Bởi Đức Tin – Sự Biết Chắc Vững Vàng
Vào đêm Halloween 1517 (tức cách đây hơn gần 500 về trước) một sự kiện thay đổi cả lịch sử hội thánh hiện tại và đức tin của người Cơ Đốc (Christian). Trong đêm tối, một tu sĩ đã đến trước cánh cửa to lớn của một ngôi nhà thờ đẹp đẻ và đóng lên cánh cửa đó một bản giấy rất dài. Trên bản giấy có 95 luận đề hay là những điều kiện cáo hay có thể nói là lên án. Lên án ai mà phải đóng trên cửa nhà thờ? Lên án việc làm của hội thánh Công Giáo La Mã lúc bấy giờ vì họ dạy rằng người ta có thể trả tiền để mua các phép giải tội, tức là các báu vật của các thánh hay trả tiền để được người khác cầu nguyện cho mình được lên thiên đàng. Các báu vật này có thể là một góc của vạc áo từ sứ đồ Phierơ hay một mãnh gỗ nhỏ từ thập tự giá nơi Chúa bị đóng đinh (hay cho là như vậy). Đồng thời bản giấy gồm 95 luận đề cũng lên án HTCGLM vì đã giảng dạy sai theo lời KT và khiến cho biết bao nhiêu người lầm đường lạc lối trong đức tin.
Trở lại trước đó 12 năm Đức Giáo Hoàng Julius II đã ra lệnh phá bỏ các ngôi thánh đường tại thành phố La Mã để bắt đầu một công trình kiến trúc có một không hai. ĐGH muốn công trình kiến trúc này tồn tại cho đến nhiều thế kỷ sau. Ông muốn xây cả một nhà thờ lớn hơn bao giờ hết với một khoảng sân với hàng trăm cây cột lớn vĩ đại. Đây là công trình mà hôm nay chúng ta gọi là Saint Peter Basilica, nơi có ngôi nhà thờ lớn nhất, đẹp đẽ nhất của HTCGLM. Công trình xây cất đó bắt đầu với việc gây quỹ từ các giáo dân. Và một trong những cách gây quỹ hữu hiệu nhất là bán các phương cách khác nhau để người ta có thể lên thiên đàng.
Người tu sĩ đã đóng 95 luận đề để lên án việc bán các phép giải tội sai quấy của HTCGLM và của người chủ trương cách thức này là ai? Người tu sĩ đó tên là Martin Luther, một tu sĩ CGLM người Đức. Đây là người mà hôm nay đạo Cơ Đốc chúng ta gọi là cha đẻ, tổ phụ của niềm tin Cơ Đốc, của tất cả các HT thuộc về các hệ phái mà không phải CGLM, như CMA, Báp-tít, Trưỡng Lão, Ngũ Tuần… Đây cũng chính là người dạy chúng ta rằng sự cứu rỗi đến, không phải qua việc làm tốt hay công đức, nhưng bởi đức tin qua ân điển của ĐCT. Đây là người được Chúa cứu bởi vì câu KT này: “Người công bình sống bởi đức tin”
Nhưng chỉ 10 năm trước đó khi mới bắt đầu vào dòng tu thì Martin Luther tin rằng để được cứu người ta phải đi tu, sống cuộc đời khổ hạnh, phải kiên ăn, cầu nguyện không thôi, phải đi hành hương nơi đất thánh là thành phố La Mã. Ông tự ép xác mình đến nỗi ông tuyên bố: “Nếu có ai được lên thiên đàng như người tu sĩ, thì tôi chắc chắn ở trong số những người đó”. Tuy ép xác như một tu sĩ nhưng lúc nào Luther cũng lo sợ mình làm không đủ để lên thiên đàng. Do đó, tâm linh ông bị dằn vặt, mang mặc cảm tội lỗi đến độ tuyệt vọng.
Cám ơn Chúa nhờ câu KT: “Người công bình sống bởi đức tin” mà Luther được cứu. Và chính nhờ đó mà mới có phong trào phục hưng (Reformation) khỏi HTCGLM.
Nếu người công bình trong Chúa sống bởi đức tin thì đức tin quả thật là quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất. Nhưng tin gì, tin ai? Bởi vì trước đó Martin Luther cũng có đức tin: đức tin vào việc ép xác tu thân hầu được lên thiên đàng. Ngày nay người CG vẫn tin rằng đức mẹ Mari là người cần thờ phượng, là người có thể cầu xin với ĐCT, với ĐC J cho chúng ta. Còn người theo đạo Phật thì tin vào việc ăn hiền ở lành, bỏ hết các sự tham sân si dục, hỉ nộ ái ố để có thể lên cõi Niết Bàn nếu vòng luân hồi không có nghiệp chướng!
