Bị Chống Đối Nhưng Không Nản Lòng
Đúng như lời tiên tri Giê, vào năm 586 BC, giặc Ba-by-lôn trong thời vua Nê-bu-cát-nê-xa đã tàn phá thành phố Giê-ru. Dân sự bị tàn sát. Số còn sống sót bị còng tay chân như nô lệ và giải về xứ Ba-by-lôn. Cả thành phố, cả bức tường thành bảo vệ, và cả ngôi đền thờ lộng lẫy vua Sô-lô-môn xây cất bị giặc Ba-by-lôn tàn phá, đốt rụi.
Tuy nhiên, trước khi giặc Ba-by-lôn vây hãm và tàn phá thành Giê-ru-sa-lem, Giê-rê-mi còn tiên tri rằng 70 năm sau, ĐCT sẽ đem dân sự của Ngài trở về lại và xứ Giu-đa để xây cất lại đền thờ. Kỳ diệu thay đúng như lời đã tiên tri, vào năm 538, đại đế Xi-ru của đế quốc Phê-rơ-sơ đã ra chiếu chỉ cho phép dân sự Ỵ được trở về lại thành Giê để xây lại đền thờ. 22 năm sau đó dưới sự lãnh đạo của Xê-ru-ba-bên và Ê-xơ-ra dân sự hoàn tất đền thờ đền thờ thành Giê vào năm 516, đúng 70 năm như lời ĐCT dùng Giê để báo trước.
Tuy nhiên 70 năm dài trôi qua từ ngày đền thờ thành Giê đền thờ được xây lại, bức tường thành và các cổng bảo vệ Giê vẫn còn là đống gạch đổ nát, hoang tàn. Gần 3 thế hệ đã qua, 140 năm trôi qua, tường thành và các cổng thành vẫn còn đổ nát, cháy đen trơ trụi. Trong 140 năm đó, đế quốc Ba-by-lôn đã bị một đế quốc khác là Phê-rơ-sơ chinh phục. Dần dà cảnh đổ nát của tường thành và các cổng có lẽ trở nên quen thuộc. Với thời gian, cỏ hoang mọc đầy trên những đống gạch, có thể trẻ con dùng làm nơi để chạy núp, chơi đùa. Với thời gian, cái cảnh hoang tàn, đổ nát đó không làm cho ai khó chịu nữa, dù sau khi đền thờ đã được xây cất lại.
Trong thời đó, không một thành lớn nào lại không có bước tường kiên cố và các cổng với tháp cao để báo cho vua dân trong thành mỗi khi có giặc đến đánh phá. Bức tường không phải chỉ là hình ảnh tượng trưng, nhưng thật sự là sự bảo vệ, che chở cho dân sự sinh sống trong thành trước các thú dữ, bọn cướp và giặc thù. Một thành phố không có tường cao bảo vệ là một điều cho mọi người dèm chê, khinh dễ. Không ai muốn sống trong một thành phố nguy hiểm như vậy.
Rồi một ngày như mọi ngày vào tháng 12 năm 445, một người Ỵ cùng vài anh em khác từ xứ xa đến thành Su-sơ, thủ đô của đế quốc Phê-rơ-sơ. Họ đến để thăm viếng một vị quan tửu chánh (dâng rượu) của vua Phê-rơ-sơ là Ạt-xa-xét-xơ. Đó cũng chính là thời điểm ĐCT đã định để dùng Nê trở về lại Giê để xây lại bức tường thành. [Nê 1-2]
Khoảng 4-5 tháng sau cuộc thăm viếng đó, vào khoảng tháng 3-4 năm 444, sau khi được phép đại đế cho phép về lại Giê để xây cất tường thành, Nê-hê-mi cùng đoàn tùy tùng từ thủ đô Su-sa của đế quốc Phê-rơ-sơ đi cả 800 dặm đường xa để đến thành Giê. Ông cũng đem theo văn thư đi đường và chiếu chỉ của đại đế Ạt-ta-xét-xe cho phép xây cất lại tường thành và các cổng thành.
