Phao-lô – Khoe Mình Trong Sự Yếu Đuối
Trong bài giảng tuần qua tôi đã giới thiệu qua về cuộc đời, thân thế của sứ đồ PL. PL sinh ra, lớn lên trong một thành phố lớn, sầm uất, nổi tiếng là Tạt-xơ. Ông hãnh diện về thành phố đó. PL là người Do Thái thuộc dòng Benjamin và cũng có tên là Sau-lơ, vị vua đầu tiên của dân tộc Do Thái. Dù về chủng tộc PL là người DT nhưng về công dân thì ông có quốc tịch La-mã vì cha của ông đã là công dân La-mã trước khi PL sinh ra.
PL được huấn luyện về luật pháp Mô-se bởi một giáo sư rất nổi tiếng tên Gamalien. Tôi xin được đính chính một chi tiết chia sẻ tuần qua về giáo sư Gamalien: ông là một trong 7 người, chứ không phải 3 như đã chia sẻ tuần qua, giáo sư hay học giả kinh luật có danh hiệu là Rabban. Về chức phận PL là người Pha-ri-si. Về sự công chính, ông giữ gần trọn luật pháp. Vì lòng nhiệt thành hầu việc ĐCT nhưng không hiểu đúng nên trước khi được cứu, PL là người tìm mọi cách để bắt bớ người theo Chúa, hủy diệt hội thánh Chúa. PL chính là người giữ các áo ngoài cho những người ném đá sứ đồ Ê-tiên cho đến chết. Vậy ông là người đồng lõa với những người giết Ê-tiên; tay ông dính máu người vô tội.
Trên đường đến thành Đa-mách để tìm bắt người theo Chúa, ĐCJC hiện ra cùng ông. Nhưng đang đi đường đến gần Đa-mách, bỗng có ánh sáng từ trời chiếu lòa chung quanh Sau-lơ. 4 Ông té xuống đất, và nghe có tiếng gọi mình: "Sau-lơ! Sau-lơ! Sao ngươi bắt bớ Ta?" 5 Ông thưa: "Lạy Chúa, Ngài là ai?" Ta chính là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ! (CV 9:3-5)
Cũng tại đó ĐCJC cho biết không những PL được tha tội, được cứu nhưng còn được kêu gọi và sai đi để đem Tin Lành đến cho dân ngoại dù có phải trải qua bao nhiêu khó khăn, khổ nạn: “Vì Ta đã chọn người ấy làm một đồ dùng của Ta, để đem danh Ta đến với các dân ngoại, các vua, và các con cái I-sơ-ra-ên; 16 vì Ta sẽ tỏ cho người ấy biết người ấy phải chịu khổ bao nhiêu vì danh Ta.” (CV 9:15-16)
Chính bởi quá khứ bắt bớ đạo Chúa, giết hại người theo Chúa nên sau khi được cứu, hơn ai hết PL thấu hiểu và kinh nghiệm rất rõ về ân điển, về sự ngọt ngào của tình yêu thương ĐCT dành cho ông, về sự tha thứ và hơn hết vì ân điển mà ông còn được gọi làm sứ đồ của Đấng mà đã một lần ông chối bỏ. KT dạy kẻ được tha ít thì yêu mến ít, kẻ được tha nhiều thì yêu mến nhiều. PL kinh nghiệm được tình yêu thương sâu đậm của Chúa nên ông biết ơn, yêu mến, và phục vụ Chúa hết lòng.
PL viết cho thư hội thánh Cô-rinh-tô những lời hết sức cảm động, tóm trọn lòng biết ơn, về ý nghĩa của tình yêu Chúa với ông: Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình. (2 Cô-rinh-tô 5:14-15)
Hai điều tôi muốn chia sẻ trong bài giảng này: 1) Về sự hầu việc Chúa (hay công vụ) của PL, 2) Về người sứ đồ chỉ khoe mình trong sự yếu đuối. Tôi cũng sẽ giải thích điều này có liên hệ gì đến lá thư gởi hội thánh Cô-rinh-tô.
