Hy Vọng Nơi Thập Giá – Tha Thứ Cho Đến Cuối Cùng
Pastor Tan Thai · 2 tháng 4, 2023
Bài giảng khám phá ba hy vọng vĩ đại nơi thập giá: sự tha thứ, cứu chuộc, và sự sống lại. Tâm điểm của bài là sự tha thứ của Chúa cho đến cuối cùng, được minh họa qua tương phản giữa Giu-đa Ít-ca-ri-ốt (người từ chối tha thứ) và các môn đồ khác (những người tin nhận tha thứ và được hồi phục). Bài giảng cảnh cáo rằng mỗi tín nhân đều có một phần Giu-đa Ít trong lòng khi theo Chúa vì lợi ích thay vì vì Chúa là ai và những gì Chúa đã làm.
Bài giảng trình bày ba hy vọng vô cùng to lớn mà chỉ có Chúa Giê-xu Christ có thể ban cho những ai tin nhận Ngài qua thập giá: sự tha thứ, sự cứu chuộc, và sự sống lại. Không một triết lý hay tôn giáo nào trên thế gian có thể cung cấp những hy vọng này. Bài giảng sáng nay tập trung vào hy vọng về sự tha thứ của Chúa cho đến cuối cùng, được chia thành ba phần chính: lời cảnh cáo của Chúa cùng các môn đồ, tương phản giữa quan hệ như Giu-đa Ít-ca-ri-ốt hay như Ma-ri, và sự tha thứ của Chúa cho đến phút cuối cùng.
Đoạn đầu tiên khám phá lời cảnh cáo của Chúa Giê-xu về sự phản bội sắp xảy ra trong buổi ăn Vượt Qua lần cuối. Chúa nói một cách mơ hồ rằng "một người trong các con sẽ phản Ta" thay vì chỉ rõ Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. Lý do của sự mơ hồ này là để mỗi môn đồ, bao gồm cả chúng ta hôm nay, phải nhìn sâu vào tấm lòng, con tim mình. Lằn ranh giữa thiện và ác đi ngang qua giữa con tim của mỗi người, không phải qua giữa các quốc gia hay tôn giáo. Bài giảng chỉ ra rằng tội phản bội là tội của động cơ: khi theo Chúa còn có lợi ích thì người đó tin theo, nhưng khi theo Chúa tốn kém và không còn lợi nữa, họ sẽ bán Chúa. Thậm chí các môn đồ được Chúa chọn và gọi, được chứng kiến các phép lạ và nghe tận tai lời dạy của Chúa trong 3 năm, vẫn không chắc chắn mình có phản Chúa không. Đây là lý do tại sao Phao-lô dạy: "Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã." Chúng ta cần cậy vào Đức Thánh Linh và sự trợ giúp của nhau trong Chúa để đứng vững.
Đoạn thứ hai tương phản giữa hai động cơ khác nhau trong theo Chúa, được minh họa qua câu chuyện của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt và Ma-ri (hay người phụ nữ tại nhà Si-môn). Cả hai đều làm công việc tương tự: xức dầu thơm đắt giá cho Chúa, nhưng động cơ của họ hoàn toàn khác nhau. Giu-đa thấy Chúa Giê-xu hữu ích và theo Chúa để được lợi cho mình, nhưng Ma-ri thấy Chúa Giê-xu thật đẹp và yêu mến Ngài vì lòng biết ơn về sự tha thứ và cứu chuộc mà Ngài đã ban cho. Khi hoàn cảnh thay đổi và theo Chúa không còn lợi nữa, Giu-đa bán Chúa. Bài giảng giải thích sự khác biệt giữa tôn giáo và Tin Lành: tôn giáo dạy "tôi vâng phục nên tôi được phước," nhưng Tin Lành dạy "tôi được tha thứ duy bởi ân điển, vì lòng biết ơn nên tôi vâng phục." Mỗi chúng ta đều có một phần Giu-đa Ít và một phần Ma-ri trong lòng, và hai phần này thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh. Có những tín đồ mà phần Giu-đa Ít ngày càng mạnh hơn cho đến khi họ quyết định bỏ Chúa, nhưng có những tín đồ khác mà phần Ma-ri ngày càng mạnh hơn và họ tiếp tục trung tín phục vụ dù hoàn cảnh thay đổi.
Đoạn thứ ba khám phá sự tha thứ và ăn năn của Chúa. Mặc dù Chúa biết chắc chắn rằng Giu-đa sẽ phản Ngài, Chúa vẫn cảnh cáo, nhắc nhở, và ban cho cơ hội. Ngay trong vườn Ghết-sê-ma-nê khi Giu-đa nhận diện Chúa bằng cái hôn, Chúa vẫn gọi hắn là "bạn." Nhưng Chúa cũng không chỉ điểm tận mặt Giu-đa vì Chúa yêu Giu-đa cho đến cuối và muốn hắn ăn năn. Sự khác biệt quan trọng giữa Giu-đa Ít và các môn đồ là: Giu-đa từ chối sự tha thứ và hư mất đời đời, nhưng các môn đồ như Phi-e-rơ và Phao-lô nhận sự tha thứ và được hồi phục để trở thành những sứ đồ và lập nên Hội Thánh đầu tiên. Giá trị và ý nghĩa của hy vọng về sự tha thứ tương xứng với ý thức về mức độ của tội lỗi. Người phụ nữ tội lỗi trong Lu-ca 7 yêu mến Chúa nhiều hơn vì bà ý thức được tội của mình nhiều và được tha hết, nên sự tha thứ có giá trị vô cùng lớn với bà. Chúa Giê-xu khiên cân giữa công bình và nhân từ, giữa ân điển và chính trực: Chúa yêu nên cảnh cáo, nhưng cũng không làm nhục hay phơi bày điều xấu của Giu-đa trước các môn đồ.
Chủ đề