Những Câu Hỏi Phải Chi – Phải Chi… Đừng Tranh Cãi (2)
Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, cùng ra khỏi U-rơ, thuộc xứ Canh-đê, hướng đến Ca-na-an. Nhưng khi đến Cha-ran thì họ định cư tại đó. 32Tha-rê hưởng thọ được hai trăm lẻ năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran. (STK 11:31-32)
Một ngày như mọi ngày tại thành Cha-ran, Lót bỗng thấy bác mình là Áp-ram chuẩn bị đồ đạc như chuẩn bị cho một chuyến đi. Lót hỏi Áp-ram: Bác định đi đâu vậy? Áp-ram cười rồi trả lời: Bác cũng không biết mình đi đâu! Lót vô cùng ngạc nhiên, rồi hỏi: Mà ai kêu bác phải đi? Áp-ram trả lời: Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Hãy ra khỏi quê hương, bà con thân tộc và nhà cha của con để đi đến vùng đất Ta sẽ chỉ cho con. (STK 12:1).
Lót có biết và thấy Áp-ram thờ phượng ĐGHV. Trong 30 năm sống với Áp, nhiều lần bác có nói với Lót về Đấng này, nhưng Lót chẳng màng gì đến. Lót nghĩ thầm: thật lạ lùng, ĐGHV này lại truyền đạt ý của Ngài cho Áp. Trong thành Ha-ran này và U-rơ xứ Canh-đê Lót thấy biết bao nhiêu bàn thờ trên đó có hình tượng các thần, đủ loại, đủ cở, bằng đủ thứ vật liệu: gỗ, đá, đất xét. Lót chưa bao giờ biết các thần đó nói gì với những người thờ thần. Mà cũng đúng, đời nào một khúc gỗ, một tảng đá khắc thành thần mà có thể nói được. Nhưng bàn thờ bác Áp lập hoàn toàn không có hình tượng gì cả. Khi Lót hỏi, bác giải thích vì không có hình tượng nào do tay con người làm ra xứng đáng là biểu tượng, hình ảnh của ĐGHV, là Đấng sáng tạo muôn loài vật, kể cả con người, chứ không phải là sáng tạo từ ý nghĩ của con người.
Lót hỏi tiếp: ĐGHV gọi bác đi để làm gì? Áp cho biết lời hứa của Chúa: Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn, Ta sẽ ban phước cho con, Làm rạng rỡ danh con, Và con sẽ thành một nguồn phước. (STK 12:2). Lót định nói: dân lớn! Bác Áp đã 75 còn bác gái Sa-rai đã 65 vẫn chưa có con thì làm sao có thể thành một dân lớn? Thật vô lý! nhưng nhớ việc son sẻ là nỗi buồn lớn của hai bác nên không nói.
Lót suy đi nghĩ lại: mình đã ở thành Ha-ran này bao lâu rồi! Bác Áp-ram là người rất tốt, kính sợ ĐCT, luôn đổi xử với mình và mọi người rất tử tế và rộng rãi. Lại nữa mình cũng muốn mạo hiểm đi với hai bác đi mà không biết đi đâu để xem đất mới thế nào. Cuối cùng Lót quyết định đi với bác Áp.
Áp-ram ra đi theo lời Đức Giê-hô-va đã phán bảo; Lót cùng đi với ông. Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi rời Cha-ran. 5Áp-ram đưa Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, tất cả tài sản dành dụm được, và các gia nhân đã có tại Cha-ran, đến xứ Ca-na-an. (12:4-5) [Map]
Khi sống tại U-rơ xứ Canh-đê hay Cha-ran, Lót và Áp sống trong nhà và trong thành. Nhà là nơi cố định, không di chuyển; thành với cổng kính, tường cao là sự bảo vệ chắc chắn đem lại giấc ngủ ngon ban đêm vì không sợ bị thú dữ hay trộm cướp tấn công. Nhưng nếu đi với Áp, Lót biết mình sẽ sống trong lều trại. Đi đến đâu, dựng lề đến đấy. Lều trại chỉ là nơi ở tạm bợ. Hơn thế nữa, họ không còn có thành và dân đông trong thành bảo vệ. Chuyến đi xa này đầy nguy hiểm, khó khăn.
