Lời Cuối Trên Thập Giá
Những lời cuối đời của một người vô cùng quan trọng, nếu không nói là quan trọng hơn hết. Bởi vì khi không còn nhiều thời gian thì người ta chỉ có thể nói lên những gì họ thật sự tin tưởng, những điều họ thật sự giá trị và xem là quí báu hơn hết trong đời. Trong 4 sách PA, chỉ có Giăng 13-17 ghi lại những lời dạy và cầu nguyện của ĐCJC cùng các môn đồ trong đêm cuối đời. Tức gần 1/4 sách (5/21 đoạn).
Ta ban cho các con một điều răn mới, ấy là các con phải yêu thương nhau. Thế gian sẽ nhận biết các con là môn đồ ta nếu các con yêu thương nhau. Ta đi để sắm cho các con một nơi ở hầu ta ở đâu thì các con cũng sẽ ở đó. Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai ở trong ta thì sanh lắm trái. Vì ngoài ta các ngươi chẳng làm gì được.
Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta. 16 Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. 18 Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi.
Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi.
Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi!
Đây là một vài lời vô cùng quí báu và sâu nhiệm của ĐCJC cùng các môn đồ trong đêm cuối đời, bày tỏ những điều quan trọng, giá trị, quí báu nhất với ĐCJC. Khi đọc và suy gẫm những lời này, chúng ta nhớ lại điều gì trong tận tấm lòng của ĐCJC trước khi Ngài bị phản, bị bắt, hành hạ rồi cuối cùng chết trên thập giá. Nhớ rằng Chúa yêu thương những người thuộc về Ngài cho đến giờ phút cuối cùng.
Tuy nhiên KT có viết gì về những lời cuối của Chúa trên thập giá hay không? Câu trả lời là 4 sách PA ghi lại 7 lời cuối cùng của ĐCJC trên thập giá. 7 lời cuối cùng trên thập giá. Chúng ta biết Chúa chịu treo trên thập giá trong 6 tiếng đồng hồ từ khoảng 9 giờ sáng cho đến 3 giờ chiều khi Chúa trút hơi thở cuối cùng. 7 lời cuối cùng trên thập giá trong 6 tiếng cuối cùng trong đời ĐCJC.
Theo các học giả KT thì 7 lời cuối trên thập giá theo thứ tự thời gian như sau:
Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Lu-ca 23:34
Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. Lu-ca 23:43
Xin mẹ nhận người này làm con! Đây là mẹ con! (BDM) Giăng 19:26-27
Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi? Ma-thi-ơ 27:47, Mác 15:34
Ta khát. Giăng 19:28
Mọi việc đã được trọn. Giăng 19:30
Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Lu-ca 23:46
Chúng ta có thể nhận xét rằng trong 7 lời cuối trên thập giá, 3 viết trong Lu-ca, 3 trong Giăng, và chỉ có 1 lời được ghi lại trong cả 2 PA Ma-thi-ơ và Mác là lời kêu than Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi? Bài giảng sáng nay là về ý nghĩa và bài học từ lời kêu than này của ĐCJC trên thập giá.
TIẾNG KÊU THAN
Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn. Kêu tiếng lớn cũng có thể dịch là la lớn. Trước lời này, ĐCJC như hoàn toàn tự chủ, thậm chí trầm tỉnh trên thập giá.
Trước khi treo trên thập giá, thân thể ĐCJC đã bị đòn roi tra tấn cả buổi sáng. Máu ra nhiều nên Chúa khát. Tay bị đinh đóng vào một gân chính nên vô cùng đau đớn. Khi treo trên thập giá cả sức nặng của thân trì xuống khiến người tử tội như cảm thấy chết ngột. Mỗi lời nói là một cố gắng rất lớn để kéo cả thân lên mới thốt ra được vài lời. Đây là lý do 7 lời trên thập giá rất ngắn.
Dù đau đớn cùng cực về thể xác, Chúa chỉ nghĩ đến người chung quanh. Chúa hoàn toàn tự chủ, trầm tỉnh. Thình lình Ngài cất tiếng kêu lớn, la lớn. Tiếng kêu la này như nói rằng ĐCT đã lìa bỏ Ngài, rằng ĐCT không còn ở với Ngài. Phải chăng ĐCJC hoàn toàn mất đi sự tự chủ, trầm tỉnh? Hay Chúa đã bắt đầu tan vỡ, chịu hết nỗi muốn bỏ cuộc vì sự đau đớn trên thập giá?
