Lỡ Tiệc Trời: Bài Học Quan Trọng Nhất Về Sự Ăn Năn
Chúng ta tiếp tục loạt bài giảng về ngụ ngôn ĐCJC kể trong Lu-ca 15. Trong đoạn KT đó, ngụ ngôn dài hơn hết, chi tiết và quan trọng hơn hết là ngụ ngôn về người con trai hoang đàng, đúng hơn là ngụ ngôn về hai người con trai. Các bài giảng trước đây gỉải thích về sự tha thứ của người cha với đứa con hoang đàng, như ĐCT tha thứ cho tội nhân. Chủ động, hy sinh, đầy lòng nhân từ thương xót. Bài giảng sáng nay là về sự ăn năn.
Ngụ ngôn ĐCJC kể cho biết chính tội lỗi đã phá hủy quan hệ gia đình giữa cha con, anh em, và cả với hàng xóm láng giềng. Chuyện cũng nói lên lòng nhân từ, sẵn sàng, hết lòng tha thứ của cha với con, và về sự hồi phục quan hệ giữa cha và con khi con ăn năn trở về cùng cha. Hình ảnh người cha và hai con trong chuyện là hình ảnh của ĐCT và hai nhóm người nghe lời Chúa: người con hoang đàng tượng trưng cho những người thu thuế và có tội; người con trai trưởng ngoan hiền chịu khó làm việc tượng trưng cho những người Pha-ri-si và thông giáo.
Chuyện ngụ ngôn cho biết đứa con hoang đàng cuối cùng ý thức tội đã phạm, tỉnh ngộ, ăn năn, trở về cùng cha. Anh được cha tha thứ và hồi phục trọn quyền làm con trong gia đình. Chúng ta sẽ tìm hiểu sự tỉnh ngộ, ăn năn này cách chi tiết trong phần sau của bài giảng. Tuy nhiên ngụ ngôn hoàn toàn im lặng về sự ăn năn của người anh cả, người con trai trưởng. Đây là người ở nhà, không hề đòi cha chia gia tài, làm lụng ngoài đồng, không hề tiêu xài phung phí, sống sa đọa, trụy lạc, tội lỗi như người em. Đây là những người Pha-ri-si & thông giáo, những người sống đạo đức, vâng giữ luật pháp.
25 Vả, con trai cả đương ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa, 26 bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì. 27 Đầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khoẻ. 28 Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào. 29 Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi. 30 Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập! 31 Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con. 32 Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.
Người anh cả tự hào vì đạo đức, vì sự công chính của mình như lời anh nói cùng cha: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép. Anh không nghĩ mình có gì sai quấy với cha, huống chi phạm tội như em. Anh lên án, buộc tội em mình: nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về.
Dưới mắt người con trưởng, kẻ có tội là đứa em hoang đàng, lấy gia tài của cha, bỏ nhà ra đi, tiêu xài phung phí, trác tán, rồi khi đói khổ mới trở về xin tha thứ. Còn ông thì một mực đạo đức, chịu khó, chịu khổ làm lụng ngoài đồng cả ngày, không tiêu xài hoang phí, vâng lời cha. Vậy đó mà cha lại đãi tiệc lớn cho thằng em trai tội lỗi khi nó trở về sau khi hoan phí cả tài sản với phường điếm đĩ.
Dĩ nhiên khi kể ngụ ngôn này, ĐCJC dạy rằng cả hai nhóm người đều có tội cùng ĐCT, cả hai đều xa cách Chúa, cần được tha thứ, cần được hồi phục. Tội lỗi của người con hoang đàng rất rõ, dễ thấy. Khó hơn là tội của người anh cả. Anh ghen tị, giận dữ, cay đắng với em, với cha. Anh tự hào về sự vâng giữ lề lối cha mình, làm việc chăm chỉ dù lòng thù hằn, cay đắng, ghen tị.
Vì tội rất rõ nên người con hoang đàng biết tội mình, ăn năn quay về xin tha thứ, và được hồi phục. Người anh cả ỷ lại vào sự công bình, vào đạo đức không hề ý thức về tội lỗi của mình, không hề xin cha tha thứ dù lòng ích kỷ, ghen ghét, tị hiềm với em mình và cay đắng cùng cha. Cuối cùng chính anh từ chối vào dự buổi tiệc mừng.