Nguy hiểm vì thú dữ và trộm cướp độc ác ngày đêm có thể tấn công, giết họ lấy của. Khó khăn vì có lúc sẽ lúc không đủ thức ăn, nước uống. Thức ăn, nước uống cũng không dễ tìm như khi còn sống trong thành. Thời đó chưa có Google Map để hỏi: supermarket nào gần địa điểm đang đi; trạm xăng nào; McDonald, Chick-fil-A nào? Hễ đi đến đâu có thức ăn, nước uống thì phải mua sắm, dự trữ lương thực, nước uống vì không biết khi nào mới đến một nơi khác có thức ăn, nước uống để mua.
Cuối cùng sau mấy tháng đi đường họ đến xứ Ca-na-an (STK 12:5) Khi đến xứ Ca-na-an, ĐGHV vẫn chưa ban cho Áp những gì từ lời Ngài hứa. Dù vậy Áp vẫn lập nhiều bàn thờ tại nhiều nơi khác nhau để bày tỏ lòng biết ơn và lòng thờ phượng ĐGHV. Từ STK 12-15 KT cho biết Ạ lập ít nhất 3 bàn thờ cho ĐCT. Hình ảnh bàn thờ đây không phải như bàn thờ trong nhà người Phật giáo, hay Công giáo, nhưng là sự thể hiện của lòng tôn kính Đấng đã gọi ông. Đầu tiên, Áp-ram lập một bàn thờ cho ĐGHV, là Đấng đã hiện ra với ông, không phải Đấng đã cho ông những điều Ngài hứa. Bàn thờ Ạ lập để nhắc ông và gia đình về Đấng làm chủ đời sống, Đấng đáng tôn thờ.
KT cho biết lần thứ 2 Ạ lập bàn thờ cho ĐCT giữa 2 nơi là Bê-tên và A-hi. Bê-tên có nghĩa là nhà ĐCT, A-hi có nghĩa là nơi đổ nát. Bê-tên về phía Tây, A-hi về phía Đông. Khi Ạ lập bàn thờ giữa Bê-tên và A-hi thì mặt ông hướng về nhà ĐCT và lưng ông về nơi đổ nát. Đây là biểu tượng của người thờ phượng ĐCT rằng khi họ hướng về ĐCT thì phải xoay lại với thế gian. Người tin Chúa không thể một bên hướng về Chúa, một bên về thế gian. Nhưng Lót không tin điều này và nghĩ mình có thể được cả hai. Lần thứ 3 là sau khi Lót rời Ạ để chọn cho mình một con đường hoàn toàn khác với chú mình.
