Khi Qua Thung Lũng Ba-ca (Trũng Than Khóc)
Bài giảng sáng nay có tựa đề là Khi qua trũng than khóc dựa theo một câu KT trong TT 84. Tôi xin được đọc lại TT84:5-7: Phước cho người nào được sức lực trong Chúa, Và có lòng hướng về đường dẫn đến Si-ôn! 6 Đang khi đi qua trũng khóc lóc. Họ làm trũng ấy trở nên nơi có mạch; Mưa sớm cũng phủ phước cho nó. 7 Họ đi tới, sức lực lần lần thêm; Ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn.
Tựa đề bài giảng trích từ TT 84:6 mà tôi sẽ giải thích sau: Đương khi đi qua trũng khóc lóc. Họ làm trũng ấy trở nên nơi có mạch; Mưa sớm cũng phủ phước cho nó. (BTT); Khi họ đi qua thung lũng buồn đau than khóc, Họ sẽ biến nó thành nơi có những suối nước trào tuôn, (BD2011); ngoại trừ BDPT: Đang khi họ đi qua thung lũng Ba-ca, họ sẽ biến nó ra suối nước. Mưa thu làm ngập các vũng nước.
TT 84 viết về tấm lòng khao khát và chuyến đi của những người hành hương mong mỏi được đến đền thờ ĐCT tại Si-ôn tức một danh xưng khác để gọi thành Giê-ru-sa-lem. Hành hương là một chuyến đi tự nguyện, vui lòng của người tin từ nơi đang sinh sống để đến nơi thiêng liêng, nơi có giá trị và ý nghĩa đặc biệt, quí báu với họ.
Tôi nghe nói nhiều người Công Giáo VN sống trong tiểu bang hàng năm hành hương đến một tiểu bang miền Nam để dự thánh lễ hàng năm cùng bao nhiêu chục ngàn người cùng đức tin. Một số người VN chúng ta cũng “hành hương” hàng năm về quê hương, thăm lại bà con, làng xóm. Hình ảnh của cuộc hành hương cũng là biểu tượng của cuộc đời người theo Chúa sống trên trái đất này nhưng lòng luôn hướng về nước Trời, về thiên đàng.
TRƯỚC KHI QUA TRŨNG THAN KHÓC, HÃY HƯỚNG HẾT LÒNG VỀ CHÚA
1-2: Hỡi Đức Giê-hô-va vạn quân, Nơi cư trú Ngài đáng thương thay! 2 Linh hồn tôi mong ước đến đỗi hao mòn về hành lang của Đức Giê-hô-va; Lòng và thịt tôi kêu la về Đức Chúa Trời hằng sống.
Lạy CHÚA Vạn Quân, Nơi ngự của Ngài đáng yêu quí biết bao [đáng thương thay; đáng yêu mến thay – BD2011]! 2 Linh hồn tôi tha thiết mong ước để được ở trong sân đền CHÚA; Tâm hồn lẫn thể xác tôi ca hát vui mừng Cho Đức Chúa Trời hằng sống.
TT 84 bắt đầu với lời ngợi ca của những người hành hương về nơi ở của ĐCT, tức đền thờ và lòng khao khát của tác giả được ở trong nhà Chúa. Nhà Chúa không phải là nơi phải miễn cưỡng, hay ép buộc đến mỗi tuần vào Sa-bát (thứ bảy) hay sáng Chúa nhật (như chúng ta hôm nay) nhưng là nơi tác giả muốn được đến nơi đó, tha thiết mong ước để được ở, dù chỉ được ở trong sân đền. Dù chỉ là vòng ngoài, như khuôn viên bên ngoài nhà thờ, bên ngoài đền thờ.
Không phải tình yêu thương, lòng thương mến nào cũng sinh ra mong ước. Khi nói về mong ước là nói về một cảm xúc, một ước muốn, khát vọng, đòi hỏi kéo dài cho đến khi được điều mình mong ước, thì mới thỏa lòng không còn mong ước nữa. Nhưng khi xa điều đó lòng chúng ta lại mong ước cho khi được gặp lại. Ngày hôm nay người tin Chúa có thể nói như tác giả: cả tuần tôi mong ước cho đến ngày tôi được ở trong sân nhà thờ! Nhưng cũng không phải mơ ước nào cũng làm cho người ta phải hao mòn. Như trong chuyện Trương Chi Mị Nương, Trương Chi mơ ước bóng dáng Mị Nương đến mỏi mòn! Tôi chắc qv không mơ ước được đến nhà Chúa cho đến nỗi phải hao mòn sức lực, tình cảm trong tuần.
