Người Được Hưởng Phước (1) – Ma-thi-ơ 5:1-12
Ai trong đời cũng muốn được hưởng phước. Vì vậy người Việt chúng ta thường khen những người thành công, gia đình có con cái thành đạt là người được phước. Tết đến người Hoa sống ở Chợ Lớn, Sài Gòn có tục lệ dán chữ Phước ngoài nhà, nhưng lại dán ngược. Tại sao lại dán ngược?
Có người giải thích bởi vì phước lành không do con người tự tạo ra mà từ trời đỗ xuống. Cũng có người giải thích rằng: Tục dán ngược chữ Phúc (Phước) bắt nguồn từ Phủ Cung Thân Vương đời nhà Thanh. Năm ấy, vào dịp trước Tết, viên quản gia nọ muốn lấy lòng gia chủ, theo lệ thường, viết vài chữ Phúc (Phước) thật lớn, sai đám gia nhân dán ở nhà kho, và cổng lớn của Vương Phủ. Một gia nhân, do không biết chữ, đã dán ngược chữ Phúc (Phước) ở cổng lớn. Cung Thân Vương là Phúc Tấn, sau khi nhìn đã cả giận, bèn lệnh cho phạt roi gia nhân. Một mặt là trừng phạt người có lỗi, một mặt để cảnh cáo những gia nhân khác, làm ăn phải cẩn thận. Viên quản gia thuộc loại mồm mép (lanh miệng), vốn sợ bị liên lụy, vội cúi xuống thưa với gia chủ: "Nô tài thường nghe nói, Cung Thân Vương thọ cao, phúc dày, nay đại phúc đã "dào" đúng là điềm lành đó." (Trong tiếng Hán, âm "dào" vừa có nghĩa là "ngược", vừa có nghĩa là "đến"). Cung Thân Vương nghe xong thấy có lý, bụng nghĩ "Hèn chi, người đi qua phủ Cung Thân Vương đều nói, Phủ Cung Thân Vương Phúc (Phước) "dào" (đến) rồi! Sau đó, ông ta bèn thưởng cho quản gia và gia nhân, mỗi người 50 lạng bạc. Về sau, tập tục dán ngược chữ Phúc (Phước) đã truyền từ Vương Phủ đến tận nhà dân. Sau khi dán xong, ai nấy đều mong có người đi qua, để đọc câu: "Phúc đến rồi! Phúc đến rồi!..." để cầu may mắn.
Nhưng chúng ta hỏi: Phước là gì? Theo người đời người được phước là người được thành công, người có sắc đẹp, người có nhiều tiền của, nhà cao, cửa rộng; người được phước là người sống lâu trăm tuổi, sức khỏe dồi dào (vì vậy mà các em trong Hội thánh thường chúc tôi: sống lâu trăm tuổi, sức khỏe dồi dào, tiền vô như nước!); người được phước là người có con cháu thảo hiếu, nuôi nấng, chăm sóc, phụn g dưỡng lúc tuổi già bóng xế, là người có con trai lẫn con gái học hành đến nơi đến chốn, làm ăn phát đạt, có con cháu đầy đủ. Nói chung theo người đời người được phước là người có đầy đủ tất cả về vật chất khi so sánh với mọi người chung quanh. Nếu không có sự so sánh thì thế nào biết là mình được phước?
Vì định nghĩa này của chữ phước (phúc) mà nhiều người muốn tin Chúa lại chần chừ, do dự, thậm chí không muốn tin khi đọc BGTN của ĐCJC trong Ma-thi-ơ 5, nhất là khi Chúa luận bàn về các phước lành, mở đầu với câu Phước cho những kẻ có lòng khó khăn (nghèo khổ về tâm linh), vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi! Đến nỗi tín đồ, con cái Chúa đọc những lời này cũng hơi run vì nó trái lại hoàn toàn với chữ phước theo người đời.
Có phải ĐCJC dạy chỉ có khi chúng trở nên nghèo, hay khóc lóc thường thì mới được phước? Câu trả lời sẽ ở trong phần tới của bài giảng. Nhưng một điều rất rõ là được phước của ĐCT khác với được phước theo người đời. Vì lý do này nên nhiều tín đồ thà được phước từ đời còn hơn được phước từ trời.