NHƯỢNG QUYỀN THAY VÌ TRANH CÃI
Nạn đói lớn xảy ra trong xứ Ca-na-an buộc Áp quyết định cả đoàn phải xuống xứ Ai-cập để có thóc lúa mà ăn. KT cho biết sau khi từ xứ Ai-cập trở về lại Ca-na-an, thì cả hai chú cháu trở nên giàu có. Áp-ram ở Ê-díp-tô dẫn vợ cùng các tài vật mình và Lót đồng trở lên Nam phương. 2 Vả, Áp-ram rất giàu có súc vật, vàng và bạc. 3 người vừa đi vừa đóng trại, từ Nam phương trở về Bê-tên và A-hi, 4 là nơi đã lập một bàn thờ lúc trước. Ở đó Áp-ram cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va. 5 Vả, Lót cùng đi với Áp-ram, cũng có chiên, bò, và trại. (STK 13:1-5)
Thay vì tranh cãi, Áp chủ động đến với Lót để hòa giải. Thay vì nghĩ rằng vì vai vế lớn hơn Lót, nên Á có thể buộc Lót phải đi nơi này nơi khác. Trái lại, Ạ nhượng quyền của mình để L. lựa chọn. Tại sao Ạ lại nhượng quyền mình cho cháu? Vì chúng ta là cốt nhục, người thân trong gia đình. Vì lý do này Ạ quyết định để L. chọn nơi nào mắt thấy và lòng ông mong muốn. Vậy, Áp-ram nói với Lót: “Chúng ta là cốt nhục, giữa bác và cháu, giữa những người chăn bầy của bác và của cháu, đừng tranh chấp nhau nữa. 9Toàn vùng chẳng phải đang ở trước mặt cháu đó sao? Cháu hãy rời khỏi bác. Nếu cháu chọn bên trái, bác sẽ sang bên phải; nếu cháu chọn bên phải, bác sẽ sang bên trái.” (STK 13:8-9)
Áp xem trọng tình cốt nhục hơn đất đai, tài của. Nhưng Lót chỉ nghĩ đến đất đai, tài sản. Và đây là câu KT quyết định ngã rẽ cuộc đời của Lót: Lót bèn ngước mắt lên, thấy khắp cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh, là nơi (trước khi Đức Giê-hô-va chưa phá hủy thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ) thảy đều có nước chảy tưới khắp đến Xoa; đồng ó cũng như vườn của Đức Giê-hô-va và như xứ Ê-díp-tô vậy. 11 Lót bèn chọn lấy cho mình hết cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh và đi qua phía Đông. Vậy, hai người chia rẽ [tay] nhau. 12Áp-ram ở trong xứ Ca-na-an, còn Lót ở trong thành của đồng bằng và dời trại mình đến Sô-đôm. (13:10-12) Lót chọn với mắt của thể xác; Ạ chọn với mắt tâm linh.
Quyết định nhượng quyền của Áp, và quyết định chọn đất của Lót cũng nhằm để dạy chúng ta về câu trả lời của cuộc tranh chấp giữa vật chất và tâm linh. Điều gì quan trọng hơn, quí giá hơn? ĐCJC dạy tâm hồn giá trị ngàn lần hơn tất cả vật chất thế gian: nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn thì có ít gì? Nhưng xã hội, học đường ngày nay, dù tại đây hay VN dạy rằng vật chất nhất định hơn tâm linh, điều thấy được quan trọng hơn điều không thấy được. Mọi người đều thấy rằng thực tế trước mắt xã hội hôm nay đã thắng lời KT dạy trong cuộc tranh chiến giữa 2 ý nghĩ: vật chất thắng tâm linh.
Đại văn hào Nga Leon Tolstoy viết một câu chuyện ngắn có tựa là: Bao nhiêu đất một người cần (đòi có cho bằng được)? (How much land does a man require?) Chuyện kể về một người nông dân tên Pahom. Có lần ông nghe vợ và chị vợ nói chuyện với nhau về lợi hại giữa cuộc sống nơi thành thị và thôn quê. Nghe vậy Pahom nói với chính mình: nếu tôi có được nhiều đất đai, thì ngay cả Sa-tan, ma quỉ tôi cũng không sợ. Không ngờ ma quỉ nghe được lời này.
Pahom rất tham muốn được đất nên cố gắng hết sức để làm lụng khó nhọc, mong mua được đất cho chính mình, thay vì phải làm trên đất thuê mướn của người khác. Cuối cùng ông mua được một miếng đất nhỏ cho chính mình. Một ngày Pahom được giới thiệu đến gặp người Bashkirs, là những người rất đơn giản nhưng cũng là chủ của hàng ngàn mẫu đất mênh mông, bao la.