Như vậy trước khi có thể hiểu về đức tin của người theo Chúa thì chúng ta cần trả lời hai câu hỏi quan trọng: 1) Tin gì, tin ai, và 2) Tại sao tin như vậy. Những câu trả lời cho hai câu hỏi trên thiết lập nền tảng của niềm tin người Cơ Đốc. Cũng chính vì vậy mà những người cha ông trong đức tin (giáo phụ) đã bỏ rất nhiều thời gian và công sức để tóm tắt lại các giáo điều căn bản từ Kinh Thánh. Hầu để giúp người Cơ Đốc biết mình tin gì và tại sao có thể tin như vậy.
Trước hết chúng ta tin gì? Câu trả lời có thể ngắn và cũng có thể dài. Tôi xin cho quí vị biết câu trả lời ngắn: người Cơ Đốc tin vào Kinh Thánh. Quí vị có thể hỏi: tại sao MS lại nói về KT trước cả niềm tin vào ĐCT và ĐCJC. Câu trả lời cũng rất đơn giản: bởi vì chỉ qua KT chúng ta mới biết về ĐCT và biết rằng ĐCT có ba ngôi, biết rằng Ngôi Hai của ĐCT là ĐCJC đã giáng sinh làm người để chết cho tội lỗi của loài người. Nếu không có KT, hay dựa vào KT, làm thế nào chúng ta có thể biết những điều đó. Như vậy ai hỏi người Cơ Đốc: Nền tảng của đức tin quí vị là gì? Câu trả ngắn nhất chỉ gồm hai chữ: Kinh Thánh. Và câu trả lời dài hơn là bởi vì qua đó chúng tôi được biết về ĐCT, về ĐCJC, về ĐCT và về rất nhiều điều chúng tôi tin.
Đối Tượng của Đức Tin
Tôi muốn giải thích rõ rằng: đức tin tự nó không cứu được ai cả, đức tin tự nó không có giá trị gì. Đức tin cần phải có đối tượng, có nền tảng. Chính vì đối tượng mà đức tin có giá trị hay không.
Nhiều thiếu nữ đã dại tin vào một đối tượng sai lầm nên cho đi cả sự trinh tiết của mình mà cả đời ân hận. Nhiều người cố vượt biển, cố làm giấy tờ để được đi Mỹ nhưng tin nhằm người nên tiền mất, tật mang. Có khi phải vào tù cải tạo hay bỏ cả tính mạng. Khi ba tôi còn sống bác tôi đối với má tôi và chúng tôi rất tốt. Nhưng sau khi ba tôi mất đi, bác trở mặt. Khi tôi và chị tôi đi vượt biên cố đem theo đứa cháu nhỏ dù không đủ tiền vì tin rằng có bác sẽ cho đứa con gái nhỏ của cháu trai mình lên tàu. Nhưng không ngờ ông lại nhẫn tâm đến nỗi chỉ vì đồng tiền mà đuổi đứa bé gái về. Cũng may mà có người quen nên chúng tôi có thể gởi nó về Sài Gòn bằng xe đò.
Hàng ngàn người rất giàu có, thông minh tin vào Bernard Madoff, một người buôn bán cổ phần chứng khoáng và từng là Chairman của NASDAQ stock, nên đầu tư tiền của dành dụm cả đời để hắn quản lý. Hóa ra hắn chỉ là một tay bịp bợm tinh sảo. Trong số người và công ty, cơ sở mất tiền gồm có cả Larry King là người nổi tiếng về chương trình phỏng vấn; Korea Teachers Pension tức là Quỹ về hưu của hội nhà giáo xứ Nam Hàn mất 10 ngàn tỉ tiền Korea hay 9.1 triệu Mỹ kim; một ngân hàng xứ Spain (Tây Ban Nha) mất 2.8 tỉ, một ngân hàng xứ Áo mất 2.1 tỉ và còn biết bao nạn nhân khác. Vì tin đối tượng sai nên họ đã trả một giá vô cùng nặng nề, trầm trọng.