Nhiều học giả hoài nghi KT, câu chuyện ghi lại trong 4 PA về sự chết của ĐCJC. Tuy nhiên chi tiết về tiếng kêu lớn này là bằng chứng rằng đây là một câu chuyện thật sự xảy ra. Ma-thi-ơ và Mác chỉ ghi lại cách trung thực sự thật đã xảy ra về những giờ phút cuối đời của ĐCJC. Tại sao? Bởi vì nếu sự Chúa chết trên thập giá chỉ là một huyền thoại, một câu chuyện đặt ra bởi các môn đồ để thánh hóa ĐCJC thì tại sao họ lại ghi lại chi tiết này.
Các lãnh tụ tôn giáo khác khi chết đều hoàn toàn tự chủ, nói năng, hành động cách cao quí, đáng kính nể. Nhưng ĐCJC lại kêu lớn lời than thở, trách móc ĐCT đã từ bỏ Ngài. Hơn thế nữa lời kêu than này được cả hai Ma-thi-ơ và Mác ghi lại bằng tiếng Aramaic dù viết bằng tiếng Hy Lạp. Lý do cả hai ghi lại bằng tiếng Aramaic bởi vì ĐCJC đã thật sự thốt ra lời này theo lời nhân chứng nghe thấy và kể lại.
Vậy ĐCJC đã thật kêu tiếng lớn Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi? Chúa đã thật sự chịu chết cách đau đớn trên thập giá.
SAO NGÀI LÌA BỎ TÔI?
Tại sao Chúa Jesus cảm nhận ĐCT lìa bỏ Ngài đến nỗi phải kêu than lớn tiếng? Trước hết chúng ta chú ý rằng lời này trích từ Thi Thiên 22:1. ĐCJC trích lời Đa-vít viết ngàn năm trước đó trong TT 22 trên thập giá. Chi tiết này cho thấy ĐCJC vẫn còn hoàn toàn tự chủ, tỉnh táo vì Ngài vẫn còn nhớ rất rõ để trích lời Đa-vít viết trong TT.
TT 22 là một thi thiên rất lạ lùng trong các TT Đa-vít viết. TT gồm 150 bài. Trong số 150 bài, Đa-vít viết khoảng 63, tức gần 1/2. Rất nhiều TT có lời đề tựa phụ chú về hoàn cảnh khiến Đa-vít viết những bài thơ, bài hát này. Như TT 3 khi ông bị con là Áp-sa-lôm soán ngôi vua, phải bỏ hoàng cung chạy trốn. Hay TT 34 khi Đa-vít phải giả điên, giả khùng trước kẻ thù. TT 51 sau khi phạm tội tà dâm cùng Bát-sê-ba, giết chồng bà và được tiên tri Na-than đối chất về tội phạm tà dâm và giết người.
Tôi xin trích đọc vài câu trong TT 22: Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? Nhân sao Ngài đứng xa, không giúp đỡ tôi, và chẳng nghe lời rên siết tôi?... Tôi bị đổ ra như nước, Các xương cốt tôi đều rời rã; Trái tim tôi như sáp, Tan ra trong mình tôi. 15 Sức lực tôi khô như miếng gốm, Và lưỡi tôi dính nơi ổ gà; Chúa đã để tôi nằm trong bụi tro sự chết... Chúng nó đâm lủng tay và chân tôi… Chúng nó xem và ngó chân tôi; Chúng nó chia nhau áo xống tôi, Bắt thăm về áo dài tôi.
KT không hề viết về những sự việc này xảy ra cho Đa-vít, trong đời ông. TT 22 không viết về kinh nghiệm của một người bệnh hay bị bắt bớ nhưng về một người bị xử tử. Xử tử là chịu nhận một hình phạt nặng nề nhất. Không chỉ xử tử nhưng còn rất cụ thể về cách xử tử với tay chân bị đâm lủng. Khi nào Đa-vít bị xử tử? Khi nào Đa-vít bị người ta đâm lủng tay và chân? Khi nào ông bị người ta chia nhau áo xống, bắt thăm về áo dài? Câu trả lời là Đa-vít không hề bị xử tử, tay châm bị đâm lủng hay bị các lính chia nhau áo sống.