Khi Pahom hỏi giá cả, điều kiện để mua đất thì họ có một điều kiện rất lạ lùng: trả 1000 rubles thì Pahom có thể làm chủ toàn bộ các mẫu đất mà ông đi một vòng từ sáng sớm cho đến chiều tối. Bắt đầu từ một điểm, P. có thể đi bất cứ hướng nào, bao xa miễn khi mặt trời lặng thì ông phải trở về lại điểm bắt đầu. Nếu không ông sẽ mất tất cả tiền. Nghe điều kiện này Pahom vui lắm vì chắc rằng lần này ông sẽ có được biết bao nhiêu mẫu đất chỉ với giá rẽ.
Đêm hôm đó Pahom có một giấc mơ rất kỳ lạ: Pahom nằm chết dưới chân của ma quỉ đang cười lớn tiếng. Sáng sớm hôm sau, P. bắt đầu. Ông cố gắng đi thật xa, thật nhanh từ điểm khởi đầu. Nắng cháy da P. vẫn tiếp tục đi. Đến khi trời xế chiều, P. mới nhận ra rằng mình đã đi quá xa điểm khởi đầu. Nên cố gắng hết sức chạy thật nhanh để về kịp điểm khởi đầu trước khi mặt trời lặng. Từ đàng xa, ông thấy đám đông người Bashkirs reo hò, cỗ võ hãy cố lên, cố lên, nhanh hơn, nhanh hơn. Khi mặt trời vừa lặng, thì Pahom cũng trở về lại nơi khởi đầu. Nhưng vì phá sức, Pahom ngã chết ngay nơi bắt đầu. Đầy tớ của Pahom chôn ông với 6 feet đất. Đây là tất cả đất một người cần có!
Chúng ta có thể thấy quá trình đi xuống qua quyết định L. Đầu tiên Lót nhìn về hướng thành Sô-đôm (câu 10). Kế đến câu 12 cho biết Lót dời trại đến gần Sô-đôm dù biết rằng S. là thành tội lỗi, như lời KT viết: Vả, dân Sô-đôm là độc ác và kẻ phạm tội trọng cùng Đức Giê-hô-va. (13:13) Rồi theo thời gian Lót quyết định cùng cả gia đình dọn vào thành Sô-đôm và định cư trong thành đó: 2Họ cũng bắt cháu của Áp-ram là Lót, đang sống ở Sô-đôm, đem đi cùng với gia sản của ông. (14:12).
Khi ĐCT quyết định hủy diệt 2 thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ (STK 19), Ngài nhớ đến lời cầu xin của Ạ mà sai hai thiên sứ đến Sô-đôm đến cứu Lót và gia đình. Chiều tối, hai thiên sứ đến thành Sô-đôm, Lót đang ngồi tại cổng thành. Bây giờ không chỉ sống trong thành, nhưng Lót còn là người có chức vị trong thành. Từ Nhìn, rồi đến ở gần, ở trong, sống luôn thành người có chức sắc trong thành.
Lót nhìn thấy cánh đồng màu mở, tươi tốt như vườn địa đàng, nhưng cuối cùng sống trong một thành phố tội lỗi đến nỗi ĐCT hủy diệt mọi dân trong thành, ngoại trừ gia đình Lót. Vợ Lót vì nuối tiếc khi chạy khỏi thành còn quay đầu lại trở nên tượng muối. Lót với hai người con gái trốn đến một hang đá trên núi. Và tại đó, hai con gái Lót phục rượu cha mình rồi ăn nằm cùng ông. Chúng ta hỏi hai con gái Lót học điều này từ đâu? Tôi tin học từ dân trong thành Sô-đôm.
Lót chọn vật chất, chọn theo mắt nhìn của đời này. Rồi được gì? Sự nghiệp cả đời, danh dự cả đời mất hết. Ạ chọn đi theo tiếng Chúa gọi, chọn theo mắt tâm linh. Ạ trở nên tổ phụ dân tuyển Ỵ, tổ phụ đức tin cho tôi và qv, những người tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa đời sống. ĐCT ban ơn phước cho chỉ cho Ạ mà còn cho cả con cháu, hậu tự ông ngàn năm sau.