AI SẼ NHẬN ĐƯỚC PHƯỚC
Dù ai cũng muốn được phước nhưng không phải ai cũng nhận được phước. Muốn là một chuyện nhưng được lại là một chuyện khác. Thường thì người chỉ muốn mà không làm gì thì ít khi nhận được. Muốn được điểm cao trong lớp mà không rán học thì vô ích; muốn đi nghĩ hè mà không có thời gian, không có tiền bạc thì dù có muốn đến mấy vẫn sẽ không xảy ra.
Thế nhưng thường dù tất cả đều muốn được phước từ ĐCT nhưng rất ít người nghĩ đến việc làm thế nào để nhận được những phước đó. Chúng ta thường nghĩ khi tin Chúa rồi thì chắc chắn chúng ta sẽ được phước. Không phải như vậy. Dù KT có những lời hứa vô điều kiện từ ĐCT cho dân Ngài nhưng KT cũng gồm những lời hứa có điều kiện. Khi ĐGHV hứa cùng Áp-ra-ham sẽ cho ông con cháu đông như sao trên trời, như cát dưới biển, sẽ cho ông đất và từ dòng dõi ông cả dân trên đất sẽ có Đấng Cứu Tinh, đó là lời hứa vô điều kiện. Nhưng ĐCT cũng hứa với dân Ngài sẽ ban cho con cháu, hậu tự phước khi họ vâng giữ những lời răn. Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài; và Ngài báo ứng nhãn tiền cho những kẻ ghét Ngài, mà hủy diệt chúng nó đi. Ngài không trì hoăn cùng kẻ nào ghét Ngài đâu, sẽ báo ứng nhăn tiền cho kẻ đó. Vậy, khá cẩn thận làm theo những điều răn, luật lệ, và mạng lịnh mà ta truyền cho ngươi ngày nay. Nếu ngươi nghe các luật lệ nầy, và gìn giữ làm theo, thì đối cùng ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ giữ lời giao ước và sự thương xót mà Ngài đă thề cùng tổ phụ ngươi. Ngài sẽ yêu mến ngươi, ban phước cho ngươi, gia tăng ngươi, ban phước cho con cái ngươi, cho thổ sản ngươi, cho ngũ cốc, rượu, và dầu của ngươi, cho lứa đẻ của ḅ cái, chiên cái ngươi sai đông trên đất mà Ngài đă thề cùng tổ phụ ngươi, để ban cho ngươi. (PTLLK 7:9-13).
Tám phước trong BGTN của ĐCJC là lời hứa có điều kiện. Để nhận những phước này chúng ta phải làm theo, sống theo tiêu chuẩn, giữ theo điều kiện Chúa nêu ra. Vì vậy khi kết luận BGTN ĐCJC nhấn mạnh rằng người nào nghe những lời dạy này mà không làm theo thì như người cất nhà trên cát, tức sẽ không được phước. Dù sự cứu rỗi không có điều kiện, nhưng để nhận phước từ ĐCT phải có điều kiện. Vậy người nhận được phước từ Chúa là người giữ, làm theo điều Chúa dạy, chứ không phải người chỉ nghe hay chỉ đọc.
ĐỂ ĐƯỢC NHẬN PHƯỚC
Trong phần đầu tiên của BGTN ĐCJC dạy các môn đồ làm thế nào, điều kiện gì để họ được phước, và các phước đó là gì. Đức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đă ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng. Chúa lên núi để có nơi cao mà giảng cho đoàn dân đông, hay lên núi để tránh đoàn dân? Phần nhiều các học giả KT nghĩ rằng Chúa lên núi để tránh đoàn dân. Nếu vậy BGTN này trong Ma-thi-ơ chủ yếu dành cho các môn đồ (gồm cả sứ đồ và nhiều môn đồ theo Chúa). Lu-ca 6 rõ hơn là sau khi chọn 12 sứ đồ Chúa xuống núi và dạy cho đoàn dân đông về những điều tương tự như Ma-thi-ơ 5. Vậy các sứ đồ và nhiều môn đồ nghe Chúa dạy ít nhất hai lần về những điều này. Ba động từ quan trọng:
Ngồi, mở miệng nói lên sự nghiêm trọng của thời gian đó, khi Chúa dạy và cá môn đồ lắng nghe. Cũng nói lên tầm quan trọng, giá trị của những lời Chúa dạy cho các môn đồ.