Đây cũng chính là ý nghĩ của người Pha-ri-si và thông giáo khi nhìn bọn thu thuế và kẻ có tội. Họ khinh khi những kẻ đó, nhưng rất hãnh diện, tự phụ về đạo đức của mình. Họ không hề nghĩ rằng chính họ cũng phạm tội cùng ĐCT như những người thu thuế và có tội. Không hề nghĩ đến việc ăn năn xin Chúa tha thứ tội.
Chuyện kết thúc chúng ta không biết người con trưởng, người anh cả có vào nhà dự tiệc mừng không. ĐCJC ngõ ý với người Pha-ri-si & thông giáo rằng họ được mời dự buổi tiệc mừng. Chúng ta biết họ từ chối ngồi chung bàn với những người thu thuế và có tội. Tại sao? Vì nghĩ rằng họ đạo đức hơn, thánh khiết hơn những kẻ có tội kia. Người hư mất trong câu chuyện ngụ ngôn này là người Pha-ri-si và thông giáo vì không ý thức tội của họ, không ăn năn, không chấp nhận sự tha thứ.
Một bài học quan trọng nhất qua ngụ ngôn này về sự ăn năn không phải là sự ăn năn của người con hoang đàng nhưng chính là nguy hiểm của những người có cuộc sống đạo đức như người anh trai cả, như những người Pha-ri-si và thông giáo. Đây là những người thấy rất rõ những cây dầm tội lỗi trong mắt người, nhưng không hề thấy cột lớn trong mắt mình. Những người không hề nghĩ họ phạm tội cùng ĐCT vì chỉ so sánh sự công bình của họ với người có đời sống trác tán, tội lỗi.
ĂN NĂN LÀ GÌ? KT DẠY GÌ VỀ SỰ ĂN NĂN?
Lời kêu gọi ăn năn không phải là chỉ là lời kêu gọi cho những người thu thuế và có tội, nhưng cho cả người Pha-ri-si và thông giáo. Cho cả người chưa tin Chúa và người đã tin Chúa. Với người chưa tin Chúa, ăn năn tội lỗi để nhận sự tha thứ, cứu rỗi. Với người đã tin Chúa, ăn năn để nhận sự tha thứ mà hồi phục quan hệ với Chúa.
Nếu sự tha thứ là chủ đề xuyên suốt 66 sách KT từ STK đến KH thì ăn năn là sự kêu gọi xuyên suốt từ STK đến KH. TT 51 là lời ăn năn thống hối của Đa-vít sau khi đã phạm tội tà dâm và giết người: Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, Và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi.3 Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi. 4 Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; (TT 51:2-4)
Ăn năn là ý thức rằng con đường tôi đang đi, hành động đang làm, thái độ đang có là sai quấy, tội lỗi và cần phải thay đổi để trở lại con đường đúng, có hành động và thái độ đúng. Vậy ăn năn chủ yếu gồm 2 phần: 1) Nhận thức điều sai, hiểu biết điều đúng; và 2) Quyết định từ bỏ đường sai để trở lại hay đi theo đường đúng. Người thật sự ăn năn xưng nhận tội mình đã phạm với Chúa, với người, không đổ lỗi cho hoàn cảnh, người chung quanh hay tự biện hộ, tự bào chửa về những sai lầm đã phạm.
Trong KTTU mọi khi Tin Lành rao giảng, người nghe luôn luôn kêu gọi phải ăn năn, từ bỏ cuộc sống, con đường tội lỗi đang đi để theo con đường mới. Trước là con đường rộng nhiều người đi, dân đến sự hư mất, sự chết, nay ăn năn và quyết định đi theo con đường hẹp, ít người đi nhưng sẽ dẫn đến sự sống và phước hạnh.
