô nghĩa, vô lý.
Hy sinh với chính mạng sống là điều cuối cùng, thật sự cuối cùng khi không còn một giải pháp nào khác. Chính vì vậy ĐCJC dạy: "Đây là điều răn Ta truyền: Các con hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu các con. 13 Chẳng có tình yêu nào vĩ đại hơn là tình yêu của người chịu hy sinh tính mạng cho bạn hữu mình. (Giăng 15:12-13 – BDM)
Đây là điều tôi muốn nói: Ngoại trừ ĐCJC chết để thật sự cứu tội chúng ta, sự chết của Ngài là vô ích, vô nghĩa, vô lý. Và nếu có một cách thức nào khác để được cứu thì quả thật đạo Chúa thật vô lý bởi vì dạy rằng chỉ có sự chết thế của ĐCJC mới có thể cứu được tội loài người. Nếu có một cách thức nào khác, thì sự chết thế của ĐCJC thật vô ích, vô nghĩa.
Ý NGHĨA CỦA SỰ CHÚA CHẾT CHO ĐỜI SỐNG
Nói sự chết thế của ĐCJC trên thập giá, thân Ngài tan vỡ, huyết Ngài đổ ra, để cứu tội loài người thì không có nghĩa là tự động mọi người đều sẽ được cứu. Chúng ta đọc lại Ma-thi-ơ 26:26-28: Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta. 27 Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi; 28 vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.
Chúa bảo môn đồ hãy ăn, hãy uống. Sự chết thế của ĐCJC cho tội loài người hoàn toàn không có ý nghĩa gì nếu một người không ăn thân, không uống huyết. Đây là điều có rất nhiều người không tin Chúa, ngay cả người tin Chúa hiểu rất sai lầm. Một lần Chúa nói: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt của Con người, cùng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu. 54 Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại. 55 Vì thịt ta thật là đồ ăn, huyết ta thật là đồ uống. 56 Người nào ăn thịt ta và uống huyết ta, thì ở trong ta, và ta ở trong người. (Giăng 6:53-56). Sau khi nghe những lời này, một số môn đồ bảo rằng Lời này khó nghe quá, ai chấp nhận được, rồi sau đó bỏ Chúa.
Theo những lời của Chúa, người nào ăn thịt và uống huyết Chúa thì nhận được 2 điều: 1) Sự sống đời đời, và sự sống lại trong ngày cuối; 2) Thật ở trong Chúa và Chúa ở trong người (cùng một ngôn ngữ trong Giăng 15). Ai là người có sự sống đời đời ngày sau và có ĐTL trong cuộc đời hôm nay? Người tin vào sự chết thế chuộc tội của ĐCJC khi Chúa xả thân, đổ huyết trên thập giá.
Chính những lời Chúa phán cùng các môn đồ trong bửa ăn cuối trên phòng cao nhân lễ VQ giải thích rõ ý nghĩa của những lời khó nghe đó. Bánh tượng trưng cho thân thể Chúa. Rượu tượng trưng cho huyết Chúa. Bánh không phải thịt, là thân Chúa, nhưng là tượng trưng cho thịt, cho thân. Cũng vậy, rượu không phải là huyết Chúa, nhưng là tượng trưng cho huyết Chúa.
Thường khi cử hành tiệc thánh tôi thường giải thích đây là lễ chỉ dành cho những người đã thật sự tin Chúa và nhận lễ Báp-tem để bày tỏ niềm tin cách công khai (dù điều kiện này không nhất thiết). Tiệc thánh cũng không phải là tiệc cho người thánh, nhưng cho người có tội đã tin và xưng nhận rằng ĐCJC đã xả thân, đổ huyết để chết thế cho tội lỗi chúng tôi, và chỉ có sự chết thế của ĐCJC mới cứu được tội lỗi, không có bất cứ một cách thức, con đường nào khác.
Ăn bánh, uống chén tức là ghi nhận vào lòng, biết ơn, giá trị, công nhận rằng quả thật ĐCJC đã xả thân, đổ huyết để chết thế cho tội tôi. Sự chết của Chúa chỉ thật sự thật sự thay đổi cuộc đời khi hiểu và thật sự tin nhận Chúa vào đời sống, nhận ĐTL vào tâm hồn. Khi hiểu rằng dưới mắt ĐCT tôi, một người tội lỗi đến vậy mà Ngôi Hai ĐCT đã xả thân, đổ huyết, chịu chết thay cho tôi. Đây là một yên ủi hết sức lớn và đặc biệt.
Trong đời này, không ai lại không muốn được yêu thương, quí mến. Chúa yêu thương, trìu mến tôi và qv nếu chúng ta nhận Ngài vào đời sống. Chính vì lý do này mà tín đồ đầu tiên đã nhận thập giá là biểu tượng của niềm tin trong Chúa. Bởi vì khi nhìn thập tự họ nhớ đến ĐCT đã đến thế gian làm người, đã xả thân, đổ huyết, chịu chết thế cho tội lỗi, nhớ đến tình yêu vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Thần thánh không chết thế cho ai cả; trái lại người ta phải chịu chết cho thần thánh.
Thập giá trước khi Chúa chết là hình ảnh của sự độc ác, của sự nhục nhả. Nhưng sau sự chết thế của ĐCJC, thập giá là biểu tượng của bình an, của sự hòa giải. PL viết trong Ê-phê-sô: Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức thường ngăn cách, 15 là sự thù nghịch đã phân rẽ ra, bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài, 16 và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời. (2:14-16) Người nhận thập giá là người đem đến sự bình an giữa chiến tranh, đem đến sự hòa giải khi rạn vỡ.
Thập giá trước khi Chúa chết là hình ảnh của sự tra tấn, đau đớn. Giờ là biểu tượng của sự tha thứ, hy vọng. Khi đau khổ, hoạn nạn, mất mát qv có thể nhìn lên thập tự để nhớ rằng Chúa cũng đã chịu đau khổ cho tôi nên Ngài biết, hiểu, cảm thông, yêu thương. Trong các thần, chỉ có một Chúa mang trên mình ngài dấu đinh trên tay và dấu đâm nơi hông.