Dạy - thể bán khứ (imperfect) chứ không phải quá khứ đơn (aorist). Quá khứ đơn dùng cho việc đã xảy ra một lần, đã xong “tôi đến nhà thờ”. Bán khứ dùng cho việc trong quá khứ lập lại nhiều lần, “tôi thường đến nhà thờ”. Từ dạy ở đâu thuộc thể bán khứ, nói lên rằng “đây là điều Chúa thường dạy họ”
Mỗi câu từ 3-12 đều bắt đầu với từ Phước thay. Hay có thể được dịch là Ô, thật là phước hạnh thay. Chữ phước trong các câu KT này là makarios. Người Hi-lạp gọi đảo Chíp-rơ thời đó là Hemakarios (giống cái) nghĩa là Đảo Hạnh Phúc. Vì đảo là nơi phì nhiêu, tốt đẹp cho cuộc sống. Nhưng từ makarios ở đây nói lên một phước hạnh bên trong lòng, không tùy thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài. Dù cảnh ngộ thế nào vẫn có được phước hạnh này từ nơi Chúa. Dù thành công hay thất bại, dù mạnh khỏe hay lúc đau yếu, dù còn hay mất, dù vui hay buồn, ơn phước của Chúa vẫn luôn ở với chúng ta.
Một bài hát chúng ta thường hát là Tâm Linh Tôi Yên Ninh Thay. Lời của bài hát được viết bởi Horatio Spafford sau khi nhiều biến cố xảy ra trong cuộc đời ông. Đứa con trai duy nhất của ông chết lúc bé chỉ mới bốn tuổi. Không lâu sau đó cơn cháy lớn tại thành phố Chicago (Great Chicago Fire) làm ông mất hết tài sản, nhà cửa. Hai năm sau đó, ông quyết định sẽ cùng gia đình sang Âu Châu nhưng vì công việc nên phải để gia đình đi trước. Trên chuyến đi đó, chiếc tàu chìm vì đụng vào một tàu khác. Tất cả bốn người con gái của ông thiệt mạng, chỉ còn người vợ sống sót. Khi đến đất liền vợ ông đánh một điện tín chỉ gồm hai chữ “Saved alone”, chỉ còn một mình sống. Spafford, sau khi nghe tin đau lòng đó, thu xếp rời Chicago để đến Anh Quốc gặp vợ mình. Khi tàu ông đi ngang qua vùng biển nơi bốn người con gái chết, xúc động, ông viết ra lời của bài hát:
Khi tôi được bình tịnh dường sông chảy theo dòng đời,
Hoặc lắm thống bi như ba đào sôi,
Hoàn cảnh dẫu ra sao, Ngài dạy cứ nói sắt đinh:
"Linh hồn ôi, ta yên ninh, thật yên ninh!"
Tâm linh tôi yên ninh thay!
Lòng tôi nay bình an thay, bình an thay!
Trong cuộc đời mỗi người chắc chắn có lúc các phước đời như sức khỏe, tài của rồi cũng sẽ mất. Lúc đó chỉ có người trong Chúa là còn lại phước Trời.
ĐCJC dạy về tám phước với tám điều kiện. Chú ý tám điều kiện chớ không phải tám loại người. Một người vẫn có thể nhận hết tám phước này nếu đúng điều kiện. Sau đây là các điều kiện và các phước:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!
Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!
Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!
Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!
Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!
Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy.
Không ai có thể có tất cả những điều kiện này để được phước. Ai dám nói mình có lòng trong sạch? Không ai có thể giữ trọn luật pháp của loài người, huống chi luật pháp ĐCT. Vì vậy PL viết: Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời; vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi. (Rô-ma 3:19-20).
Cũng vậy các phước Chúa dạy chỉ dành cho những ai thật sự ý thức rằng mình không thể nào có đủ điều kiện để nhận được. Ai nói hay nghĩ rằng với sự tập tành, với sự tu tâm, dưỡng tính tôi sẽ đạt được tiêu chuẩn trong BGTN thì thật lầm lẫn. Có ai đây chưa một lần trong đời giận hờn, oán ghét? Ai có thể đưa má bên phải khi bị tát bên má trái? Ai có thể cho luôn yêu kẻ thù nghịch cùng mình?