Áp không hề tranh cãi với cháu mình mà nhượng quyền mình có để giữ hòa thuận. Còn qv thì sao? Nắm giữ quyền, tranh cãi rồi mất luôn tình thân cốt nhục trong gia đình, tình anh chị em trong HT?
Con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh. The apple does not fall far from the tree – Y-sắc học gương nhường nhịn của cha mình thay vì tranh cãi, tranh chấp. Y-sắc là con lời hứa của ĐCT ban cho Áp & Sa-ra. Y-sắc học từ cha mình tính nói dối vì sợ chết (Áp-ra-ham STK 12:10-20; 20:1-18; Y-sắc: 26:6-11). Nhưng Y-sắc cũng học từ cha mình tính nhường nhịn thay vì tranh cãi.
1. Sau khi Ỵ trở nên giàu có, dân Phi-lí-tin ghen tị. Rồi họ làm gì? Ông có nhiều bầy chiên, bầy bò và rất nhiều đầy tớ nên bị người Phi-li-tin ghen tị. 15Tất cả những giếng mà trước đây các đầy tớ của Áp-ra-ham, cha ông, đã đào, bây giờ đều bị người Phi-li-tin lấy đất bít lại. (STK 26:14-15) – lần 1 bị phá giếng
2. Sau đó, vua lại đuổi ra khỏi xứ: A-bi-mê-léc nói với Y-sác: “Ngươi hãy rời xa chúng ta, vì ngươi đã trở nên quá hùng mạnh so với chúng ta.” 17Vậy, Y-sác bỏ nơi ấy, đến đóng trại tại thung lũng Ghê-ra và cư ngụ tại đó. (26:16-17) – lần 2 bị đuổi, phải bỏ đi
3. Tại đó 18Y-sác đào lại mấy cái giếng đã đào trong đời Áp-ra-ham, cha mình. Các giếng ấy đã bị người Phi-li-tin lấp lại sau khi Áp-ra-ham qua đời. (18) – lần 3: lại bị phá lấp giếng
4. 19Nhưng khi các đầy tớ của Y-sác đào giếng trong thung lũng và gặp được một mạch nước phun, 20thì những người chăn chiên ở Ghê-ra đến tranh giành với các người chăn chiên của Y-sác. Họ nói: “Mạch nước nầy là của chúng tôi”, nên ông đặt tên giếng nầy là Ê-sết (tranh chấp), vì họ đã tranh giành với ông. (19-20) – lần 4: lại bị tranh giành, chiếm đoạt
5. Y-sắc làm gì? Một lần nữa: 21Sau đó, các đầy tớ đào một giếng khác và cũng bị tranh giành, nên ông đặt tên giếng nầy là Sít-na (thù ghét) – lần 5: đào giếng, lại bị tranh giành, thù ghét rồi chiếm đoạt
6. Y-sắc làm gì? 22Y-sác bỏ chỗ đó đi đào một giếng khác và giếng nầy không bị tranh giành, nên ông đặt tên là Rê-hô-bốt, và nói: “Bây giờ Đức Giê-hô-va đã cho chúng ta chỗ ở rộng rãi, và chúng ta sẽ được thịnh vượng trong xứ nầy.” – Mãi đến lần thứ 6, Y-sắc mới được bình an và được ĐCT ban phước dồi dào: chỗ ở rộng rãi, và chúng ta sẽ được thịnh vượng trong xứ nầy
Y-sắc tin rằng vấn đề, giải quyết nằm trong tay ĐCT. Nếu thuận ý Chúa và đúng thời điểm, Chúa ban cho. Nếu nghịch ý và sai thời điểm, Chúa sẽ giữ lại.