Khi Đa-vít viết TT này thì việc xử tử, đóng đinh trên thập giá như khi ĐCJC bị đóng đinh trên thập giá chưa hề xảy ra. Làm thế nào để Đ. có thể biết về cách xử tử khủng khiếp này đến nỗi một nhà hùng biện La-mã, Cicero xem từ thập tự giá là một lời rủa xả và khuyên công dân La-mã đừng bao giờ nói đến hình phạt mang dã khủng khiếp này.
TT 22 không viết về kinh nghiệm của Đa-vít nhưng là một tiên tri rất cụ thể và chính xác về sự chết của ĐCJC trên thập giá. Sự Chúa vào thành G. đã được tiên tri chính xác về thời gian theo Đa-ni-ên 9, về cách thức cởi lừa con theo tiên tri Xa-cha-ri. Buổi ăn cuối trên phòng cao là ứng nghiệm của lễ Vượt Qua ĐGHV ra lệnh cho dân sự Ỵ kỷ niệm trước đó 2000 năm khi Ngài giải cứu họ ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập. Sự Chúa chết trên thập giá cũng đã được tiên tri cách chính xác, với chi tiết cụ thể qua TT 22 của Đa-vít viết ngàn năm trước đó.
Vậy khi ĐCJC trích lời Đ. trong TT 22:1, Chúa muốn người nghe hiểu rằng bởi sự khải thị của ĐTL Đa-vít đã viết về Ngài. Đ. đã viết về một Đấng Mê-si sẽ chịu thương khó, chịu xử tử đến chết trên thập giá để mang lại hình phạt vì tội lỗi của loài người.
Từ giờ thứ sáu (12pm) đến giờ thứ chín (3pm), khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Sự tối tăm, theo KTCU tượng trưng cho sự đoán xét, trừng phạt của ĐCT cùng dân sự tội lỗi. Chúa Giê-hô-va phán: Sẽ xảy ra trong ngày đó, ta sẽ khiến mặt trời lặn đi trong lúc giữa trưa, và khiến đất tối tăm trong giữa ban ngày. (A-mốt 8:9) Đúng như sự kiện trời đất tối tăm từ trưa đến 3pm chiều khi ĐCJC bị treo trên thập giá cũng chính là thời gian ĐCT phán xét tội lỗi loài người mà ĐCJC đặt trên mình.
Chính Phi-lát xác nhận rằng ĐCJC hoàn toàn vô tội. Chính lời ĐCJC cùng các môn đồ trong đêm trước đó xác nhận quan hệ giữa ĐCJC và ĐCT như quan hệ giữa Con và Cha từ đời đời luôn trọn vẹn, toàn hảo. Khi Phi-líp xin Chúa chỉ Cha cho các môn đồ biết, ĐCJC trả lời: Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha. Sao ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi? 10 Ngươi há không tin rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta, hay sao?(Giăng 14:9-10).
Chúa cũng xác nhận tình yêu thương và sự hiệp một trọn vẹn giữa Cha và Con: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con. (Giăng 17:23).
Vậy tại sao trên thập giá ĐCJC lại chịu nhận sự đoán xét, xử phạt đến nỗi phải kêu than Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? Có phải vì tội của Ngài phạm? Dĩ nhiên không vì ĐCJC là người duy nhất hoàn toàn vô tội. Chúa bị ĐCT lìa bỏ, đoán xét, xử phạt vì trên thập giá Chúa mang tội lỗi của toàn thể nhân loại trên Ngài.
Khi ĐCJC kêu lớn tiếng: Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? thì chính là lúc ĐCT phán xét tội lỗi của tôi, của mỗi qv đây mà ĐCJC gánh chịu thay cho chúng ta. Chính vì yêu thương chúng ta mà ĐCJC tự nguyện gánh trên Ngài tội lỗi chúng ta, chịu nhận sự phán xét, trừng phạt của ĐCT để chúng ta không bị phán xét, trừng phạt.
Tiếng kêu than này cho biết rằng ĐCT không thể làm ngơ, bỏ qua tội lỗi con người. Nếu là Đấng Công Bình, Ngài phải trừng phạt những kẻ phạm tội. Nhưng bởi tình yêu thương, ĐCT sai Con Độc Sinh, Ngôi Hai ĐCT xuống thế gian làm người để cuối cùng mang trên Ngài một tội lỗi đáng khinh, đáng tởm nhất của chúng ta trên Ngài, và chịu nhận sự từ bỏ, trừng phạt của Cha cho tội chúng ta.