Còn có biết bao nhiêu câu chuyện mà mỗi quý vị ở đây có thể kể ra về con cháu, về bè bạn, thân nhân mình hay cả chính mình chỉ vì tin lầm đối tượng mà ân hận cả đời. Thanh niên, thiếu nữ tin bè bạn thử thuốc cấm rồi sinh ra nghiện ngập. Chồng vợ tin lời bè bạn về thú giải trí tại sòng bài bạc mà táng gia bại sản, gia đình tan nát.
Nếu tự nhận rằng mình là người tin Chúa, biết Chúa nhưng nếu đối tượng của đức tin là cuộc sống vật chất đời này thì đây không phải là đức tin Cơ Đốc. Nếu tin rằng hễ ăn miếng thì phải trả miếng, thù hằn thì thù cho đến suốt đời, thì đây không phải là đức tin Cơ Đốc. Nếu tin rằng dự định của ĐCT cho chúng ta trong đời sống là được thêm nhiều tài của, được luôn mạnh khỏe, được luôn hưng thịnh, thì đây không phải là đức tin Cơ Đốc.
Dù đức tin có mạnh mẽ, chắc chắn đến mấy nhưng nếu nền tảng và đối tượng sai lầm thì đức tin đó cũng vô ích, chẳng giá trị gì.
Nếu chúng ta biết nền tảng của đức tin là KT thì đối tượng của đức tin Cơ Đốc là gì? Trong quí vị đây có ai là người biết Bài Tín Điều Các Sứ Đồ? Vào thế kỷ 15 người ta tin rằng tác giả của bài này là mười hai sứ đồ, mỗi người có lẽ viết một câu vì bài chỉ có 12 câu! Nhưng đây chỉ là truyền thống. Vì vậy đến nay vẫn gọi là Bài Tín Điều Các Sứ Đồ, dù bài không viết về các sứ đồ cũng không viết bởi các sứ đồ. Tác giả của bài viết này là các giáo phụ (Church Fathers). Đây là bài viết tóm tắt lại niềm tin của người Cơ Đốc. Trong bài tín điều này (chứ không phải tín đồ. Tín đồ là người tin Chúa, người trong HT; tín điều là điều chúng ta tin) cũng chỉ rõ đối tượng của đức tin Cơ Đốc. Quí vị nào biết bài tín điều xin đọc cùng tôi:
1. Tôi tin Đức Chúa Trời Toàn Năng là Cha, là Đấng dựng nên trời đất. Đối tượng của đức tin Cơ Đốc là gì? Là ĐCT, Đấng dựng nên trời đất.
2. Tôi tin Giê-su Christ là Con độc sinh của Đức Chúa Trời, và Chúa chúng ta. Là Jêsus Christ. Và từ câu thứ 3 đến câu 11 là những điều giải thích về bổn tính của ĐCJC.
3. Ngài được thụ thai (thay dựng, đầu thai) bởi Thánh Linh.
4. Sanh bởi nữ đồng trinh Ma-ri.
5. Chịu thương khó dưới tay Bôn-xơ Phi-lát.
6. Bị đóng đinh trên thập tự giá.
7. Chịu chết và chôn.
8. Ngài xuống âm phủ.
9. Đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại.
10. Ngài thăng thiên, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời toàn năng là Cha.
11. Từ đó, Ngài sẽ trở lại để xét đoán kẻ sống và kẻ chết.
12. Tôi tin Đức Thánh Linh. Tôi tin Hội Thánh phổ thông, sự cảm thông của thánh đồ, sự tha tội, sống lại của thân thể và sự sống đời đời. Đối tượng của đức tin Cơ Đốc là gì? Là Đức Thánh Linh, là HT phổ thông…
Tóm lại nền tảng của niềm tin Cơ Đốc là KT và đối tượng chính của niềm tin đó là ĐCT ba ngôi, ĐC Cha, ĐCJC, Đức Thánh Linh.
Chúa nhật 29 tháng 01, 2011
Sự Quan Trọng của Đức Tin
Ngày hôm qua tôi xem tin tức trên mạng của CNN. Một headline hay tựa đề của một bài viết khiến tôi phải dừng lại để cố xem. Bài viết có tựa đề: 20 câu hỏi có thể thay đổi cuộc đời bạn (20 questions that could change your life). Dưới đề tựa với dòng chữ in đậm và lớn và hình của một thiếu nữ mang dáng của người Á Châu vô cùng xinh đẹp. Và dưới bức hình đó giải thích: Tự hỏi mình 20 câu hỏi này mỗi ngày và bạn có thể thay đổi cuộc đời của bạn (Ask yourself these 20 questions every day and you could transform your life). Sau đây là một vài câu hỏi có thể thay đổi cả cuộc đời quý vị:
Những câu hỏi gì tôi cần tự hỏi tôi? (What questions should I be asking myself)?