70 năm sau khi đền thờ tại thành Giê hoàn tất, tường thành vẫn còn đổ nát, hoang tàn. Hễ khi nào dân Chúa cứ an phận với bức tường thành đổ nát, hoang tàn, thì kẻ thù để yên cho họ. Nhưng khi nghe tin Nê đến để vận động, lãnh đạo dân sự để bắt đầu công trình xây dựng lại tường thành thì sự chống đối bắt đầu. Ma quỉ sẽ làm thinh, để yên cho những người tin Chúa không làm việc gì cho Chúa. Nhưng chắc chắn sẽ tìm mọi cách để ngăn cản, gây trở ngại, gây chia rẽ, tạo mọi khó khăn khi chúng ta làm việc Chúa.
Đến cuối đời, khi Phao-lô viết lá thư cuối cùng cho Ti-mô-thê, chúng ta thấy kẻ thù vẫn còn tiếp tục tấn công người sứ đồ đầy ơn này: Khi con đến, nhớ đem chiếc áo choàng mà ta để lại tại nhà Ca-bút, thành Trô-ách, và sách vở nữa, nhất là những cuộn sách bằng giấy da. 14A-léc-xan-đơ, thợ đúc đồng, đã làm hại ta nhiều lắm; Chúa sẽ báo trả hắn tùy theo việc hắn đã làm. 15Cả con cũng phải cảnh giác người đó, vì hắn quyết liệt chống đối lời rao giảng của chúng ta. (2 Tim 4:13-15)
Ngay Sau Khi Nghe Tin
Ngay từ lúc ban đầu khi chỉ mới nghe tin Nê sẽ trở về lại Giê, thì kẻ thù đã có ý ngăn trở, chống đối, phá hoại. Tại sao? Vì họ không muốn thấy bức tường thành bảo vệ thành Giê được xây lại. Kẻ thù muốn bức tường thành như trong 140 năm qua vẫn luôn đổ nát, hoang tàn để thành không được bảo vệ, để có thể dễ dàng đánh phá, bắt dân sự phải tuân phục chúng.
Chỉ mới nghe tin Nê-hê-mi được phép vua trở về lại Giê thì kẻ thù đã để ý đến: 10Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn, hay điều đó thì lấy làm bất bình vì có người đến để tìm cách giúp dân Y-sơ-ra-ên được hưng thịnh. (2:9-10). Từ bất bình đây không chỉ có nghĩa là khó chịu, bực dọc, bực tức nhưng còn một phụ từ mà chỉ có BD2011 dịch là rất. Từ rất này thật có nghĩa là ác độc, từ về cây sự thiện & ác mà chính ĐCT căn dặn A-đam chớ ăn trái. Từ dùng trong thời Nô-e nói về ý nghĩa con người luôn luôn độc ác, tội lỗi. Hay như dân cư trong thành Sô-đôm độc ác. Vậy bất bình có nghĩa là giận dữ đến nỗi độc ác có ý muốn phá hại hay giết hại nếu cần thiết.
Kẻ thù không muốn cho bất cứ người nào gồm cả Nê giúp dân Ỵ được hưng thịnh. Tại sao? Vì nếu dân Ỵ được hưng thịnh thì những người này sẽ mất đi quyền thế, mất đi quyền hành, thế lực để cai trị, mất đi ảnh hưởng trên dân sự Chúa.
Khi Dân Sự Quyết Định Tiến Hành
Ba ngày sau khi đến thành Giê, một đêm Nê lặng lẽ, âm thầm cưỡi lừa để xem xét tình trạng của tường thành và các cổng hư hại thế nào. Rồi Nê triệu tập tất cả dân chúng thuộc các thành phần khác nhau sinh, những người sinh sống không chỉ trong thành nhưng cả từ các vùng lân cận để giải thích cho họ về sự cần thiết của việc xây lại tường thành và các cổng.
Lời của Nê chắc đã làm khơi lại ngọn lửa phục vụ, lòng nhiệt tâm làm công việc Chúa, thực hiện một công trình mà đã trong 140 năm dài, mấy thế hệ trước đã thờ ơ, dững dưng, lạnh nhạt rồi không làm gì cả. Sau khi nghe những lời giải thích, kêu gọi của Nê về công việc lớn và khó này, dân sự đồng lòng lên tiếng: “Nào, chúng ta hãy khởi công xây dựng lại ngay đi!” Vậy họ mạnh dạn bắt tay vào công việc tốt đẹp nầy. (Nê 2:18).