Giăng Báp-tít bắt đầu giảng về nước Trời với lời kêu gọi dân chúng phải ăn năn. Trước khi Đức Chúa Jêsus chưa đến, Giăng đã giảng dạy phép báp-têm về sự ăn năn cho cả dân Y-sơ-ra-ên. (CV 13:24) Giăng đã tới, trong đồng vắng vừa làm vừa giảng phép báp-têm ăn năn, cho được tha tội. 5 Cả xứ Giu-đê và hết thảy dân sự thành Giê-ru-sa-lem đều đến cùng người, xưng tội mình và chịu người làm phép báp-têm dưới sông Giô-đanh. (Mác 1:4-5).
Lời dạy đầu tiên của ĐCJC là lời răn dạy dân chúng phải ăn năn tội và tin nhận Tin Lành: Đức Chúa Jêsus đến xứ Ga-li-lê, giảng Tin lành của Đức Chúa Trời, 15 mà rằng: Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành. (Mác 1:14-15).
Các môn đồ được Chúa sai đi giảng TL. Sứ điệp đầu tiên của họ là về sự ăn năn: Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn (Mác 6:12). Sau khi ĐTL hiện ra cùng các môn đồ trên phòng cao sau khi Chúa sống lại từ cõi chết, Phi-e-rơ giảng TL với sự điệp ăn năn: Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi (CV 3:19)
PL nói cùng các trưởng lão HT Ê-phê-sô về TL ông rao giảng luôn kêu gọ sự ăn năn: Anh em biết tôi chẳng trễ nải rao truyền mọi điều ích lợi cho anh em, chẳng giấu điều chi hết, lại biết tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà nầy sang nhà kia, 21 giảng cho người Giu-đa như cho người Gờ-réc về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta. (CV 20:20-21)
Ăn năn không phải chỉ cho mỗi cá nhân, mỗi tín đồ nhưng Chúa còn gọi cả HT ăn năn: Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó. (KH 2:5)
KT dạy rất rõ về liên hệ giữa sự tha thứ và lòng ăn năn. 3 ngụ ngôn ĐCJC kể dạy rõ rằng ĐCT tha thứ cho tội nhân. Rô-ma 5:8 Chúa tha thứ cho chúng ta đang khi chúng ta còn là người có tội. Vậy có phải là mọi người đều được cứu hay không? Câu trả lời là không.
Khi Chúa tha thứ, Ngài ban cho chúng ta cơ hội để được tiếp nhận sự cứu rỗi. Tuy nhiên không phải mọi người đều tiếp nhận sự tha thứ của ĐCT. Nhiều người quá kiêu hảnh để nhận mình là người có tội, cần Chúa cứu. Nhiều người khác quá kiêu hảnh không tin ĐCJC là con đường duy nhất cho sự cứu rỗi. Cụ thể là những người Pha-ri-si và thông giáo, tự hào là con cháu Áp-ra-ham, biết luật pháp, vâng giữ luập pháp, sống đạo đức, không cần Chúa cứu. Đây chính là hình ảnh của người con trai trưởng, người anh cả trong ngụ ngôn Chúa kể.
Chỉ có những người ý thức rõ họ là kẻ có tội, cần được tha thứ nên ăn năn, đón nhận sự tha thứ. ĐCJC tóm tắt qua câu chuyện ngụ ngôn về người con tội lỗi: Vậy nó mới tỉnh ngộ, mà rằng: Tại nhà cha ta, biết bao người làm mướn được bánh ăn dư dật, mà ta đây phải chết đói! 18 Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha, 19 không đáng gọi là con của cha nữa (Lu-ca 15:17-18). Vậy điều đầu tiên KT dạy về sự ăn năn: Ăn năn bắt đầu với ý thức rằng tôi là người có tội, chính tôi đã phạm tội cùng ĐCT.
Tại sao Đa-vít lại nói ông chỉ phạm tội cùng Chúa thôi? Trước hết Đa-vít không phủ nhận tội của ông cùng Bát-sê-ba và U-ri nhưng xác nhận một điều vô cùng quan trọng: khi chúng ta phạm tội, chúng ta phạm tội đầu tiên cùng ĐCT.