VỀ SỰ HẦU VIỆC CHÚA (CÔNG VỤ) CỦA PHAO-LÔ
Sự hầu việc Chúa của sứ đồ PL được ghi lại chi tiết trong sách CVCSĐ viết bởi bác sĩ Lu-ca. CVCSĐ là sách thứ 5 sau 4 sách Phúc Âm. Tên sách CVCSĐ (the Acts of the Apostles) không phải là tên do Lu-ca đặt ra nhưng được đặt bởi những học giả dịch lại KT. Tên của sách cho biết nội dung của lá thư này: nhằm để nói về những công vụ của hội thánh, của các sứ đồ đầu tiên không lâu sau khi ĐCJC sống lại, giao phó đại mạng lệnh, rồi trở về trời; sau khi 120 môn đồ được nhận ĐTL trên phòng cao, sau khi các lưỡi lửa của TL đậu trên mỗi người. CV là sách lịch sử đầu tiên của hội thánh Chúa và Lu-ca là người sử gia đầu tiên.
Sách CV gồm 28 đoạn. Sự bắt bớ của PL với đạo Chúa và sự Chúa cứu ông được ghi lại trong đoạn 8-9 của sách. Từ đoạn 13 trở đi đến cuối sách, tức 15 đoạn, Lu-ca ghi lại công vụ của sứ đồ PL, bao gồm một thời gian trên 20 năm dài từ khi được Chúa cứu cho đến khi bị giải đi và giam tại thành La-mã. Để có thể hiểu các thư tín PL qv cần đọc qua CV. Như thời gian PL hầu việc Chúa tại thành Cô-rinh-tô được ghi lại trong CV 18. Tôi tóm lại những điểm mốc, sự kiện quan trọng trong sự hầu việc Chúa của PL theo thứ tự thời gian:
ĐCT dùng sứ đồ PL để viết ra 13 thư tín: 4 thư gởi cho cá nhân, 9 thư gởi cho các hội thánh. Bên cạnh 13 thư tín vô giá PL để lại, thành quả ông đạt được trong 3 cuộc truyền giáo, có thể nói vượt trội hơn các sứ đồ của hội thánh đầu tiên. Ngay cả cho đến ngày nay hiếm ai có thể so sánh được. Một học gỉa viết về thành quả đó như sau: Chỉ ít hơn 10 năm sứ đồ Phao-lô đã thiết lập hội thánh trong bốn vùng của đế quốc (La-mã): Ga-la-ti, Ma-xê-đoan, A-chai-a, và Tiểu Á. Trước năm 47 không có hội thánh nào trong các vùng này. Đến năm 57 PL có thể nói như công việc của ông đã hoàn tất, và có thể dự tính các chuyến truyền giáo vùng Tây phương xa hơn nữa mà không phải lo lắng rằng các hội thánh ông đã thành lập sẽ bị mất đi khi không còn có sự hướng dẫn và trợ giúp của ông nữa.
Tôi muốn nêu ra hai bài học rất quan trọng về công vụ của PL theo thời gian: 1) Vai trò của thời gian; 2) Nguồn động viên của người hầu việc Chúa.
Vai trò của thời gian
PL được cứu vào năm 33 nhưng mãi đến gần 14 năm sau (47-48), Chúa mới gọi ông cho cuộc truyền giáo thứ nhất [slide]. Không phải đi một mình (không một lần nào PL đi một mình cả) nhưng với một sứ đồ tin Chúa trước PL, kinh nghiệm hầu việc Chúa hơn ông là Ba-na-ba.
Ngay cả một người thông minh, học thức, hiểu biết như PL cũng phải cần một thời gian để được chuẩn bị trước khi làm việc khó và lớn cho ĐCT. Theo sách Ga-la-ti sau khi PL được cứu, ông vào sa mạc xứ A-ra-bi trong vòng 3 năm trời: song tôi đi qua xứ A-ra-bi; sau rồi trở về thành Đa-mách. 18 Kế đó, mãn ba năm, tôi lên thành Giê-ru-sa-lem, đặng làm quen với Sê-pha, và tôi ở với người mười lăm ngày (Ga-la-ti 1:17-18)
Ba năm trong sự tĩnh mịch, vắng lặng. Đây là điều rất cần thiết cho sự trưởng thành của đời sống tâm linh. Chỉ có trong sự yên lặng chúng ta mới có thể nghe tiếng Chúa qua KT, qua sự cầu nguyện, qua sự suy gẫm lời Chúa. Oswald Sander, một người luật sư trở nên nhà lãnh đạo của tổ chức truyền giáo tại Trung Quốc Overseas Mission Fellowship trong quyển sách rất ý nghĩa (đặc biệt với tôi) Paul – The Leader, có lời viết như sau: Mặc dù sứ đồ PL được lợi thế với sự huấn luyện tôn giáo và học vấn tuyệt hảo, nhưng trước khi có thể được tận dụng cho công việc rao giảng TL cho dân ngoại, ông cần phải qua một khóa huấn luyện khác… Để đạt được điều này [hoàn tất mục đích của khóa huấn luyện], phải cần một thời gian tĩnh mịch, bởi vì sự tĩnh mịch (im lặng) là một yếu tố cần thiết cho quá trình trưởng thành.