Rồi một lần nữa, ngay sau khi nghe tin dân sự quyết định khởi công xây lại tường thành thì một lần nữa kẻ thù để ý đến và lần này chúng bắt đầu với một thái độ và một âm mưu để ngăn cản công trình. Sự giận dữ, bất bình khi mới nghe tin Nê trở về Giê để lãnh đạo dân sự khởi công xây lại bức tường thành trở nên lòng căm ghét, thù hằn, thể hiện qua sự khinh khi, nhạo báng, thậm chí vu oan bằng tin đồn giả dối. San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn và Ghê-sem người Ả-rập nghe việc đó thì chế giễu và cười nhạo chúng tôi. Chúng nói rằng: “Các ngươi làm gì đấy? Các ngươi muốn phản nghịch vua sao?” (2:19)
Đang Khi Xây Cất
Đoạn 3 ghi lại công việc xây cất lại bức tường thành và các cổng từ nhiều gia đình, nhóm người khác nhau. Đoạn 3 ghi lại danh sách của 38 tên và 42 nhóm người cộng tác với nhau để xây lại 10 cổng thành và 41/42 khoảng tường giữa các cổng bao quanh thành Giê. Bên cạnh 38 tên và 42 nhóm, chắc còn nhiều người Nê không kể tên, nhiều nhóm sách có thể không ghi lại. Mọi người đều quan trọng, mỗi người đều cần thiết, mỗi người đều giá trị đặc biệt cho việc xây lại bức tường thành Giê.
Và đang khi dân sự xây cất tường thành thì lại một lần nữa, kẻ thù rất tức giận rồi chế nhạo: Khi San-ba-lát nghe tin chúng tôi xây sửa tường thành thì giận dữ và chế nhạo người Do Thái. 2Hắn nói trước mặt anh em hắn và quân đội Sa-ma-ri rằng: “Bọn Do Thái yếu đuối ấy làm được gì? Chúng sẽ xây lại tường thành ư? (Nê 4:1-2 – BHĐ). Chúng nói: cái bọn người nghèo khó, bất tài, vô dụng đó có thể nào xây lại bức tường lớn quanh thành Giê hay sao?
Trong đoạn 4 này, chúng ta sẽ thấy kẻ thù dùng 4 thủ đoạn chính để làm cho dân sự chùng bước, nản lòng mà bỏ cuộc. 4 thủ đoạn đó là: nhạo báng làm cho nhục chí, phá rối làm cho hư hại, rối loạn, làm cho nản lòng để bỏ cuộc và làm cho sợ hãi. Sự nhạo báng, chế diễu và sự phá rối làm cho hư hại rối loạn là phương cách tấn công của kẻ thù tư bên ngoài, thì sự nản lòng, thất chí và sự sợ hãi là 2 kẻ thù đáng sợ nhất từ bên trong lòng.
Có câu nói: kẻ thù của kẻ thù tôi là đồng minh của tôi! Các nhân vật và nhóm người phá rối có lúc trước kia thù nghịch với nhau nhưng vì muốn phá hoại công trình xây cất bức tường thành nên chúng liên minh với nhau. Bây giờ dân Chúa bị vây hảm cả 4 phía: phía bắc là San-ba-lát và xứ Sa-ma-ri; phía đông là Tô-bi-gia và dân Am-môn; phía nam, Gê-sam và dân Ả-rập; phía tây là dân Ách-đốt, hay sau này còn gọi là dân Phi-lít-tin với Ách-đốt là thành phố quan trọng nhất của xứ Phi-lí-tin.