Đây có phải là điều tôi muốn làm hay không (Is this what I want to be doing)?
Tại sao lo lắng (Why worry)?
Câu hỏi số 8: Cơ thể tôi đang nói gì với tôi (What is my body telling me)?
Câu hỏi 15: Ở đâu tôi có thể làm việc ít mà được nhiều hơn (Where could I work less and achieve more) ?
Câu hỏi 20: Quả thật như vầy: Đây có phải là điều tôi muốn làm hay không? (Really truly: Is this what I want to be doing)?
Tôi thật sự ngạc nhiên, sững sốt, ngỡ ngàng khi đọc bài viết này. Tôi tự hỏi: có phải người viết bài này chỉ diễu cợt (satire) hay thật sự tin rằng 20 câu hỏi ngớ ngẩn, nông cạn này sẽ có thể thay đổi cuộc đời của một người? Khi để ý xem kỹ thì bài viết này nằm trong mục tin tức Đời Sống (Living). Và tác giả thật sự tin vào điều bà viết! Tôi nghĩ rằng sẽ có hàng trăm ngàn, thậm chí hằng triệu người, tin vào bài viết này, vào 20 câu hỏi này sẽ có thể thay đổi cuộc đời họ. Hy vọng rằng không một ai trong số quý vị đây lại tin vào bài viết hay 20 câu hỏi này để thay đổi cuộc đời mình!!!
Nhưng thường thì như vậy: người ta dễ tin và sẵn sàng tin vào nhiều điều trong đời này dù có vô lý. Bởi vì sao? Bởi vì họ không hiểu rõ họ tin gì và tại sao tin điều đó. Nhưng còn một lý do khác không kém quan trọng: Con người không thể sống mà không có niềm tin. Tất cả chúng ta đều cần có một niềm tin để có thể sống và tồn tại trên cuộc đời này. Nếu người nào nói với chúng ta rằng: Tôi không tin điều gì cả. Sống chỉ để sống thôi, thì người đó hoặc đã một lần bị người khác phụ bạc, hoặc tự lừa dối hay lấy mình.
Niềm tin đem đến ý nghĩa và giá trị cho đời sống. Mất đi niềm tin chúng ta sẽ mất đi ý nghĩa của đời sống và sống một cuộc đời vô vị, bạc bẽo, buồn chán. Chúng ta nhớ lời của tác giả sách Truyền Đạo là người dù có tất cả về vật chất nhưng lại mất đi ý nghĩa cho đời sống đến nỗi ông viết: HuHHư không, hư không, tất cả đều là hư không!
Mất đi niềm tin một người cũng có thể trở nên bất cần, lạnh nhạt trong quan hệ, thậm chí trở nên nguy hiểm. Chính bởi niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản mà biết bao triệu người trên thế giới đã sẵn sàng hy sinh mạng sống để đem đến thắng lợi. Chính bởi niềm tin vào lời dạy của kinh Koran nên có nhiều người nam lẫn nữ tự làm banh xác mình để giết kẻ thù. Bởi vì niềm tin rằng xứ HK sẽ đem lại một tương lai tốt hơn cho con cháu nên nhiều người dù lớn tuổi hy sinh bỏ quê hương mà đến xứ này. Cũng chính bởi niềm tin vào Chúa mà tôi hầu việc Chúa.
Niềm tin không những là nền tảng cho đời sống nhưng còn là nền tảng cho mọi quan hệ. Muốn làm bạn với nhau thì phải tin tưởng nhau. Muốn làm việc chung, cộng tác trong công việc, từ việc buôn bán đến việc hội thánh, nhất nhất đều cần niềm tin vào nhau. Ngày xưa khi ba tôi làm ăn buôn bán, hầu hết mọi việc doanh thương đều dựa vào lời hứa, vào sự tin tưởng, tín cẩn nhau. Mất niềm tin trong quan hệ thì cũng sẽ mất đi quan hệ. Chính vì nghi ngờ Đavít sẽ chiếm ngôi vua mà vua Saulơ tìm giết Đavít trong gần suốt 15 năm dài. Chính vì nghi ngờ Êsau nên khi được Êsau mời đến xứ của anh mình, Gia-cốp từ chối. Chính vì nghi ngờ mà các thám tử báo cáo với dân sự Y-sơ-ra-ên rằng họ sẽ không thể nào vào được đất hứa.