KINH THÁNH DẠY GÌ VỀ SỰ TRANH CÃI
ĐCT ghét người gây sự tranh cãi: đi đến đâu tranh cãi đến đó, hay làm cho người ta tranh cãi với nhau: Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét và bảy điều Ngài ghê tởm: 17Mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ máu vô tội, 18Lòng mưu toan những việc ác, chân vội vàng chạy đi làm điều dữ, 19Kẻ làm chứng gian và nói điều dối trá, người gieo tranh cãi giữa anh em. (CN 6:16-19)
Sứ đồ Gia-cơ khẳng định: Trong anh em, ai là người khôn ngoan, hiểu biết? Hãy dùng lối sống tốt đẹp của mình mà bày tỏ những việc mình làm xuất phát từ sự khiêm nhu của lòng khôn ngoan. 14Nhưng nếu anh em ghen ghét một cách đắng cay và tranh cạnh trong lòng, thì chớ khoe khoang hay dùng lời dối trá chống lại chân lý. 15Sự khôn ngoan đó không đến từ thiên thượng, nhưng thuộc về thế gian, xác thịt và ma quỷ. 16Vì ở đâu có sự ghen ghét và tranh cạnh thì ở đó có sự xáo trộn và đủ mọi việc ác. 17Nhưng sự khôn ngoan từ thiên thượng thì trước hết là thanh sạch, rồi hiếu hòa, dịu dàng, nhường nhịn, đầy lòng thương xót và bông trái tốt lành, không chút thành kiến hay giả dối. 18Những người giải hòa thì gặt hái bông trái công chính đã gieo trong hòa bình. (Gia-cơ 3:13-18)
Chỉ vài câu KT trước đó, CN định nghĩa kẻ gian trá, độc ác là người Kẻ vô lại, kẻ độc ác; là kẻ ăn không ngồi rồi, miệng buông lời dối trá... Lòng đầy gian tà, hắn mưu toan điều ác, lúc nào cũng gieo điều tranh cãi. (CN 6:12, 14). Ít nhất 15 lần, CN dạy về sự tranh cãi: 6:14, 19;
Sự thù ghét sinh ra tranh cãi, lòng yêu thương khỏa lấp mọi tội tình. (10:12);
CN 13:10
Sự kiêu ngạo chỉ sinh ra điều tranh cãi,Còn sự khôn ngoan ở với người chịu nghe lời khuyên dạy.
7.Châm-ngôn 15:18
Kẻ nhạy giận thường gây xung đột,Nhưng người chậm giận làm yên cuộc tranh cãi.
8.Châm-ngôn 17:1
Thà một miếng bánh khô mà hòa thuậnCòn hơn là nhà đầy thịt tế lễ lại tranh cãi nhau.
9.Châm-ngôn 17:14
Khởi đầu cuộc tranh chấp như khai nguồn nước chảy;Vậy hãy thôi tranh cãi trước khi nó bùng nổ.
10.Châm-ngôn 18:6
Môi kẻ ngu dại gây ra cuộc tranh cãi,Miệng nó xúi giục chuyện đánh nhau.
11.Châm-ngôn 20:3
Người tránh khỏi điều tranh cãi đáng được tôn trọng;Chỉ những kẻ ngu dại mới lao vào đó.
12.Châm-ngôn 22:10
Hãy đuổi kẻ nhạo báng, thì sự cãi lẫy cũng sẽ ra đi;Sự tranh cãi và lăng nhục sẽ chấm dứt.
13.Châm-ngôn 26:17
Kẻ nổi giận về cuộc tranh cãi không liên hệ đến mìnhKhác nào người nắm tai của con chó chạy rông.
14.Châm-ngôn 26:20
Lửa tắt vì thiếu củi;Không có kẻ mách lẻo, cuộc tranh cãi cũng ngưng.
15.Châm-ngôn 28:25
Kẻ tham lam gây ra sự tranh cãi,Nhưng người tin cậy Đức Giê-hô-va sẽ được hưng thịnh.