Dân ngoại, dù có thù nghịch với nhau nhưng khi có cùng một mục đích là để chống đối dân Chúa nên liên kết, hiệp lại với nhau. Nhưng điều đáng buồn là dân Chúa lại chia năm, sẻ bảy. Đây là lý do ĐCJC trong đêm cuối với các môn đồ, Chúa cầu nguyện cho họ và những người tin vào Ngài qua họ có tình yêu thương và giữ được hiệp một. Chỉ vì lý do hết sức nhỏ nhoi, vì những việc không đáng gì mà anh chị em trong hội thánh ĐCT lại hiềm khích, xung đột, thậm chí buồn giận, oán ghét nhau. Tín đồ chia thành nhóm này để chống lại nhóm khác, gia đình này chống gia đình nọ. Cũng như HT Cô-rinh-tô xưa, tín đồ xưng tôi theo A-bô-lô, tôi theo Phi-e-rơ, tôi theo PL, tôi theo Đấng Christ. PL hỏi họ: Đấng Christ đã bị chia cắt rồi sao? (1 Cô 1:13)
Trước khi tìm hiểu 4 thủ đoạn, mưu chước này và rút ra những bài học cụ thể cho người làm việc Chúa trong & ngoài HT và bài học cho đời sống đạo của mỗi tín đồ, tôi muốn nhấn mạnh một điều quan trọng: Đó là sự chống đối, trở ngại không phải là dấu hiệu của sự sửa phạt đến từ ĐCT khi chúng ta làm công việc Ngài, khi chúng ta sống theo lời Chúa dạy.
Trái lại, đó là cơ hội giúp chúng ta tin cậy, nương nhờ vào sự hướng dẫn, dạy dỗ của ĐTL càng hơn. Chỉ qua những khó khăn, trở ngạo từ sự chống đối chúng ta mới có thể trưởng thành, vững chải hơn trong bước đi với Chúa, trong sự hầu việc Ngài. 10Nếu con ngã lòng trong ngày hoạn nạn, Thì sức lực con nhỏ mọn thay (BTT); 10Nếu con ngã lòng trong ngày gặp nghịch cảnh, sức lực con quả thật quá yếu. (BD2011); 10Nếu con tỏ ra yếu hèn khi gặp khó khăn, chứng tỏ sức con quá kém. (BPT); 10Chỉ kẻ yếu hèn mới sờn lòng trong ngày hoạn nạn (thử thách, khó khăn) (BDY) (Châm Ngôn 24:10)
Trò không thể hơn thầy. Chính ĐCJC cũng xác nhận: Hãy nhớ lời Ta đã nói với các con: ‘Đầy tớ không hơn chủ.’ Nếu họ bắt bớ Ta, họ cũng sẽ bắt bớ các con. (Giăng 15:20) PL cũng cả quyết với Ti-mô-thê, người con trong đức tin của ông rằng: Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ. (2 Tim 3:12). Nếu trong bước đi theo Chúa, trong quá trình hầu việc Chúa, qv không bao giờ gặp chống đối thì hoặc qv không làm công việc Chúa, hoặc không sống theo lời Chúa dạy. Tôi không nói về những chống đối do chính sự khó khăn, độc đoán của mình gây ra.
NHẠO BÁNG, CHẾ DIỄU
Một tác giả người Anh tên Thomas Carlyle gọi sự nhạo báng, chế diễu là ngôn ngữ của ma quỉ. Thế nào là nhạo báng, chế diễu? Chúng ta cùng đọc lại lời của kẻ thù dân sự là San-ba-lát và Tô-bi-gia: Khi San-ba-lát nghe tin chúng tôi xây sửa tường thành thì giận dữ và chế nhạo người Do Thái. 2Hắn nói trước mặt anh em hắn và quân đội Sa-ma-ri rằng: “Bọn Do Thái yếu đuối ấy làm được gì? Chúng sẽ xây lại tường thành ư? Chúng sẽ dâng tế lễ sao? Liệu chúng sẽ làm xong trong một ngày chăng? Đá đã cháy thiêu thành đống bụi đất rồi có thể phục hồi thành đá xây được sao?” 3Tô-bi-gia, người Am-môn, đứng bên cạnh hắn nói rằng: “Cái tường bằng đá mà chúng đang xây kia nếu có một con chồn leo lên đó cũng đủ sập xuống rồi!” (Nê 4:1-3 – BHĐ)
Từ yếu đuối trong câu 2 khi nói về dân DT còn được dịch là nhu nhược, yếu hèn: "Bọn Giu-đa yếu nhược này làm gì đây? (BDY). Gọi dân sự là bạc nhược cũng có phần đúng vì chẳng phải trong 70 năm dài từ sau khi đền thờ hoàn tất thì họ thụ động, không làm gì với bức tường thành đổ nát cả! Sự nhạo báng, chế diễu cay cú, đau nhói nhất là khi những lời đó có 1 phần sự thật.