Một hội thánh mất sự tin tưởng, tín cẩn vào nhau thì chắc chắn sẽ có nan đề. Nếu tín đồ mất đi sự tin tưởng vào mục sư và mục sư nghi ngờ BĐH thì làm sao hội thánh đó có thể tồn tại, nói chi đến phát triển. Tôi sẽ có lời thêm sau về vấn đề này.
Nhưng quan trọng hơn hết là bởi vì bởi niềm tin vào Chúa Jêsus mà chúng ta được cứu. KT dạy: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Ê-phê-sô 2:8).
Tóm lại niềm tin cần thiết và quan trọng cho đời sống vì ba lý do sau: 1) mọi người sống đều cần có niềm tin, 2) niềm tin đem đến ý nghĩa cho cuộc sống, 3) niềm tin cần thiết cho quan hệ trong đời sống, 4) Bởi đức tin nhờ ân điển mà chúng ta nhận được sự cứu rỗi từ nơi ĐCJ.
Có thể nói niềm tin của người Cơ Đốc vào KT, vào ĐCT, ĐCJC là nền móng của cả đời sống. Người Cơ Đốc xây nhà, dựng cột, lợp mái, đóng vách trên nền của đức tin. Vì niềm tin cần thiết và quan trọng như vậy nên chúng ta phải biết và hiểu rõ niềm tin của mình.
Sự Chắc Chắn của Đức Tin
Cả đoạn Hê-bơ-rơ 11 nói về đức tin và gương đức tin của các nhân vật trong KT Cựu Ước. Vì vậy mà đoạn KT còn được gọi là Hall of Faith, hay là Nơi Danh Dự của Đức Tin. Chúng ta sẽ đọc và suy gẫm về Hê-bơ-rơ 11:1-2: Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mông, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. Ấy là nhờ đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt (khen ngợi, tuyên dương). Đọc tiếp tục Hê-bơ-rơ 11:6: Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần ĐCT phải tin rằng có ĐCT, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
Chúng ta có thể nhận xét mấy điều sau đây từ hai câu KT này: 1) Đức tin liên hệ trực tiếp đến điều không thấy hay chưa thấy, có thể là điều vô hình hay trong tương lai. 2) Đức tin trong Chúa không mù mờ, mơ hồ nhưng là sự biết chắc vững vàng, là bằng cớ. Nếu suy nghĩ lại thì hai điều này dường như mâu thuẫn, bởi vì thế nào mà chúng ta có thể biết chắc về những điều mình không thấy hay nằm trong tương lai? Có hai câu trả lời cho câu hỏi này:
1) Chúng ta biết trước chắc chắn về điều không thấy và về tương lai bởi vì có sự hiểu biết, có khả năng, có kinh nghiệm. Một lần tôi có xem một đoạn phim về một bệnh nhân mắc bệnh tim rất trầm trọng và cần phải thay tim. Bệnh nhân đó đến gặp một nhóm bác sĩ để thảo luận về việc thay tim. Trong nhóm đó có một bác sĩ hết sức giỏi và nổi tiếng vì tài mỗ tim. Trong khi bàn bạc về những gì có thể xảy ra khi thay tim, người bệnh nói: “Tôi hy vọng Thượng Đế sẽ giúp tôi”. Người bác sĩ nổi tiếng nhìn bệnh nhân vài giây rồi nói chậm rãi nhưng giọng gằn lại: “I am god here!”.
Quý vị có bao giờ gặp người mà chuyện gì họ cũng biết và biết chắc chắn hay không?
2) Nhưng theo lời KT người trong Chúa tin chắc vào điều không thấy (vô hình) và việc trong tương lai, không phải vì khả năng siêu phàm của con người nhưng bởi vì ĐCT là Đấng chúng ta có thể tuyệt đối tin vào. Nói cách đơn giản niềm tin này có nền tảng nơi ĐCT, chứ không nơi con người.
Người tín đồ không phải chỉ nghĩ rằng KT là lời ĐCT, rằng chính Chúa là Đấng sáng tạo trời đất, rằng Ngôi Hai đã một lần xuống thế gian làm người, chịu chết cho tội loài người trên thập giá rồi đến ngày thứ ba Chúa sống lại. Không, người thật sự tin Chúa không chỉ nghĩ, nhưng họ biết và biết chắc như vậy.