16.Châm-ngôn 29:22
Người hay giận gây ra điều tranh cãi,Kẻ nóng tính phạm rất nhiều tội lỗi.
17.Châm-ngôn 30:33
Ép sữa làm ra sữa đông,Và đấm vào mũi làm cho phun máu;Cũng vậy, chọc giận sinh ra điều tranh cãi.
KT dạy rất rõ chớ bao giờ tranh cãi với ĐCT nhưng chấp nhận quyết định, ý chỉ của Chúa. Cũng chớ tranh cãi với cha mẹ mình: 9Khốn cho kẻ tranh cãi với Đấng tạo nên mình! Nó chỉ là một bình trong các bình bằng đất! Đất sét có thể nào hỏi thợ gốm, là người nặn ra nó rằng: “Ông đang nặn ra hình gì?” Hoặc nói: “Sản phẩm tay ông làm ra không được khéo”? 10Khốn cho kẻ dám hỏi cha mình: “Ông sinh ra cái gì?”Hoặc hỏi mẹ: “Bà mang nặng đẻ đau làm gì?” (Ê-sai 45:9-10)
Đừng tranh cãi với người Chúa chọn. Như Ma-ri-am và A-rôn tranh cãi với Mô-se Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về người nữ Ê-thi-ô-pi mà ông đã cưới vì ông đã cưới một người Ê-thi-ô-pi làm vợ. 2Hai người nói rằng: “Đức Giê-hô-va chỉ phán qua Môi-se thôi sao? Không phải Ngài cũng phán qua chúng ta nữa sao?” ĐCT khiến cho Mi-ri-am bị phong hủi và phải ra khỏi trại biệt lập trong 7 ngày.
Cô-ra, con trai của Dít-sê-ha, cháu của Kê-hát, chít của Lê-vi, lôi kéo Đa-than và A-bi-ram, con trai của Ê-li-áp, và Ôn, con trai của Phê-lết, cháu Ru-bên, 2nổi lên chống lại Môi-se. Cùng với họ có hai trăm năm mươi người trong dân Y-sơ-ra-ên vốn là những thủ lĩnh của hội chúng, là những người được tuyển chọn và có danh tiếng; 3họ cấu kết với nhau chống lại Môi-se và A-rôn. Họ tố cáo: “Các người quá lắm rồi! Vì cả hội chúng đều là thánh và Đức Giê-hô-va đang ngự giữa chúng ta. Vậy tại sao các người tự nhấc mình lên trên hội chúng của Đức Giê-hô-va?”(16:1-3) Hậu quả: đất nứt nuối cả 4 người và gia đình; 250 bị Đức Giê-hô-va thiêu đốt bằng lửa.
PL dạy trong 1 Cô-rinh-tô 3:3 vì anh em vẫn còn thuộc về xác thịt. Bởi trong anh em vẫn có sự ganh tị, tranh chấp; như vậy, chẳng phải anh em thuộc về xác thịt và cư xử như người đời sao?
PL dạy Ti-mô-thê phải hết sức tránh những việc tranh cãi về những chuyện huyễn hoặc và những gia phả bất tận, những điều nhầm tưởng là tri thức (1 Tim 1:4; 6:20). PL cũng dạy Tít: hãy tránh những cuộc tranh cãi dại dột, những vấn đề gia phả, những sự bất hòa và những tranh luận về luật pháp; vì những điều nầy đều vô ích và chẳng có giá trị gì. (Tít 3:9). Tóm lại: Đầy tớ của Chúa không được ham tranh cãi, nhưng phải thân thiện với mọi người, có tài dạy dỗ, nhịn nhục (2 Tim 2:24)
Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. (Rô-ma 12:18)
Vậy chúng ta hãy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau. (Rô-ma 14:19)
Chúng ta nhớ ĐCJC không hề tranh cãi với ma quỉ khi bị cám dỗ nhưng dùng lời Chúa để chống lại và vượt qua cám dỗ.