Người chồng muốn bỏ rượu, hứa với vợ sẽ cố gắng từ nay dù đã nhiều lần hứa rồi không giữ lời. Vợ nghe lời chồng bĩu môi: Ôi, ông ơi, tôi nghe ông nói nhiều lần rồi. Thứ đàn ông bạc nhược như ông đời nào bỏ được rượu! Bao nhiêu người trong số qv đây nghĩ rằng sau khi nghe vợ chế diễu, chồng sẽ bỏ rượu? Những lời mai mỉa, nhạo báng, chế diễu như dao nhọn đâm thẳng vào lòng, vào tim người nghe. Vâng lời mai mỉa đó, khi dễ đó có một phần sự thật; chính vì vậy mà nỗi đau càng hơn. Những lời này làm nhũn ý chí, khơi lại những ký ức xưa cũ của bao nhiêu lần trước nói mà không làm, hứa mà không làm, hay những lần thất bại trước đây. Lời nhạo báng chỉ tô đậm thêm sự tủi nhục, xấu hổ của lỗi lầm đã phạm trong quá khứ.
Sự nhạo báng cũng bày tỏ sự khinh dễ, coi thường. Nếu chúng ta kính trọng một người, chúng ta không bao giờ nhạo báng, khinh thường. Chỉ khi xem rẽ người đó, chúng ta mới nhạo họ. Qv nhớ tên khổng lồ Gô-li-át nhạo báng quan quân Giu-đa là hèn nhát, không ai dám ra đánh với hắn. Mãi đến khi Đa-vít đến. Dù là một người trẻ tuổi, Đa-vít cũng hiểu rõ rằng sự nhạo báng này là một sỉ nhục cho dân sự Y. Hay như khi ĐCJC bị các lính nhạo báng, chế diễu Ngài những kẻ canh Đức Chúa Jêsus nhạo báng và đánh Ngài; 64 che mặt Ngài lại, rồi nói rằng: Hãy nói tiên tri đi, hãy đoán xem ai đánh ngươi! 65 Họ lại nhiếc móc Ngài nhiều lời khác nữa. (Lu-ca 22:63-64).
Người nhạo báng thường coi người mình nhạo báng thấp kém, hèn mọn hơn họ, xem như không đáng gì, không ra gì. Cũng có thể họ biết được những yếu điểm, những sai lầm, vấp phạm của người họ nhạo báng đã làm trong quá khứ và cả hiện tại. Và thường thì họ luôn có bạn để lắng nghe mà cười nhạo.
Lời nhạo báng trong Nê 4:1-3 không phải là lần đầu San-ba-lát nhạo báng dân Chúa. San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia, kẻ tôi tớ Am-môn, và Ghê-sam, người A-rập, được hay việc đó, bèn nhạo báng và khinh bỉ chúng tôi. (Nê 2:19). Thường là như vậy: nhạo báng và khinh bỉ thường đi đôi với nhau như hai mặt một đồng tiền; có người nói nhạo báng và khinh bỉ là cặp sinh đôi, con của ma quỉ!
Đầu tiên San-ba-lát gọi dân sự là bạc nhược. Định nghĩa bạc nhược là quá yếu đuối về tinh thần, không có ý chí đấu tranh, không đủ sức vượt qua khó khăn, trở lực dù là nhỏ. Từ không nói về sự yếu đuối thể xác nhưng nói về ý chí và nổ lực. Người bạc nhược là người chưa đánh đã đầu hàng; chỉ bị ngăm nghe, đe dọa đã bỏ chạy trốn. Hắn khinh khi ý chí, nghị lực, khả năng để hoàn tất bức tường thành.
Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều có lúc yếu đuối về sức lực lẫn tâm linh. Nhưng không muốn ai gọi mình là bạc nhược cả. Sứ đồ PL tự thú rằng chính ông cũng có lúc yếu đuối: Về người đó, tôi sẽ khoe mình; nhưng về chính mình tôi, tôi không khoe, chỉ khoe về sự yếu đuối của tôi mà thôi. (2 Cô 12:5). Vậy tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. 10 Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ. (2 Cô 12:9-10). Mấy ai trong chúng ta đây có thái độ như PL: nhẩn nhịn, chịu đựng vì danh Chúa, vì công việc Chúa mà chấp nhận chê khinh, nhạo báng. Trái lại chúng ta chỉ muốn ăn miếng trả miếng.