Khi một người phạm tội, người đó không chỉ phạm tội cùng nạn nhân, nhưng đầu tiên cùng luật pháp. ĐCT là Đấng ban phát luật pháp nên mọi vi phạm là vi phạm cùng ĐCT. Đây là lý do người con trai hoang đàng thú tội: đã đặng tội với trời và với cha.
Tỉnh ngộ - bừng tỉnh và hiểu ra, nhận ra được sai lầm của mình; tỉnh ra mà hiểu rõ (giác ngộ). Đứa con hoang đàng ăn năn khi anh bừng tỉnh và hiểu rằng anh đã làm điều sai quấy, tội lỗi cùng Trời, cha, cùng anh, cùng gia đình. Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha.
Làm thế nào để một người có thể tỉnh ngộ? Bao nhiêu người phạm lỗi, phạm tội cùng ĐCT, cùng người quanh họ mà không hề biết, không hề tỉnh ngộ. Tôi hỏi qv: Có phải tôi & qv đều nhanh chóng nhận thức về những tội lỗi của mình, những sai sót về tính tình, phẩm hạnh, những vi phạm cùng người chung quanh chúng ta hay không? Chắc là không.
Chúng ta luôn chối bỏ sự thật là đã làm sai, phạm lỗi, phạm tội. Lời ĐCJC dạy hoàn toàn chính xác với thực tế đời sống: chúng ta rất mau thấy cây dầm nhỏ trong mắt anh em mình, tức những sai sót, vi phạm, tội lỗi nhưng không hề thấy được cây cột lớn trong mắt mình, tức những tội lớn, vi phạm nghiêm trọng của chính mình. Tại sao? Một tác giả giải thích thế này: the human heart runs on denial the way my car run on gas (tấm lòng con người chạy bằng sự chối tội như xe chạy bằng xăng)
Vậy chúng ta chỉ tỉnh ngộ để để nhận biết tội, ăn năn tội với Chúa và tin nhận TL khi ĐTL mở mắt của lòng chúng ta. Chúa của đời này là ma quỉ luôn muốn chúng ta làm ngơ hay chối tội mình. Sứ đồ PL giải thích: Nếu Tin lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất, 4 cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 4:3-4)
Người con hoang đàng chỉ tỉnh ngộ khi anh hết tiền bạc, hết bè bạn, khi có cơn đói trong xứ, khi phải chăn heo kiếm sống, khi muốn ăn vỏ đậu của heo nhưng không được. Hoàn cảnh, thông thường là nghịch cảnh giúp chúng ta tỉnh thức để ăn năn. Nghịch cảnh khó khăn làm giảm đi lòng kiêu ngạo, tự phụ. Bệnh hoạn, đau đớn, mất mát làm giảm đi lòng kiêu ngạo, tự phụ.
Khi làm chứng cho một người về tin lành, về Chúa Giê-xu, thường chúng ta nói về sự tha tội, nói về tình yêu thương, về ơn phước Chúa ban cho người tin nhận Ngài. Không có gì sai cả. Nhưng làm sao có sự tha tội, nếu một người không tin rằng họ phạm tội cùng ĐCT và thật lòng ăn năn tội.
Không ăn năn, thú nhận tội thì không có sự cứu rỗi. Nhưng ăn năn không phải chỉ tỉnh ngộ nhưng tỉnh ngộ để ý thức tội lỗi mình đã phạm và để thay đổi. True repentance is a turning of the heart as well as of the life. It is the giving up of the whole soul to God to be His forever and ever. It is the renunciation of the sins of the heart as well as the crimes of the life” (Charles Spurgeon)
Ăn năn không phải chỉ là lời xưng tội đầu môi chót lưỡi nhưng là sự thay đổi đời sống theo hai chiều: chiều dọc trong quan hệ với Chúa và chiều ngang trong quan hệ với người. Sự thay đổi trong quan hệ với ĐCT. Như sứ đồ Giăng dạy rất rõ: Nhờ điều này chúng ta biết rằng mình đã biết Ngài: Ấy là chúng ta tuân giữ các điều răn của Ngài. 4 Người nào nói: “Tôi biết Ngài”, nhưng không tuân giữ các điều răn của Ngài là người nói dối, chân lý không ở trong người đó. (1 Giăng 2:3-4)
Ăn năn thay đổi cách cư xử, hành động, thái độ, lời nói của chúng ta với người chung quanh. Kẻ nào nói mình ở trong sự sáng, mà ghét anh em mình, thì còn ở trong sự tối tăm. 10 Ai yêu mến anh em mình, thì ở trong sự sáng, nơi người đó chẳng có điều chi gây cho vấp phạm. 11 Nhưng ai ghét anh em mình, thì ở trong sự tối tăm, làm những việc tối tăm, và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người. (1 Giăng 2:9-11).