PL được cứu vào năm 33: 14 năm huấn luyện cho PL với 3 năm tĩnh mịch trong sa mạc xứ A-ra-bi; 40 năm cho Mô-se trong đồng vắng; khoảng 15 năm cho Giô-sép; 25 năm cho Áp-ra-ham trước khi có Y-sắc. Còn Chúa Giê-su thì sao? 30 năm chờ đợi và 40 ngày đêm bị thử thách trong đồng vắng trước khi ĐCJC hành đạo.
Rất nhiều tín đồ nghĩ rằng chỉ học vấn là đủ, chỉ được trang bị kiến thức KT là đủ. Qua cuộc đời của các nhân vật quan trọng, KT dạy rằng ĐCT dùng thời gian, sự chờ đợi, im lặng để dạy dỗ, huấn luyện, trang bị cho người hầu việc Chúa trước khi làm việc quan trọng. Tôi tin Chúa năm 1982, mãi đến năm 1994, 12 năm sau đó Chúa mới dùng tôi để bắt đầu nhóm nhỏ tại Crestview. Đến năm 1999 tôi mới nhậm chức mục sư tức 17 năm sau khi tin Chúa.
Cũng chính vì lý do này mà sứ đồ PL dạy Ti-mô-thê khi chọn người lãnh đạo hội thánh chớ chọn Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. (1 Ti-mô-thê 3:6) Thời gian là thầy dạy hữu hiệu giúp người hầu việc Chúa ý thức về những thiếu sót, yếu điểm, khiếm khuyết, lỗi lầm, vấp phạm khi học bước đi trong đức tin, khi tập tành làm việc Chúa, khi va chạm với những anh chị em trong hội thánh, khi chia sẻ TL bị người chê bai, khi hầu việc Chúa thất bại.
Ca dao VN có câu: Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắt lẽo gặp ghền khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi. Con đi trường học, mẹ đi trường đời. Để thật sự trưởng thành, mọi người phải cần trải qua trường đời. Bởi vì trường đời có những bài học mà không một trường lớp nào có thể dạy được.
Sự hầu việc Chúa không phải chỉ cần kiến thức, hiểu biết KT, giáo điều nhưng còn cần đến tính hạnh khiêm nhường, nhu mì, các trái TL, cần tình yêu thương, sự kiên nhẫn, nhịn nhục, cần sự tha thứ, cần ý thức rất rõ rằng tôi chỉ là công cụ của ĐCT. Những điều này không học được từ trường lớp, từ chủng viện, từ các trường thần học, nhưng chỉ qua sự gọt dũa của ĐTL qua thời gian.