Bóng tối dầy đặc trên đất lẽ ra là bóng tối của sự xa cách đời đời của chúng ta với ĐCT. Như trái đất không ánh sáng từ mặt trời chỉ là một trái đất chết. Vắng đi ánh sáng từ ĐCT con người sẽ chết trong bóng tối của tội lỗi. Cám tạ Chúa vì nhờ ĐCJC mà chúng ta có thể thoát được sự trừng phạt kinh khiếp này, để không phải sống trong bóng tối của địa ngục đời đời xa cách ĐCT. Vì chính Ngài đã nhận lấy trên Ngài mọi tội lỗi mà tôi và qv đã phạm để những ai tin Ngài sẽ được sống.
ĐỨC CHÚA TRỜI TÔI ÔI!
Khi kêu lớn tiếng Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? ĐCJC kinh nghiệm một sự trừng phạt khủng khiếp mà tôi và qv không thể nào hiểu hết được. Dĩ nhiên Chúa trích lời Đa-vít trong TT 22:1. Nhưng lời này không gọi ĐCT là ĐGHV Đấng chăn giữ, hay ĐGHV là Đấng ban bình an nhưng là ĐCT tôi ôi.
Dù đau đớn cùng cực, ĐCJC cũng không than vãn: ôi đầu tôi, hay ôi thân tôi, hay ôi tay tôi. Nhưng ĐCT tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi. Dù bị Giu-đa bán Ngài, dù Phi-e-rơ chối Ngài, các môn đồ lìa bỏ Ngài, Chúa cũng không than vãn: ôi các môn đồ tôi, ôi gia đình tôi, ôi bạn hữu tôi. Nhưng ĐCT tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi.
Sự hành hạ về thể xác hay mất mát về quan hệ không khiến Chúa kêu lớn tiếng, không làm cho Chúa như mất tự chủ. Vậy điều gì, lý do gì khiến Ngài phải thốt ra lời kêu thống thiết, đau thương này: ĐCT tôi ôi, ĐCT tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi? Bởi vì quan hệ với ĐCC là điều quan trọng hơn hết trong cuộc đời ĐCJC. Vì mất đi quan hệ này là đau khổ, là mất mát to lớn, kinh khiếp hơn khi so sánh với mọi đau đớn thể xác, mọi quan hệ khác trong đời.
Không có điều gì đau khổ hơn khi mất đi tình yêu thương của người mình yêu thương, quí trọng nhất trên đời. Dù mang nhiều bệnh tật đau đớn thể xác, một người vẫn có thể tràn đầy niềm vui và hy vọng khi biết mình được luôn yêu thương, quí trọng bởi những người mình yêu thương, quí trọng. Dù mất mát tiền của, tài sản, một người vẫn có còn hy vọng và tự tin để bắt đầu lại từ đầu. Nhưng không có sức khỏe, tiền của, danh vọng nào có thể bù đấp lại cho sự mất mát tình yêu thương trong đời người.
Một lần khi còn đi học tôi đi xuyên ban, ghé ngang một trạm xăng để đổ. Sau khi trả tiền, tôi chú ý đến một thanh niên ngồi trước cửa tiệm. Nét mặt và dáng điệu anh cho thấy có một nỗi buồn thảm. Tôi dừng lại chào anh và hỏi tôi có thể giúp anh gì không. Anh trả lời: tôi chỉ muốn đi thật xa ra khỏi cái thành phố khốn nạn này. Tôi bảo tôi đang trên đường đến Dallas, TX và nếu muốn anh có thể đi chung với tôi. Lên xe chạy gần 30 anh không hề nói một lời, chỉ nhìn ra ngoài. Tôi biết không phải anh muốn ngắm cảnh. Rất lâu sau đó, anh mới thố lộ rằng anh đang đi làm và có việc phải về nhà và bắt gặp quả tang vợ anh đang ngoại tình trên giường. Vì vậy anh quyết định bỏ thành phố để đi thật xa, chỉ mong quên đi cơn ác mộng và nỗi đau khổ lớn này.