Trong xã hội ngày nay mọi lỗi lầm, mọi tội ác đều có thể đổ thừa vào hoàn cảnh, môi trường, hay đổ thừa cho gia đình, cho người chung quanh hay cho những bất công trong xã hội. Nói cách khác người phạm tội, phạm lỗi cho mình là một nạn nhân. Vì là nạn nhân nên họ phạm tội. Vâng tôi làm sai, nhưng tôi làm sai bởi vì gia đình, cha mẹ, anh em tôi đã khiến tôi làm sai. Tôi làm sai bởi vì môi trường, vì hoàn cảnh khi tôi lớn lên khiến tôi làm sai. Tôi làm sai là bởi vì họ là nạn nhân của môi trường, của hoàn cảnh, của gia đình, của xã hội.
Một số qv đây chắc có nghe về cuộc phỏng vấn của bà Ophrah Winfrey với hoàng tử Harry và vợ ông là bà Meghan Markle tháng trước đây. Trong cuộc phỏng vấn đó, bà Meghan và hoàng tử Harry đổ lỗi cho hoàng gia Anh Quốc về một số quyết định họ làm. Họ phải bỏ xứ Anh Quốc, dời đến HK là bởi vì không chịu nổi áp lực và không khí nghẹt thở của hoàng gia Anh Quốc, của nữ hoàng, của hoàng tử William và vợ ông bà quận chúa Kate. Thậm chí con của hai người có màu da sậm nên bị kỳ thị và không được gọi là hoàng tử. Thật là đau lòng, tội nghiệp!!!
Tôi biết cái áo của bà Meghan mặc khi phỏng vấn có giá $4,500, đắt hơn giá trị xe tôi đang chạy. Tôi cũng nghe trước đó hoàng tử Harry và bà Meghan vừa mua một biệt thự tại thành phố LA với giá 14 triệu dollar trong khu các minh tinh, tài tử ở. Vậy đó mà họ vẫn là nạn nhân. Vì là nạn nhân của sự kỳ thị từ hoàng gia AQ nên họ phải bỏ xứ mà ra đi, để sống một cuộc đời cơ cực, mặc áo 4,000, ở nhà 14 triệu…
Thật là một điều trớ triêu, nghịch lý đến độ buồn cười. Nhưng hàng triệu người xem cuộc phỏng vấn đó mà tin, thật sự tin là hai người là nạn nhân đáng thương. Không ai nói về trách nhiệm, về bổn phận, về đạo lý làm người, huống chi đến lỗi của chính họ, đến những thiệt hại họ đã gây ra cho gia đình, cho đất nước. Không ai nói rằng chính hai người này cần phải ăn năn, thay đổi vì đã gây ra xáo trộn, tạo nên dư luận xấu cho đất nước và hoàng gia Anh Quốc. Quyền lợi cá nhân của họ quan trọng hơn cả gia đình, tập thể. Họ chỉ là nạn nhân của một chế thể phong kiến, lạc hậu, bóp chết quyền tự do và quyền lợi cá nhân!
Ăn năn là khi một người xác nhận rằng vâng cho dù tôi đã bị đối xử nghiệt ngã, nhưng tôi nhận trách nhiệm cho chính lời nói, chính hành động, chính thái độ sai quấy của tôi với người quanh tôi, với lời dạy của Chúa trong KT. Ăn năn là khi một người chấm dứt việc đổ lỗi cho hoàn cảnh, môi trường, gia đình, cha mẹ, hội thánh về quyết định, lựa chọn, hành động, lời nói của mình. Khi họ không còn tội nghiệp, thương hại cho mình vì là nạn nhân, nhưng nghĩ đến những nạn nhân, hậu quả tai hại thật sự do chính họ gây ra.