Nguồn động viên của người hầu việc Chúa
PL đến thành phố Cô-rinh-tô trong chuyến truyền giáo thứ hai vào khoảng năm 50. PL ở lại thành 18 tháng để giảng TL, dạy dỗ, huấn luyện. Khi học về lá thư 1 Corinthians tôi sẽ giải thích rõ hơn. Chính PL là người sáng lập hội thánh tại thành phố đó. Vậy đó mà các tín đồ hội thánh vẫn có thể chia thành các nhóm theo người lãnh đạo này, người lãnh đạo nọ: Vì, hỡi anh em, bởi người nhà Cơ-lô-ê, tôi có được tin rằng trong anh em có sự tranh cạnh. 12Tôi có ý nói rằng trong anh em mỗi người nói như vầy: Ta là môn đồ của Phao-lô; ta là của A-bô-lô, ta là của Sê-pha, ta là của Đấng Christ. 13 Đấng Christ bị phân rẽ ra sao? (1 Cor 1:11-13)
Hơn thế nữa tín hữu hội thánh còn so sánh ông với người này, người nọ, và chê PL không bằng họ: 7 Anh chị em nhìn vào bề ngoài chăng? Nếu ai cho rằng mình thuộc về Ðấng Christ, người đó hãy coi lại xem; nếu người đó là người của Ðấng Christ, chúng tôi cũng vậy… 10 Số là đã có người nói rằng, “Các thư của ông ấy có vẻ nghiêm khắc và mạnh mẽ, nhưng đến khi gặp mặt thì ông ấy yếu xìu và nói năng chẳng ra gì.” 12 Chúng tôi không dám kể mình ngang hàng hoặc so sánh chúng tôi với những người tự đề cao đó. Nhưng khi họ lấy mình làm tiêu chuẩn để đo nhau, hoặc so sánh mình với nhau, họ không mấy hiểu biết. (2 Cor 10:7,10,12 – BD2011)
Đến cuối đời khi bị giam trong tù tại thành La-mã, PL viết lá thư cuối cùng cho người con trong Chúa là Ti-mô-thê. Trong lá thư cuối đời đó, PL có những lời sau đây: Con biết rằng tất cả mọi người ở Tiểu-Á đã lìa bỏ ta, có cả Phi-ghen và Hẹt-mô-ghen nữa. (2 Tim 1:15) và trong những lời kết thúc: Khi ta ra tòa tự biện hộ lần thứ nhất, chẳng có ai bênh vực ta; tất cả đều bỏ rơi ta. Cầu xin Chúa đừng quy tội này cho họ. (4:16).
Mãi đến cuối đời hầu việc mà PL vẫn kinh nghiệm được sự bỏ rơi của những người ông đã chia sẻ lời Chúa, dạy dỗ, giúp đở. Nếu PL còn bị bỏ rời thì những người hầu việc Chúa hôm nay có lý do gì nghĩ rằng những điều này không thể xãy ra với mình? Vậy nguồn động viên của người hầu việc Chúa không phải chỉ trong quan hệ với người nhưng chủ yếu trong quan hệ với Chúa.
Khi hầu việc Chúa chớ cậy vào lời khen tặng, tâng bốc của người. Lòng người thay đổi, nay thế này, mai thế khác. Nay thương mến PL, mai thương mến A-bô-lô hay Phi-e-rơ mà so sánh rồi chê bai PL. Tôi nghĩ cũng chính vì lý do này mà niềm tin và sự nương cậy của sứ đồ PL vào ân điển và quyền năng của Chúa và duy từ Chúa theo thời gian phục vụ càng tăng thêm.
Người hầu việc ĐCT phải luôn tự hỏi, tự xét lòng mình: tôi hầu việc Chúa vì tiếng chê khen của người hay tiếng chê khen của ĐCT? Nếu luôn phải cần đến sự khen tặng, tưng bốc của người thì chắc không phải hầu việc ĐCT, mà là hầu việc người để lấy lòng người. Đây là một yếu đuối mà hầu hết mọi người đều có: muốn được người khen, làm để được người khen; nản lòng, bỏ cuộc khi bị chê bai, đả kích.
Nhưng bởi vì PL đặt sự yên ủi trong Đấng Christ, vì biết lý do gì, động cơ gì, mục đích gì mà ông giảng TL nên dù có lúc thất vọng, PL vẫn không bỏ cuộc. Ông viết: 7 Chúng tôi đựng bửu vật nầy trong những bình bằng đất để bày tỏ rằng quyền năng diệu kỳ là của Ðức Chúa Trời, chứ không phải của chúng tôi. 8 Chúng tôi bị áp lực đủ mọi mặt nhưng không bị nghiền nát, bị bối rối nhưng không hề tuyệt vọng, 9 bị bách hại nhưng không bị bỏ rơi, bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt. (2 Cor 4:7-9)
Đây cũng là bài học quan trọng cho tín đồ của mọi hội thánh. So sánh là thói quen tự nhiên của con người chúng ta. Nhưng so sánh để tâng bốc người hầu việc Chúa này, hạ thấp người kia chỉ gây ra chia rẽ, bè phái, nhóm này với nhóm nọ, là mắc tội cùng ĐCT, cùng hội thánh Chúa lập. Khi một anh chị em nào đến hội thánh, cộng tác, làm việc, chúng ta cũng chớ so sánh họ với người này, người nọ, rồi lập nhóm này hay nhóm khác. Tôi không nói điều này cho vì hội thánh tại đây có vấn đề gì, hội thánh Chúa cho có sự hiệp một, vui vẻ cùng hầu việc, nhưng để nhắc nhở về một điều có thể dễ dàng phá vỡ sự hiệp một, chia rẽ và làm tan rã hội thánh ĐCT. Ai làm điều này thì họ không phải chỉ làm tổn thương anh chị em trong Chúa, tổn thương người hầu việc Chúa, nhưng còn mắc tội cùng ĐCT.
