Sự Sáng Thế Gian
Hai điều chắc chắn mà mọi người đều đồng ý về mùa lễ Giáng Sinh. Hai điều đó là quà và đèn. Quên còn một điều nữa là tiệc tùng (party). Nói đến Giáng Sinh mà không nói đến quà và đèn thì thật là thiếu sót. Nơi các cửa tiệm, trong shopping mall hay ngay cả trên mạng tuyến internet, ai cũng mua quà cho nhau. Đi đâu trong thành phố vào lúc ban đêm chúng ta cũng thấy nhà cửa giăng bắt những giây đèn lấp lánh thật xinh đẹp.
Ánh sáng hết sức quí giá do mấy lý do sau đây:
Ánh sáng là nguồn của sự sống. Không có sự sáng thì không có sự sống. Địa cầu sẽ là một hành tinh chết nếu thiếu đi ánh sáng của mặt trời. Loài người và tất cả các loài sinh vật, cây cỏ cũng sẽ chết mất nếu không có sự sáng. Theo STK ĐCT đầu tiên tạo ra điều gì sau khi dựng nên trời đất? Sự sáng. Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng.
Ánh sáng là nguồn yên ủi, an toàn. Tôi nghĩ hầu hết qv đây đều có những đèn tự động theo giờ trong nhà, để khi trời xụp tối thì đèn cháy lên như có người ở nhà. Khi ở nhà một mình thì nhiều người để cả đèn lúc ngủ cho thấy an toàn.
Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng (TT 30:5).
Ánh sáng là nguồn hy vọng. Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai? (TT 27:1)
Gióp ví ánh sáng như một hy vọng thoát ra khỏi cơn khổ nạn: Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho. Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi. (Gióp 20:26-27)
Ánh sáng là hình ảnh, biểu tượng của chân lý, thánh khiết. Cũng như bóng tối là biểu tượng của dối trá, tội lỗi. Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, Ánh sáng cho đường lối tôi. (TT 119:105)
NHỮNG ÁNH SÁNG CỦA THẾ GIAN
Tôi không phủ nhận là thế gian hôm nay không phải nơi nào cũng sống trong bóng tối cả. Đèn điện hôm nay là cả một tuyệt vời rất lớn mà không thể sống mà thiếu được. Năm nữ khi date thường ăn dưới ánh nến cho thơ mộng, tình tứ, nhưng khi lấy nhau rồi chỉ có khi cúp điện mới ăn dưới ánh đèn cầy hay đèn dầu, đèn bin. Cũng chính nhờ đèn điện mà biết bao nhiêu thành phố nhưng Sài Gòn, Las Vegas hay Thượng Hải 24/24 lúc nào cũng sáng cả, lúc nào cũng đông đảo người. Có người đi xem đại nhạc hội ánh đèn mờ mờ nhưng mặc áo quần kim tuyến chóa cả mắt khi nhìn.
Khi mới đến Hoa Kỳ hơn ba mươi năm trước đây, từ trên phi cơ nhìn xuống thành phố Dallas, tiểu bang Texas vào lúc ban đêm tôi cứ ngỡ như mình đến một hành tinh nào đó vì cả thành phố sáng rực lên trong đêm tối. Cơ quan không gian NASA có chụp nhiều bức hình về địa cầu trong đêm vào lúc ban đêm. Hình chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa hai xứ Nam Hàn và Bắc Hàn vào lúc ban đêm.
Từ ngoài trái đất, hình cho thấy cả Nam Hàn đầy những chấm sáng nhưng Bắc Hàn thì tối tăm ngoài từ một đốm sáng nhỏ tại thủ đô Bình Nhưỡng. Cũng vậy cả Âu Châu hay Bắc Mỹ Châu thì sáng rực còn lục địa Phi Châu thì tối tăm lắm. Nếu có dịp đi phi cơ vào mùa Giáng Sinh, từ trên khung cửa sổ trước khi phi cơ hạ cánh chúng ta có thể thấy cả thành phố rực rỡ với những ánh đèn trang trí cho ngày lễ. Mới đây NASA lại chụp một số hình cho thấy số đèn tăng thêm rất nhiều lần tại các thành phố lớn HK trong mùa lễ GS.