PHƯỚC CHO NGƯỜI NGHÈO KHÓ
Phước đầu tiên chỉ dành cho những người “có lòng khó khăn” hay “nghèo khó về tâm linh”. Ở đây ĐCJC không nói về sự nghèo khó về vật chất nhưng về tâm linh. Người nghèo khó là người ý thức rất rõ về sự thiếu thốn, điều mình không có, mong muốn, khao khát được cứu ra khỏi hoàn cảnh nghèo khó đó. Có hai chữ nói về sự nghèo khó. Penes chỉ một người phải làm việc cực nhọc, vất vả mới có ăn. Và ptochos nói về sự nghèo nàn, khốn cùng tuyệt đối. Một bên là nghèo, không có dư, nhưng bên kia nghèo có nghĩa là không có gì cả. Từ nghèo trong Ma-thi-ơ 5:3 có nghĩa nghèo đến cùng tận, hoàn toàn không có gì cả. Vậy nghèo khó về tâm linh là biết rất rõ rằng mình hoàn toàn không có gì để có thể tự cứu mình, để khoe khoang, phô trương về đạo đức, nhân cách, phẩm giá của chính mình trước ĐCT.
Chỉ có những ai ý thức rõ về sự nghèo nàn đó, nghèo đến cùng tận, không cách nào để có thể có được ngoại trừ phải hỏi xin từ ĐCT về sự cứu rỗi thì nước Trời mới thuộc về họ. Chỉ có ai ý thức về sự nhớp nhúa trong tư tưởng, trong tâm hồn, đằng sau bên ngoài đạo đức mà thống thiết van xin ĐCT tha thứ cho tội thì mới được nhận nước Trời. Hễ khi còn nghĩ rằng tôi có thể đến với Trời bằng đạo đức, công sức, việc làm tốt của tôi thì người đó chưa thật “nghèo khó về tâm linh”.
Lu-ca 18:9-14 ghi lại câu chuyện giữa người Pha-ri-sê và người thu thuế. Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thâu thuế. Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. Ai là người nghèo khó về tâm linh? Người thu thuế. Ông đứng xa đền thờ, không dám ngước mắt lên trời vì xấu hổ về tội, đấm ngực tỏ bày sự khốn khổ vì là nô lệ của tội. Rồi xin ĐCT thương xót cho ông vì ông là kẻ có tội.
Sự cứu rỗi và quan hệ với ĐCT qua ĐCJC chỉ bắt đầu từ sự ý thức về sự nghèo khó tâm linh. Không ai có thể nhận được bất cứ ơn phước nào từ Chúa cho con dân ngoài (Chúa có ân điển chung cho cả người tin hay không tin Ngài) nếu không biết rằng mình nghèo khó về tâm linh. Đây là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất để được phước từ Chúa.
Khi nghĩ về sứ đồ Phao-lô chúng ta thường nghĩ về một thánh nhân. HT Công Giáo gọi PL là thánh đồ. Nhưng quí vị có biết rằng khi PL viết cho người con tinh thần là Timôthê, ông có lời như sau: Đức Chúa Jêsus Christ đă đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. Nhưng ta đă đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời.(Timôthê 1:15-16)
Một tác giả có những lời sau đây: “Khi nào chúng ta nghĩ rằng đời sống đạo của mình khiến cho mình tốt, tốt hơn người chung quanh, thì tôi nghĩ rằng chúng ta có thể chắc chắn rằng ma quỉ đang làm việc trong đời mình, chứ không phải ĐCT. Cách thử tốt nhất để biết rằng mình đang hiện diện trước ĐCT là hoặc hoàn toàn không nghĩ gì về mình, hoặc thấy mình thật như một vật nhơ nhớp. Tốt hơn là chúng ta đừng nghĩ về mình.”
Người non nớt trong Chúa thường so sánh mình với người chung quanh. Người trưởng thành trong Chúa biết rõ về sự nghèo khó tâm linh, ý thức rõ tội lỗi trong đời mình trước ĐCT. Đó chính là những người sẽ được hưởng nước Trời.