Tôi không đi nhà thờ là bởi vì chính tôi quyết định và chọn lựa, chứ không phải vì người này, người nọ. Tôi cay đắng, buồn giận là bởi vì chính tôi quyết định và chọn lựa, chứ không phải vì người này, người nọ.
Tội lỗi cũng như ung bứu cần phải được lấy ra khỏi cơ thể. Chúng ta không thể chỉ đồng ý với bác sĩ giải phẩu là tôi cần được chửa nhưng rồi làm thinh, làm ngơ không giải phẩu để lấy ung bứu ra khỏi cơ thể. Cũng vậy ăn năn thật sự sẽ đưa đến quyết định, hành động cụ thể.
Ăn năn thật sự là khi chúng ta ý thức rõ về hậu quả của tội lỗi mình gây ra cho người chung quanh, cho gia đình, hội thánh. Hễ hậu quả càng trầm trọng, thì nỗi buồn càng sâu đậm, nặng nề, dai dẳng.
KT viết về 2 nỗi buồn phiền. Trong 2 Cô-rinh-tô 7:8-11, PL viết: Tôi không còn hối tiếc vì bức thư của tôi đã làm anh chị em buồn rầu, dù lúc ấy tôi đã hối tiếc, vì tôi biết bức thư ấy chỉ làm anh chị em buồn rầu ít lâu thôi. 9 Nay tôi vui mừng, không phải mừng vì đã làm anh chị em buồn nhưng vì sự buồn rầu ấy đã giúp anh chị em hối cải. Vì anh chị em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, như thế chúng tôi đã không làm hại gì cho anh chị em. 10 Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời đem lại hối cải để được cứu rỗi, đó là điều không cần hối tiếc. Nhưng sự buồn rầu theo thế gian đem lại sự chết. 11 Vậy, anh chị em hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời đã sinh ra trong anh chị em tấm lòng tha thiết là dường nào. Lại thêm sự cố gắng thanh minh, ân hận, sợ sệt, mong đợi, nhiệt thành, trách phạt. (BDM)
PL giải thích có một loại buồn rầu khiến cho người ta ăn năn, hối cải và thay đổi. Đó là sự buồn rầu theo ý ĐCT. PL cũng tương phản với sự buồn rầu theo thế gian đem lại sự chết (v10). Hai sự buồn rầu này khác nhau thế nào?
Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần. Sau khi sống lại, Chúa hiện ra cùng P. và các môn đồ trên biển Ti-bê-ri-át (Ga-li-lê). Tại đó Chúa hỏi P. 3 lần ông có yêu Chúa không. Câu hỏi này làm cho P. hết sức đau lòng. Nhưng sự buồn rầu của P. khi 3 lần nghe câu hỏi của ĐCJC là sự buồn rầu theo ý ĐCT đem lại sự ăn năn, hối cải, thay đổi. Sự buồn rầu của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là sự buồn rầu theo thế gian đem lại sự chết.
Rất nhiều người than khóc về tội của mình. Nhưng dường như hễ họ càng than khóc, họ càng cảm thấy tội lỗi, xấu hổ, mặc cảm, càng muốn xa lánh mọi người. Càng khiến cho họ ghét mình, ghét người, không muốn nghe lời Chúa dạy vì càng nghe càng khiến họ mặc cảm, tội lỗi, chán nản. Đây là nỗi buồn rầu theo thế gian sinh ra sự chết. Vì ngày nó càng đẩy người ta xa Chúa, xa hội thánh, xa lời KT.
Trái lại sự buồn rầu theo ý Chúa để đem chúng ta càng gần ĐCT vì ý thức rằng chỉ có Chúa mới có quyền năng để giúp tôi từ bỏ những tội lỗi này, và giúp tôi thay đổi. Đem chúng ta càng gần hơn HT anh chị em trong HT để nhận sự yên ủi, khích lệ, nâng đở, giúp đở.