Vậy qua lời này, tác giả muốn nói lên tấm lòng khao khát, mong ước hàng ngày được đến nhà Chúa đến nỗi phải hao mòn sức lực, tình cảm. Chỉ khi được đến rồi lòng mới thấy thỏa nguyện. Đến nỗi khẳng định rằng: Vì một ngày trong hành lang Chúa đáng hơn một ngàn ngày khác. Thà tôi làm kẻ giữ cửa trong nhà Đức Chúa Trời tôi, Hơn là ở trong trại kẻ dữ. (84:10)
Điều này có nghĩa là người tin Chúa đặt nặng, xem trọng giá trị trong quan hệ với Chúa và nước Trời. ĐCT và nước ĐCT là hai điều không hề thay đổi hay có thể mất. Qv thử nghĩ với tôi có gì trong đời sống trước trời này tồn tại, không hư hoại, không hư mất. Và vì chắc chắn những điều này rồi sẽ mất đi nên chắc chắn chúng ta sẽ qua những thung lũnh (trũng) than khóc. Hễ chúng ta càng đặt quá nặng, xem quá trọng những điều tạm bợ này thì khi chúng nó hư mất thì trũng than khóc càng sâu, càng dài, càng rộng, nỗi sầu khổ càng lớn.
Nhưng nếu chúng ta tập tành để hướng mắt tâm linh về Chúa, về nước Trời, về nhà Chúa thì theo thời gian những điều của thế gian này trở nên nhẹ hơn. Khi mất đi, dĩ nhiên chúng ta cũng đau lòng, cũng than khóc nhưng không quá nặng như ngày nào. Họ nhờ sự dư dật của nhà Chúa mà được thỏa nguyện; Chúa sẽ cho họ uống nước sông phước lạc của Chúa. 9 Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng. (TT 36:8-9)
Đức tin và lòng khao khát về ĐCT sẽ quyết định hành động, thái độ của người đi qua trũng than khóc.
3-4: Hỡi Đức Giê-hô-va vạn quân, là Vua tôi và là Đức Chúa Trời tôi, Con chim sẻ đã tìm được một nơi ở, Và chim én tìm được một ổ đặng đẻ con nó, Tức là bàn thờ của Chúa. 4 Phước cho người nào ở trong nhà Chúa! Họ sẽ ngợi khen Chúa không ngớt.
Lạy CHÚA Vạn Quân, là Vua của tôi, là Đức Chúa Trời tôi; Ngay cả con chim sẻ cũng tìm được một nơi ở, Và con én cũng tìm được một tổ cho bầy con ở gần bàn thờ Chúa. 4 Phước cho người nào được ở trong nhà Ngài, Họ sẽ ca ngợi Ngài mãi mãi. Sê-la
Tác giả xưng Chúa là Vua của Tôi, ĐCT tôi, chứ không phải Vua của gia đình, truyền thống, của dân tộc. Ông biết Chúa và Chúa biết ông một cách gần gũi, cá nhân chứ không mơ hồ, trừu tượng, xa cách.
Chim sẻ và chim én là loài chim phổ thông nhất, dễ tìm nhất, nhiều nhất trong các loài chim. Vì vậy rất rẽ. Như lời của ĐCJC: Hai con chim sẻ há chẳng từng bị bán một đồng tiền sao? Và ví không theo ý muốn Cha các ngươi, thì chẳng hề một con nào rơi xuống đất. (Ma-thi-ơ 10:29) Đồng tiền đây là đơn vị nhỏ nhất như penny của HK!
Đây không phải là loài chim đẹp đẻ hay đặc sắc gì, nhưng rất tầm thường. Dù vậy tác giả viết ngay cả loài chim sẻ, chim én tầm thường cũng muốn tìm cho con nó nơi ở gần bàn thờ Chúa! Khi so bộ óc của loài người và chim sẻ, dĩ nhiên óc người to hơn và tinh vi hơn bội phần. Dù vậy loài chim bé nhỏ, tầm thường đó dựa vào bản tính tự nhiên Chúa tạo cũng biết rằng nơi an toàn nhất, nơi tốt đẹp nhất cho nó và các con nó là nhà Chúa.
Con cái là món quà quí báu của Chúa ban cho. Qv yêu thương, chăm sóc, hy sinh cho con mình; qv sẵn sàng làm tất cả, hy sinh tất cả để bảo vệ, che chở, dưỡng nuôi con mình. Qv muốn con ở nơi an toàn nhất, tốt đẹp nhất. Loài chim sẻ, chim én uỷ thác, giao phó con chúng nó cho sự quan phòng, bảo vệ của Chúa, để chúng nó trong nhà Chúa. Lời Chúa dạy rằng không có nơi nào phước hạnh, an toàn, bình an hơn là khi con cái chúng ta đi trong con đường Chúa dạy, ở trong nhà Chúa, đi trong đường lối Chúa.