Quan trọng hơn là mỗi qv cần phải là Ti-mô-thê, là Ba-na-ba, những người tận tâm, trung tín nâng đở, trợ giúp người hầu việc Chúa.
VỀ SỨ ĐỒ KHOE MÌNH TRONG SỰ YẾU ĐUỐI
Bên cạnh những thành quả to lớn, PL cũng được ĐCT khải thị để biết việc phải làm. Đặc biệt hơn hết ông được ĐCT cất lên từng trời thứ ba, được đem lên đến chốn Ba-ra-đi, ở đó, nghe những lời không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra. (2 Cô-rinh-tô 12:4).
Nếu ai có thể tự hào, kiêu hãnh thì PL có thể tự hào, kiêu hãnh hơn hết. Trái lại ông viết cho hội thánh thành Cô-rinh-tô như sau: Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. 10 Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ. (2 Cor 12:9-10)
Việc PL chỉ khoe mình về sự yếu đuối dạy chúng ta điều gì? Để mỗi chúng ta luôn nhớ rằng chúng ta được cứu bởi ân điển qua đức tin, không phải bởi việc làm. Để nhắc nhớ rằng khi làm công việc Chúa, bắt chước, học đòi theo PL, làm việc với tấm lòng khiêm nhường, biết ơn về tình yêu thương quá lớn của Chúa. Để nhắc nhớ rằng khi bước đi trong Chúa, khi làm việc Ngài, chúng ta chớ dựa vào tài năng, sức lực, sự khôn ngoan của mình nhưng phải nương tựa vào Chúa. Để biết rõ rằng chúng ta cần anh chị trong Chúa để cộng tác, giúp đở, động viên, tương trợ nhau, để giúp đở nhau mà sống đời sống đạo, mà hầu việc Chúa. Để không ai có thể khoe khoang về mình, hảnh diện về công sức, thành quả đạt được. Để nhắc nhớ rằng ĐCT dùng những người yếu đuối cho công việc Chúa.
Đây là những người ý thức về lỗi lầm, về vấp phạm, về thiếu sót, về yếu điểm khi làm công việc Chúa. Khi PL nhận ông là người yếu đuối thì không phải ông không biết về sức mạnh, về ân tứ, về khả năng, về thành quả Chúa ban. Nhưng chúng ta đừng hiểu lầm yếu đuối với nhu nhược, khiêm nhường với tự ti, nhu mì với hèn nhát.
Năm
Sự Kiện
c. 30
ĐCJC bị đóng đinh, chết, ba ngày sau sống lại. Chúa ban phát Đại Mạng Lệnh rồi trở về trời
c. 33
Phao-lô được cứu
47-48
Chuyến truyền giáo thứ nhất cùng Ba-na-ba
48
Thư gởi hội thánh Ga-la-ti
49-50
Chuyến truyền giáo thứ hai
50
Thư gởi hội thánh Thê-sa-lô-ni-ca (1 & 2)
50-52
Phao-lô ở thành Cô-rinh-tô
52-55
Chuyến truyền giáo thứ ba
52-55
PL ở thành Ê-phê-sô 3 năm
55-56
Thư gởi hội thánh Cô-rinh-tô (1 & 2)
Đầu 57
Thư gởi hội thánh La-mã
~09/59
PL bị giải đi thành La-mã
60-62
PL bị giam tại thành La-mã
Các lá thư trong ngục: Phi-lê-môn, Cô-lô-se, Ê-phê-sô và Phi-líp
65
PL được thả, thăm viếng Spain
Thư 1 Ti-mô-thê và Tít
66-67
PL bị bắt tại thành Trô-ách và giam tại La-mã lần thứ hai
Giữa 67
Thư 2 Ti-mô-thê
Cuối 67-đầu 68
PL bị xử chết