Sự khác biệt là gì? Một bên khóc vì xấu hổ cho chính mình, vì hậu quả tôi phải gánh; một bên khóc vì đã làm đau lòng Đấng đã yêu thương, cứu chuộc tôi. Một mục sư giải thích thế này: Người đạo đức đem tội của họ đến núi Si-nai và khóc vì sự trừng phạt kinh khiếp sẽ xảy đến. Người Cơ Đốc đem tội của họ đến chân thập giá và khóc vì đã bội ơn cứu chuộc của Chúa họ. Họ nhìn thấy vì tội của họ mà Chúa chịu thương khó, không chỉ nghĩ về mình.
Người đạo đức ăn năn vì sợ bị ĐCT từ bỏ, sợ bị người đời chê khinh, xa lánh. Người Cơ Đốc ăn năn vì họ đã được ĐCJC nhận làm con cái ĐCT, vì đã được nhận vào gia đình HT nhưng chính tội họ đã cắt đứt mối dây quan hệ đó. Tôi đã được Chúa yêu thương, tha thứ, tôi đã được anh chị em trong gia đình Chúa yêu thương, tín cẩn nhưng bởi tội đã phạm mà phản bội tình yêu thương, lòng tin tưởng đó.
Qv có nhớ lần đầu tiên P. thú nhận cùng ĐCJC ông là người có tội khi nào hay không? Lu-ca 5:1-10 ghi lại ĐCJC ngồi trong thuyền đánh cá của Si-môn P. Rồi Chúa Giê-xu, một người thợ mộc làng Na-xa-rét bảo Si-môn, một người đánh cá chuyên nghiệp vùng biển Ga-li-lê hãy chèo ra ngoài sau, thả lưới mà đánh cá. Dĩ nhiên P. không tin lời Chúa. Dù vậy vẫn làm theo. Khi Si-môn làm theo lời Chúa, họ bắt được rất nhiều cá đến nỗi đứt lưới.
KT viết: Si-môn Phi-e-rơ thấy vậy, liền sấp mình xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin ra khỏi tôi, vì tôi là người có tội. 9 Số là, vì đánh cá dường ấy, nên Si-môn cùng mọi người ở với mình đều thất kinh; Gia-cơ và Giăng con Xê-bê-đê, là những kẻ đồng bạn với Si-môn cũng đồng một thể ấy. (Lu-ca 5:8-9) Chú ý P. thú nhận là người có tội. Tội gì? Tội không tin hay nghi ngờ lời Chúa. Nhưng lại xin Chúa xa khỏi ông. Chẳng phải đây là phản ứng tự nhiên của người đạo đức hay sao? Khi phạm tội thì càng tránh xa Chúa.
Nhưng trong Giăng 21, khi P. đã biết người đứng trên bờ biển gọi thả lưới nơi sâu để đánh cá, y như Chúa đã làm lần đầu gặp P. thì ông làm gì? Thay vì chạy xa khỏi Chúa, P. nhảy ngay xuống nước và lội vào bờ để gặp Chúa. Một ăn năn khiến P. muốn Chúa xa ông. Một ăn năn khiến P. muốn Chúa gần ông. Chính lần thứ hai, lần ăn năn trong Giăng 21 mới thật sự thay đổi cuộc đời của P.
Tôi không biết bao nhiêu người trong qv đây là P. trong Lu-ca 5, bao nhiêu là P. trong Giăng 21? Nếu qv muốn Chúa xa mình vì tội đã phạm thì qv chưa thật kinh nghiệm được tình yêu thương và sự tha thứ của Chúa trong đời sống. Sự ăn năn đó sẽ dẫn đến sự chết, đó là sự ăn năn theo đời này.
Nếu qv biết mình có tội nhưng cũng ý thức rằng chính vì lý do này mà tôi cần Chúa hơn bao giờ hết. Tôi biết rằng tôi không thể tự mình thay đổi, tôi cần ĐTL chỉ sửa, răn dạy để tôi thay đổi. Đó là sự ăn năn theo ý Chúa dẫn đến sự sống và thay đổi.