San-ba-lát không chỉ nhạo báng, khinh thường khả năng, lòng quyết tâm của dân sự. Hắn còn nhạo cả lòng tin vào ĐCT chúng nó há sẽ dâng những của lễ ư? Nghĩa là bộ các người nghĩ rằng nếu các người cầu nguyện, dâng của lễ thì ĐCT của các ngươi sẽ làm phép lạ, giúp hoàn tất bức tường sao? Điều đó chỉ là điều hoang đường, không ai tin được.
Trong một ngày chúng nó há sẽ làm xong sao? Bộ chúng nó ngây thơ đến nỗi không biết công trình xây lại bức tường thành này khó khăn đến thế nào sao? Cái bọn làm liều nghĩ mình có thể làm xong việc này mà không biết khả năng, sức lực của chúng thế nào! Khi biết đá biết vàng rồi, chắc chắc chúng nó sẽ bỏ cuộc như đã bỏ cuộc trong suốt 70 năm dài đã qua từ sau khi đền thờ đã được hoàn tất.
Chế diễu khả năng của dân sự, chế diễu ĐCT của dân sự, rồi San-ba-lát còn chế diễu cả vật liệu: Đá mà đã cháy thiêu rồi, chúng nó há có thể do đống bụi đất mà lấy nó làm thành đá lại được sao?(4:2) Thật những tảng đá của bức tường thành trước đây bị cháy đen, cháy nám; nhiều tảng mục nát như tro bụi. Làm sao dân sự có thể lấy những tảng đá như vậy mà xây lại tường thành?
Câu hỏi mai mỉa này khiến tôi nghĩ về quyền năng tái tạo của ĐCT. ĐCT thật có quyền năng để khiến những bộ xương khô trở nên người sống như trong Ê-xê-chi-ên 37: Hỡi hài cốt khô, khá nghe lời Đức Giê-hô-va. 5 Chúa Giê-hô-va phán cùng những hài cốt ấy rằng: Nầy, ta sẽ phú hơi thở vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. 6 Ta sẽ đặt gân vào trong các ngươi, sẽ khiến thịt mọc lên trên các ngươi, và che các ngươi bằng da. Ta sẽ phú hơi thở trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống; rồi các ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va. (37: 4-6).
Người tin Chúa cũng kinh nghiệm được quyền năng tái tạo này của ĐTL: từ cuộc đời tội lỗi, xấu xa Chúa thay đổi nên con người hoàn toàn mới: Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới. (2 Cô 5:17)
Nhạo báng khả năng dân sự, niềm tin vào ĐCT, nhạo báng vật liệu dùng cho công việc, kẻ thù còn nhạo báng cả kết quả của công trình xây dựng tường thành: Tô-bi-gia, người Am-môn, đứng bên cạnh hắn nói rằng: “Cái tường bằng đá mà chúng đang xây kia nếu có một con chồn leo lên đó cũng đủ sập xuống rồi! (4:3). Bức tường chúng nó đang xây nhìn có vẽ kiên cố, vững chắc lắm nhưng chỉ cần một con chồn nhỏ leo lên thì cũng đủ làm cho sập!
Khi bị khinh khi, Giê một lần nữa không ăn miếng trả miếng nhưng cầu nguyện: 4“Lạy Đức Chúa Trời của chúng con! Xin lắng nghe vì chúng con bị khinh dể. Xin đổ lời sỉ nhục của chúng trên đầu chúng và phó chúng làm của cướp trong xứ mà chúng bị bắt làm tù binh. 5Đừng khỏa lấp gian ác của chúng hay bôi xóa tội lỗi chúng khỏi trước mặt Chúa, vì chúng đã chọc giận Chúa trước mặt các thợ xây cất. (4:4-5)
Thay vì nhạo báng, ăn miếng trả miếng lại, Nê làm gì? Ông cầu nguyện, xin Chúa dạy cho họ bài học mà họ đã chế diễu dân sự và công trình xây dựng. Cầu nguyện nhưng vẫn tiếp tục, chứ không phải cầu nguyện rồi ngồi chờ ĐCT giáng họa lên kẻ thù! 6Vậy chúng tôi xây cất tường thành cho đến khi cả bức tường đều nối liền với nhau và lên được phân nửa bề cao, vì dân chúng đều hết lòng làm việc.