Đây là ánh sáng nhân tạo. Để có ánh sáng thì phải cần điện. Để tạo nên điện thì phải cần nhiên liệu: than, dầu, gas, nguyên tử, hôm nay thì có solar, gió. Nhưng không có một nhiên liệu để tạo ra điện mà không có vấn đề cả: không ô nhiễm môi trường khói mù trời, thì cũng ô nhiễm phóng xạ. Hơn nữa, nếu nhân tạo thì nhân cũng có thể làm hỏng hay hủy diệt. Chúng ta thấy rất rõ điều này. Năm 2003 một vụ cúp điện tại vùng Đông Bắc khiến cho 55 triệu người mất điện, xe điện tại các thành phố lớn cũng phải ngừng lại, các cửa tiệm cũng không có điện nên không thể giữ thức ăn lâu sợ bị hư thối, cell phones, internet cũng không có vì không có điện. Khi trên đường về hôm nay khi chạy xe, qv có thể nghĩ xem khi không có điện thì cuộc sống hiện tại xứ này, tại các thành phố trên HK, tại các quốc gia khác như thế nào.
Tiếng Anh cũng có từ luminaries được dùng với hai nghĩa khác nhau: 1) Một vật thể gì đó tỏa ra ánh sáng như sao trên trời, mặt trăng, hay như các cây đèn cầy nhỏ bỏ trong túi giấy dầu có cát để chung quanh nhà, đặc biệt chung quanh những đường đi vào nhà. , là thủ đô xưa của thành phố, người ta sắp những luminaries thành hình một thập tự giá; 2) là gương sáng nói về những người nổi bật, những người vĩ nhân, những người rất tài giỏi đóng góp nhiều cho xã hội, thế giới. Theo nghĩa thứ 2 thì chúng ta có thể nói về rất nhiều gương sáng, điểm sáng để chúng ta có thể bắt chước, học làm theo.
Ngay cả các bậc vĩ nhân, lãnh đạo nổi bật này cũng có lúc sống trong bóng tối, không phải vì không có ánh sáng của đèn nhưng bóng tối của cuộc đời. Ai không sợ bóng tối của cô đơn, tuyệt vọng. Ai không phải đi qua trũng than khóc vì mất người mình thương mến, mất tình bạn, tình yêu. Ai không chùng lòng khi nghe tin mình mang căn bệnh ung thu. Chúng ta đi trong bóng tối đau khổ khi một ngày thình lình vợ mình, chồng mình nói rằng: tôi không còn muốn sống với anh, với em nữa, từ rày đường ai nấy đi. Hay bóng tối tủi nhục, hổ thẹn khi chính mình mắc vào những thói xấu không bỏ được. Khi người chủ bảo với chúng ta: anh chị bị đuổi, bị lay-off hôm nay. Khi số tiền dành dụm bao nhiêu năm trời bổng biến mất như mọc cánh bay đi vì con cái, hay chồng vợ lấy đi rồi ăn chơi, cờ bạc. Và bóng tối kinh khiếp nhất của đời người là sự chết.
ÁNH SÁNG THẾ GIAN TỪ TRỜI
Có hai sự khác biệt vô cùng to lớn giữa những ánh sáng của thế gian và ánh sáng từ Trời: 1) Ánh sáng từ trời cho thế gian đã được báo trước; 2) Jesus Christ tự nhận mình là ánh sáng từ trời, ánh sáng đem đến sự sống đời đời.
700 năm trước khi Jesus Christ giáng sinh, ĐCT dùng một tiên tri tên Ê-Sai để nói trước về sự sáng đó của thế gian sẽ được ứng nghiệm trong Đức Chúa Jê-sus Christ: Dân đi trong nơi tối tăm đã thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự chết... Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng, là Đấng Mưu Luận, là Đức Chúa Trời Quyền Năng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời (Ê-sai 9:1,5-6).
Qv chú ý Ê-sai sự sáng lớn là từ một con trẻ sanh ra trong thế gian. Và con trẻ đó không chỉ được gọi là sự sáng lớn, nhưng còn là Đấng Lạ Lùng, là Đấng Mưu Luận, là Đức Chúa Trời Quyền Năng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An. Hơn nữa Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, cho đến khi nào? từ nay cho đến đời đời. Vậy sự sáng lớn này không phải là một ánh sáng tạm thời chỉ kéo dài trong một thời gian, một giai đoạn nào đó trong lịch sử loài người nhưng cho đến đời đời.