Ba Ý Nghĩ Sai Lầm về Đức Tin
Đức tin mạnh là khi cảm thấy được trong lòng.
Đức tin mạnh là khi mình được thêm vào nhiều nhưng không mất gì cả; khi nói được tiếng lạ, chửa lành được người bệnh, khi công việc thịnh vượng, sức khỏe tốt đẹp.
Đức tin thật và mạnh không bao giờ có sự nghi ngờ (doubt)
Có người nghĩ sai lầm rằng hễ cảm giác trong lòng của họ mạnh mẽ thì đức tin của họ cũng càng mạnh mẽ. Nhưng cảm giác của chúng ta thay đổi mỗi ngày, thậm chí mỗi giờ. Nếu đức tin chỉ dựa vào cảm giác thì đức tin đó có giá trị gì? Dù khi trong lòng tôi và quý vị không có cảm giác gì nhưng chúng ta vẫn tiếp tục làm theo lời Chúa dạy trong KT, đức tin chúng ta mạnh. Đức tin thật thể hiện qua hành động, chứ không dừng lại ở xúc cảm.
Thác nước Niagara Falls giữa HK và Gia nã đại là một trong những thác nước lớn nhất của vùng Bắc Mỹ. Chiều rộng của thác có nơi đến 2,600 ft và chiều sâu đến 160 ft (toà nhà cao hơn 10 tầng). Vào tháng 6 năm 1859 tức cách đây hơn 150 năm trước có một người đi dây nổi tiếng tên là Charles Blondi bắc dây đi qua thác. Không những ông đi tới đi lui trên dây nhưng còn nhảy lộn nhào trên dây (somersault), hay bịt mắt, đi trong bóng tối chỉ với hai cây đèn cầy để ở hai đầu cây dài giữ thăng bằng, cũng có lần ông còn đẩy xe cút-kít qua thác. Một ngày vào tháng 9 sau khi đã biểu diễn nhiều tháng, Blondi hỏi đám đông đang xem: Quý vị có tin rằng tôi có thể đi qua thác trên dây với một người ngồi trên vai tôi không? Đám đông ùa nhau trả lời: Chúng tôi tin, chúng tôi tin! Nhưng khi hỏi có ai tình nguyện ngồi trên vai ông thì cả đám đông trở nên yên lặng. Blondi chỉ một người đàn ông gần đó: Còn ông? Người đàn ông trả lời: Ông nghĩ rằng bộ tôi dại đến nỗi liều mạng đến như vậy hay sao? Rồi Blondi nhìn một người đàn ông khác và hỏi: Còn ông? Người đàn ông trả lời: Tôi tin. Thật vậy tôi hoàn toàn không hề nghi ngờ chút nào. Rồi người đàn ông đó leo lên vai ông Charles Blondi và cả hai đi qua thác nước trên sợi dây chỉ lớn hơn 3 inc một chút. Đám đông nín thở theo dõi. Cho đến khi cả hai an toàn qua bờ bên kia thì cả đám đông reo hò lớn tiếng. Nhưng có một điều họ không biết về người đàn ông dám ngồi trên vai Blondi. Ông ấy là Harry Colcord, là manager (quản lý) của Blondi. Ông Harry biết rất rõ về tài của Blondi và hoàn toàn tin tưởng ông. Niềm tin của Harry vào Blondi không phải bởi cảm giác tin tưởng nhưng vào đối tượng; bởi vì ông đã biết Blondi rất nhiều năm và biết chắc rằng Blondi có thể thực hiện được điều này.
Đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ của những gì chẳng xem thấy không phải bởi vì con người có đủ khả năng để tiên đoán hay chinh phục tương lai, cũng không phải vì cảm giác mạnh mẽ trong lòng về Chúa, nhưng bởi vì chính Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi (Hêbơrơ 13:8). Bởi vì ban đầu ĐCT tạo nên trời và đất, là Đấng Sáng Tạo. Bởi vì Đấng chúng ta tin tưởng, tôn thờ thành tín, bất biến, toàn năng, đầy lòng yêu thương nên chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng vào Đấng đó,s dù trong những việc siêu nhiên, vô hình hay trong tương lai.
[Câu chuyện của người khác nước trong xa mạc với đồ bôm nước giếng cũ sét và một bình nước.] Đức tin của người trong Chúa như là người phải phó thác tất cả đời sống mình trong tay Chúa trước khi chúng ta có thể thấy được kết quả, nhận được ơn phước.