Nếu để những lời nhạo báng, khinh khi, chế diễu làm cho thối chí, nản lòng, làm cho phân tâm mà bỏ dở công việc thì thật chỉ làm cho kẻ thù có dịp nhạo cười hơn. Thay vì ngừng trệ công việc, dân sự hết lòng tiếp tục làm việc để hoàn tất phân nửa bề cao của tường. Đây mới là cách trả lời hữu hiệu nhất mà Nê và dân sự đã làm!
PHÁ HOẠI, LÀM CHO RỐI LOẠN (4:7-9)
Nê và dân sự không để những lời nhạo báng, chê khinh làm giao động tinh thần, lung lay ý chí nhưng vẫn tiếp tục công việc, và hoàn tất đến 1/2 chiều cao của tường thành. Thấy vậy, kẻ thù thay đổi chiến lược: chúng phá hoại, làm cho rối loạn. 7Nhưng khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, những người Ả-rập, dân Am-môn và dân Ách-đốt nghe tin việc sửa chữa tường thành Giê-ru-sa-lem đang tiến triển và các lỗ hổng được lấp kín thì chúng rất giận dữ. 8Chúng họp nhau, âm mưu tiến đánh Giê-ru-sa-lem và làm cho thành bị rối loạn. (4:7-8)
Trước âm mưu tấn công của kẻ thù, một lần nữa Nê-hê-mi cầu nguyện. Nhưng không chỉ cầu nguyện mà còn có kế hoạch cụ thể để bảo vệ: Còn chúng tôi thì cầu nguyện với Đức Chúa Trời của chúng tôi và lập người canh gác ngày và đêm để chống lại chúng. (4:9)
Có câu nói: kẻ thù của kẻ thù tôi là đồng minh của tôi! Các nhân vật và nhóm người phá rối có lúc trước kia thù nghịch với nhau nhưng vì muốn phá hoại công trình xây cất bức tường thành nên chúng liên minh với nhau. Bây giờ dân Chúa bị vây hảm cả 4 phía: phía bắc là San-ba-lát và xứ Sa-ma-ri; phía đông là Tô-bi-gia và dân Am-môn; phía nam, Gê-sam và dân Ả-rập; phía tây là dân Ách-đốt, hay sau này còn gọi là dân Phi-lít-tin với Ách-đốt là thành phố quan trọng nhất của xứ Phi-lí-tin.
Dân ngoại, dù có thù nghịch với nhau nhưng khi có cùng một mục đích là để chống đối dân Chúa nên liên kết, hiệp lại với nhau. Nhưng điều đáng buồn là dân Chúa lại chia năm, sẻ bảy. Đây là lý do ĐCJC trong đêm cuối với các môn đồ, Chúa cầu nguyện cho họ và những người tin vào Ngài qua họ có tình yêu thương và giữ được hiệp một. Chỉ vì lý do hết sức nhỏ nhoi, vì những việc không đáng gì mà anh chị em trong hội thánh ĐCT lại hiềm khích, xung đột, thậm chí buồn giận, oán ghét nhau. Tín đồ chia thành nhóm này để chống lại nhóm khác, gia đình này chống gia đình nọ. Cũng như HT Cô-rinh-tô xưa, tín đồ xưng tôi theo A-bô-lô, tôi theo Phi-e-rơ, tôi theo PL, tôi theo Đấng Christ. PL hỏi họ: Đấng Christ đã bị chia cắt rồi sao? (1 Cô 1:13)
Tôi nhớ có một lời dạy rất ý nghĩa: Trong những việc trọng yếu, hiệp một; trong những điều phụ thứ (không trọng yếu), tự do; trong tất cả mọi sự, yêu thương. Nan đề là chúng ta xem những điều phụ thứ như những việc trọng yếu và nhất quyết tranh luận, cải lẫy cho đến chết vì những việc đó.