BH: Trước khi được hồi phục chúng ta cần nhớ lại lỗi lầm mình đã phạm để ăn năn. Sự tha thứ khác sự hồi phục. Chúng ta có thể tha thứ cho một người phạm lỗi, phạm tội cùng mình dù người đó không hề xin lỗi. Nhưng người có lỗi không thể được hồi phục lại quan hệ, hồi phục lại tình thân, hồi phục lại chức vụ, trách nhiệm, công việc nếu không đến nhận lỗi và xin được tha thứ.
Ăn năn không chỉ xảy ra một lần khi tin nhận Chúa, nhưng phải là một cách sống của người tin Chúa. Martin Luther, cha đẻ của phong trào cải cách tôn giáo, viết 95 luận đề. 3 luận đề đầu tiên về sự ăn năn. Luận đề 1: Khi Chúa và Chủ đời sống chúng ta là ĐCJC dạy hãy ăn năn, có nghĩa là cả cuộc đời của người trung tín với Chúa là hành động ăn năn. Luận đề 2: ăn năn này không phải đến từ nghi lễ xưng và xóa tội với linh mục. Luận đề 3: Nhưng ĐCJC không chỉ dạy về sự ăn năn nội tâm; không, ăn năn nội tâm không có giá trị và ý nghĩa gì nếu không giết chết những tội lỗi về thể xác (mortification of the flesh).
Thứ nhất, ăn năn là cách sống của người tin Chúa. Thứ hai, ăn năn hoàn toàn không đến từ nghi lễ xưng và xóa tội bởi linh mục. Thứ ba ăn năn thay đổi đời sống, bỏ tội lỗi, sống như KT dạy.
BÔNG TRÁI CỦA SỰ ĂN NĂN
Ăn năn thật sự thay đổi đời sống. Từ bỏ con đường tội lỗi để đi trong đường lối Chúa.
Ăn năn sinh lòng thương xót, nhân từ
Chúng ta cần HT Chúa, cần anh chị em trong Chúa giúp chỉ ra những sai quấy trong đời sống, giúp chúng ta tỉnh ngộ trước tội lỗi
Ma-thi-ơ 21:28-32: Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai đứa con trai; nói cùng đứa thứ nhứt, mà rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn nho. 29 Đứa ấy thưa rằng: Vâng; rồi không đi. 30 Đoạn, người cha đi đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Đứa nầy thưa rằng: Tôi không muốn đi. Nhưng sau ăn năn, rồi đi. 31 Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Đứa thứ hai. Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi. 32 Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.
Các ngươi là ai? Các thầy tế lễ và trưởng lão trong dân đến đền thờ hỏi Chúa. Hai loại người. Con thứ nhất tượng trưng cho người nói vâng phục nhưng lại bất tuân lời Chúa. Con thứ hai tượng trưng cho người bắt đầu là người bất tuân nhưng ăn năn thay đổi.
Đại văn hào Hoa Kỳ là Ernest Hemingway, người được giải Nobel về văn chương, tác giả của quyển “Ngư ông và biển cả” (The old man and the sea), viết một câu chuyện sau đây. Một người cha Tây Ban Nha quyết định giải hòa với đứa con trai đã bỏ nhà ra đi đến thành phố Madrid. Buồn phiền và hối hận người cha đăng một dòng quản cáo trên tờ báo lớn là El Liberal: “Paco (tên người con trai) gặp cha tại khách sạn Montana trưa thứ ba. Tất cả đã được tha thứ. Papa (cha)”. Paco là tên rất phổ thông tại xứ Tây Ban Nha. Khi người cha đến khách sạn Montana trưa ngày thứ ba ông thấy có đến 800 người thanh niên trẻ tuổi đang chờ cha của họ tại đó để được tha thứ và hòa giải cùng cha mình.
Dĩ nhiên câu chuyện kể về sự tha thứ của người cha khi đăng tin trên báo. Nhưng chuyện còn nói đến sự ăn năn, hối hận, lòng ao ước được phục hồi lại quan hệ của người con với cha. Chính vì lòng hối hận, ăn năn mà khi con đọc tin quyết định đến khách sạn để gặp cha.