Trong lịch sử nhân loại không có một vương quốc, một vị lãnh tụ, một đại đế, tổng thống nào tồn tại cho đến đời đời. Nhiều lắm là ngàn năm, ngắn hơn là vài ba mươi năm. Vậy khi nói về một Đấng cai trị cho đến đời đời, KT không nói về một vị lãnh đạo của thế gian nhưng về một Đấng đến từ trời là ĐCJC.
700 năm sau đó, khi Đức Chúa Jê-sus Christ trở về quê hương vào nhà hội nhóm, Ngài đọc từ trong sách tiên tri Ê-sai đã viết về sự sáng lớn, về một con trẻ sanh ra có quyền cai trị cho đến đời đời. Sau khi đọc xong, Jê-sus tuyên bố: "Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi vừa mới nghe đó" (Lu-ca 4:21).
Không những ĐCJC tự xưng mình là ứng nghiệm của tiên tri về sự sáng lớn 700 năm trước đó của Ê-sai, Chúa còn tuyên bố rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống (Giăng 8:12) . Đây là một lời tuyên bố thật táo bạo. Từ trước Chúa và từ sau Chúa, không một lãnh đạo tôn giáo nào, một triết gia hay giáo sự, vua chúa hay lãnh tụ nào dám tự nhận vậy. Chính vì những lời này mà sứ đồ Giăng khi nói về Đức Chúa Jê-sus Christ đã dùng hình ảnh của sự sáng: Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng… Sự sáng nầy là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người. (Giăng 1:4-5, 9).
Chúa không nói Ta biết và sẽ chỉ cho ai theo Ta sự sáng thật, sự sáng của sự sống phước hạnh, sự sáng xua tan bóng tối sợ hãi của sự chết, sự sáng đem đến sự sống đời đời nơi thiên đàng. Phật bảo đừng nhằm ngón tay Ngài với mặt trăng khi dùng tay để chỉ mặt trăng; nói cách khác đừng lầm ta với chân lý. Nhưng ĐCJC thì tự nhận rằng Ta là sự sáng của thế gian, của cả thế gian! Nói cách khác ĐCJC tự nhận Ngài là nguồn sáng, chứ không phải chỉ là ánh sáng phản ánh từ một vật thể, một con người này khác, như mặt trời là nguồn sáng, mặt trăng chỉ phản ánh sáng mặt trời. Ngài là chân lý. Ngài là ĐCT.
Qv có nhớ câu chuyện Chúa hiện ra cùng hai môn đồ trên đường Em-ma-út sau khi đã sống lại. Chúa hỏi họ bàn luận về việc gì. Họ nói bộ ông biết việc gì đã xãy ra trong thành Giê-ru-sa-lem mấy ngày trước đó hay sao. Rồi họ kể về một Jesus người Nazareth đầy quyền năng ĐCT nhưng rồi lại bóng đinh đến chết, nhưng mới đây có mấy người đàn bà báo tin rằng Jesus đã sống lại rồi. Rồi bắt đầu từ Môi-se và qua tất cả các tiên tri Ngài giải nghĩa những điều về Ngài trong cả Thánh Kinh cho họ. (Lu-ca 24:27)
Trong khi còn sống vào ngày hội ngày Sa-bát ĐCJC đọc tiên tri Ê-sai và bảo chính Ngài là ứng nghiệm của lời KT đó. Sau khi sống lại, Chúa cũng giải thích cho 2 môn đồ rằng tất cả KT (CU) đều viết về Ngài. Quả thật đây là một lời tuyên bố có một không hai. Người ta có thể lên án Chúa là lộng ngôn vì điên rồ, hay ngông cuồn, hoặc có thể cho rằng Ngài nói dối, nhưng không ai có thể so sánh ĐCJC với bất cứ một vĩ nhân nào của thế giới này, bởi vì không vĩ nhân lại dám tự nhận như vậy. Tôi không trách các em của Chúa khi Ngài còn sống cũng nghĩ rằng Chúa quẫn trí rồi vì những lời tự nhận và những lời dạy.