Trở lại Nê 4. Trước sự đe dọa phá hoại của kẻ thù Nê một lần nữa cầu nguyện, dâng trình nan đề lên cho Chúa Nhưng chúng tôi cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời chúng tôi, và lập kẻ ngày và đêm canh giữ họ. (Nê 4:9). Nê không chỉ kêu gọi dân sự cầu nguyện nhưng ông còn hành động: lập kẻ ngày và đêm canh giữ
LÀM CHO NẢN LÒNG, LÀM CHO SỢ HÃI
Câu chuyện Mô-se cử 12 thám tử xem dò vùng đất hứa. 40 ngày sau họ trở về và tất cả đều báo cáo rằng vùng đất đó thật đượm sửa và mật. Tuy nhiên 10 trong số 12 cả quyết không thể vào. Tại sao? Dân sự trong xứ mạnh mẽ lắm, tường thành cao lớn, kiên cố, có người cao lớn, hùng mạnh lắm nên không thể nào thắng được. Chỉ có Ca-lép và Giô-suê cả quyết với dân sự rằng với sự vùa giúp của ĐCT chúng ta có thể chiến thắng dân trong xứ.
2 so với 10 thì chỉ là 1/16! Cuối cùng 10 thám tử kết luận: “Vùng đất mà chúng tôi đã do thám là một vùng đất ăn nuốt dân mình. Tất cả những người chúng tôi đã thấy tại đó đều là những người cao lớn. 33Chúng tôi đã thấy những người cao lớn ấy, tức là con cháu của A-nác, là giống dân khổng lồ ở đó. Chúng tôi thấy mình như con cào cào và chúng thấy chúng tôi cũng vậy. (DSK 13:32-33).
Sau khi nghe những lời này, dân sự nản lòng, than khóc cả đêm. Đến sáng họ nói với Mô-se và A-rôn: Tất cả dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn với Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói với hai ông: “Phải chi chúng tôi chết trong đất Ai Cập hay chết trong hoang mạc nầy cho rồi! 3Tại sao Đức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào đất nầy để ngã chết bởi gươm? Vợ con chúng tôi sẽ bị giặc bắt đi. Chúng tôi quay trở lại Ai Cập không tốt hơn sao?” 4Rồi họ nói với nhau: “Chúng ta hãy lập một người lãnh đạo và trở về Ai Cập.” (DSK 14:2-4).
Qv biết rõ kết cuộc của câu chuyện đáng buồn này. Dân sự bị Chúa phạt phải đi trong đồng vắng 40 năm trời, cho đến khi cả thế hệ phàn nàn đều mất hết. Vùng đất hứa nằm trong bàn tay của họ nếu vững tin vào lời Chúa hứa thay vì tin vào cảm xúc nhất thời, tin vào lời thuật không kiểm chứng lại. Chính sự nản lòng, sợ hãi mà dân sự chùn bước, quyết định sai lầm và trả một giá hết sức đắt.
Nê 4:10 cho biết thái độ của người Giu-đa khi bị kẻ thù nhạo báng, phá rối, bị hâm dọa tấn công: 10Nhưng người Giu-đa nói: “Còn nhiều đống đổ nát mà sức lực của những người khuân vác đã kiệt quệ, chúng ta không thể xây cất tường thành được.” 11Các kẻ thù của chúng tôi nói rằng: “Chúng sẽ không hay không thấy gì cho đến chừng chúng ta đến giữa chúng, giết chúng và làm cho chúng phải ngưng công việc.” 12Khi những người Do Thái sống ở gần những kẻ thù báo cho chúng tôi đến mười lần rằng: “Kẻ thù sẽ tấn công chúng ta từ bốn hướng,” 13thì tôi lập những đồn trong các nơi thấp phía sau vách thành và ở những nơi trống trải, rồi đặt dân chúng theo từng gia tộc cầm gươm, giáo và cung. 14Sau khi xem xét, tôi trỗi dậy và nói với các người quý tộc, viên chức và dân chúng còn lại rằng: “Đừng sợ chúng. Hãy nhớ rằng Chúa là Đấng vĩ đại và đáng kính sợ sẽ chiến đấu cho anh em, con trai, con gái, vợ và cả nhà của anh em.”