Quan hệ càng thắm thiết, sâu đậm, dài lâu thì nỗi đau càng to lớn khi mất đi. Khi một người lạ quay mặt, từ chối là việc không đáng gì. Khi một người bạn thân thiết quay mặt, từ chối là một nỗi buồn rất lớn. Khi con cái, chồng vợ quay mặt, từ chối là một nỗi đau khổ kéo dài, ảnh hưởng đến mọi điều trong đời sống. Có thể đau khổ đến nỗi thà chết còn hơn sống mà mất người mình thương mến.
Khi nói về quan hệ giữa ĐCCha và ĐCJC, sứ đồ Giăng viết: Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết. (Giăng 1:18) Con một ở trong lòng Cha nói lên một quan hệ mà cả hai tâm thần kết nối gần gủi, thân ái với nhau như một: hoàn toàn cảm thông, hiệp một tuyệt đối, không hề có chút ngăn cách, hiểu lầm nói chi đến xung đột. Và quan hệ Ba Ngôi ĐCT không phải ngắn ngủi, mong manh như quan hệ loài người nhưng đã có từ trước vô cùng đời đời. Nếu có ai có quan hệ gần gủi nhất với Cha, thì đó là ĐCJC.
Có người ví quan hệ giữa Cha và Con, tình yêu thương giữa Cha và Con khi so sánh với tình yêu thương sâu đậm nhất của loài người như đại dương mênh mông, bao la so với một giọt nước, hay như địa cầu so với hàng tỉ, tỉ, ngàn tỉ, tỉ tỉ ngôi sao tinh tú trong vũ trụ. Không gì có thể so sánh được.
Vậy đó mà trên thập giá, ĐCJC hy sinh tình yêu thương, sự hiệp một với Cha từ trước vô cùng đời đời, chịu nhận sự từ khước, lánh mặt, lìa bỏ của Cha chỉ để gánh tội cho tôi và qv. Thú thật tình yêu thương này, sự hy sinh này quá to lớn, vĩ đại hơn mọi suy nghĩ, hiểu biết con người chúng ta.
Tiếng kêu than Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? là bằng chứng về tình yêu thương bao la mà ĐCJC đã gánh chịu cho tội tôi và qv. Vì tội lỗi chúng ta mà Chúa phải chịu nhận một trừng phạt kinh khiếp hơn mọi trừng phạt, một mất mát, nỗi đau khổ lớn hơn mọi mất mát, đau khổ. Để chúng ta được tha thứ và để chúng ta được cứu chuộc, và để chúng ta được nhận sự công chính của Ngài, được xưng công bình.
KTCU dạy chỉ khi ĐCT kết ước với dân sự và khi dân sự phục ĐCT, họ mới có thể xưng ĐCT là ĐCT của họ, ĐCT của dân Ỵ Khi ĐCJC gọi ĐCT là ĐCT tôi ôi, Ngài dùng ngôn ngữ giao ước. Dân sự vâng phục ĐCT, họ có thể gọi Ngài là ĐCT của chúng tôi. ĐCJC vâng phục ĐCT, Ngài bị từ bỏ vì gánh lấy tội tôi và qv.
PL viết: Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 5:21). Câu KT này không chỉ dạy chúng ta rằng ĐCJC đã trở nên tội lỗi vì gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta, nhưng còn dạy rằng cũng nhờ ĐCJC mà chúng ta được xưng công bình trước ĐCT, được trở nên sự công bình của ĐCT. ĐCJC chết cái chết mà tôi và qv đáng chịu. Ngài sống một cuộc đời toàn vẹn mà tôi và qv không thể sống được nhưng lẽ ra phải sống.
Câu hỏi là tại sao ĐCJC lại chịu nhận sự thương khó quá lớn này Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? Chính ĐCJC giải thích cho các môn đồ rằng Chúa chịu mọi thương khó do sự tự nguyện: Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại (Giăng 10:18)
Tình yêu thương thật sự phải đến bởi lòng tự nguyện, không áp lực, không ép uổng, cưỡng bức. Hoàn toàn tự nguyện. Nếu Chúa yêu qv cách tự nguyện, cam tâm hy sinh quan hệ từ trước đời đời vô cùng với Cha để chúng ta được cứu, được gọi ĐCT là Cha, được xưng công bình, thì qv yêu mến Chúa thế nào? Không thể ít hơn là sự hoàn toàn tự nguyện, vui lòng, không điều kiện.