ĐÓN NHẬN SỰ SÁNG THẾ GIAN
Đức Chúa Trời muốn chúng ta bước đi trong sự sáng đó. Ngài muốn giúp tôi và qv sống trong bình an và hy vọng chứ không phải trong sự sợ hãi, lo âu, sống trong bóng tối của tuyệt vọng. Chúa hứa rất chắc chắn rằng "người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống". Khi Jê-sus đến nơi nào thì Ngài đem sự sáng của chân lý, bình an và hy vọng đến nơi đó. Người mù được sáng, người câm được nói, được què được đi, những kẻ tật nguyền được chửa lành. Ngay cả những người phụ nữ bị xã hội coi rẻ cũng có một vị trí đặc biệt đối với Chúa.
Và khi Chúa đến trong thế gian, lần đầu tiên trong lịch sự loài người, những người làm nô lệ có thể đứng ngang hàng với chủ mình khi thờ phượng, và được gọi là anh em trong Chúa. Những người thiếu thốn nhất, nghèo nàn nhất, khổ sở nhất tìm thấy hy vọng cho đời sống họ qua lời của Chúa dạy: "Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Phước cho những kẻ than khóc vì sẽ được yên ủi! Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất! Phước cho những kẻ đói khác sự công bình, vì sẽ được no đủ!" (Ma-thi-ơ 5:3-7).
Trong một xã hội mà cá lớn nuốt cá bé, kẻ giàu thắng người nghèo, người có quyền thế cai trị dân tầm thường, làm sao cho chỗ cho người có lòng khó khăn, cho người nhu mì, cho người chuộng sự công bình? Ai sẽ lau nước mắt cho người than khóc? Nhưng khi Chúa đến, mọi sự thay đổi. Những người bần cùng của xã hội, người bị ruồng bỏ, chê khinh bây giờ có chỗ trong nước Trời, có hy vọng cho cuộc sống hiện tại. Sự sáng lớn đến trong tối tăm là như vậy.
Câu chuyện từ bài viết What I Learned from a dying patient của bác sĩ E. Wesley Ely, bác sĩ và giáo sư y khoa trường đại học y khoa Vanderbilt, Wall Street Journal 20/12/2014. Chuyện kể về một bệnh nhân 39 tuổi, tiến sĩ khoa học, brilliant được đưa đến cấp cứu và vào ICU vì có nhiều triệu chứng mà không biết nguyên nhân. Hai tháng trước đó, cô vẫn mạnh khỏe. Thình lình thở như hụt hơi, có máu trong nước tiểu và ngón chân cái bị đau. Khi chụp hình thì thấy cô bị một khối u trong mạch tim và nhiều phần của thận đang chết. .
Khi bác sĩ Ely nói chuyện với mẹ người bệnh thì được bà cho biết là cô không tin có thượng đế (agnostic). Sau một thử nghiệm phổi bác sĩ xác nhận cô bị ung thu và ung thu đã lan đầy trong cơ thể. Khi cho biết kết quả thì phổi cô đã đầy nước, cô không nói được. Nhưng mắt và nước mắt của cô như kêu gào với bác sĩ câu hỏi tại sao tôi! Chỉ 8 tiếng đồng hồ sau khi biết kết quả ung thu, cô qua đời. Bác sĩ Ely viết: Từ ngàn xưa, những nhà thông thái như Plato và Aristotle dạy chúng ta về khái niệm của thân xác, trí tuệ và linh hồn (body, mind, spirit)… Bệnh nhân tôi và tôi có hai phần đầu giống nhau (thân và trí) nhưng khi nói về tâm linh niềm tin chúng tôi khác nhau… Một cuộc xác nghiệm về thể xác (autopsy) sẽ trả lời rất nhiều câu hỏi, như bứu gì lớn lên trong mạch tim và có thể cả căn cơ của ung thu mà chúng tôi nghĩ từ các bộ phận vùng bụng, nhưng không một cuộc giảo nghiệm thể xác nào, không có kính hiển vi nào hay cuộc thử nghiệm phòng lab nào có thể giúp tôi biết hơn về tình trạng tâm linh của cô.
Làm sao để có thể nhận sự sáng thật vào cuộc đời mình, để tâm linh mình có thể thay đổi bởi sự sáng thật đó?
Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy. (Giăng 1:9-10)