Hai câu KT này cũng là hình ảnh của ĐCT vĩ đại chấp nhận những người tầm thường, nhỏ nhoi, hèn mọn như mỗi chúng ta đây. Như hôm nay ĐTL, ngôi Ba của ĐCT đến ngự trong tấm lòng xấu xa, tội lỗi của tôi & qv.
Corrie Ten Boom & chị là Betsie bị bắt giam trong trại tù tử hình của Đức Quốc Xã vì gia đình giúp dấu những người Do Thái. Trong trại tù, cha và chị mất. Trước khi bị bắt, một đêm thành phố bị thả bom và bà Corrie bị một miếng miễn bom cắt. Corrie buồn giận, và tự hỏi tại sao ĐCT lại để gia đình bà trải qua cảnh ngộ này. Betsy nói với em những lời sau: There is no if in God’s world. And no places that are safer than other places. The center of His will is our only safety. Oh Corrie, let us pray that we may always know it (His will). Không hề có điều “nếu” trong nước Chúa. Và không nơi nào an toàn hơn nơi khác. Nơi an toàn duy nhất của chúng ta là trung tâm của ý Chúa.
KHI QUA TRŨNG THAN KHÓC, CHÚNG TA CẦN MƯA MÓC TỪ CHÚA
5-7: Phước cho người được sức mạnh nơi Ngài, Và hướng lòng về con đường hành hương đến Si-ôn. 6 Khi đi ngang qua thung lủng khóc than, Họ biến nó thành nơi có suối nước tuôn trào; Mưa thu cũng giáng phước lành tràn ngập nơi ấy. 7 Họ cứ tiến bước, sức lực càng gia tăng Cho đến khi trình diện trước mặt Đức Chúa Trời y tại Si-ôn.
3 câu KT bày tỏ một hình ảnh vô cùng sâu sắc, ý nghĩa về lòng khao khát về nước Trời và cuộc hành trình về nước Trời. Hình ảnh người hành hương đến Si-ôn là hình ảnh của người tin Chúa quyết tâm, hết lòng tìm kiếm ĐCT và nước Ngài. Si-ôn tượng trưng cho thành Giê-ru-sa-lem, nơi đền thờ của ĐCT, nơi vinh hiển của ĐCT trong nơi chí thánh. Hình ảnh cuộc hành trình đến Si-ôn cũng nói lên cuộc hành trình của người tin Chúa trên con đường đời từ khi được cứu cho đến khi được gặp Ngài nơi thiên đàng.
MSTS Lê Hoàng Phu diễn ý 3 câu KT này như sau: Phúc cho người được Chúa làm Nguồn sức mạnh. Và tâm trí luôn nghĩ đến đường lên đền thờ. Họ đi qua trũng, đồng khô hạn. Họ biến tử địa thành ngọn suối mơ, khiến mưa sa, lấp đầy hồ ao cạn. Như cơn mưa rào rạt phước lành.
Hai ơn phước Chúa hứa ban trong câu 5: 1) Phước cho người được sức mạnh từ Chúa, chứ không phải từ sức mình, sức người, từ sự thông minh, tài giỏi, giàu sang cá nhân; 2) Phước cho người hướng lòng về nhà Chúa, về nước Trời.
Kẻ này nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa chiến. Nhưng chúng tôi nhờ cậy danh CHÚA, Đức Chúa Trời chúng tôi. 8 Chúng nó bị ngã quỵ và té nhào, Nhưng chúng tôi vươn lên và đứng vững. (TT 20:7-8 – BDM);
6-8: Khi đi ngang qua thung lủng khóc than, Họ biến nó thành nơi có suối nước tuôn trào; Mưa thu cũng giáng phước lành tràn ngập nơi ấy. Họ cứ tiến bước, sức lực càng gia tăng Cho đến khi trình diện trước mặt Đức Chúa Trời y tại Si-ôn. - BDM.
Đang khi đi qua trũng khóc lóc. Họ làm trũng ấy trở nên nơi có mạch; Mưa sớm cũng phủ phước cho nó. Họ đi tới, sức lực lần lần thêm; Ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn. BTT
Họ đi qua trũng, đồng khô hạn. Họ biến tử địa thành ngọn suối mơ, khiến mưa sa, lấp đầy hồ ao cạn. Như cơn mưa rào rạt phước lành. Mỗi người lên Si-ôn gặp Chúa, càng đi sức mạnh lại càng tăng – BDY
KT viết rất rõ rằng không phải vì lòng người tin Chúa chân thành tìm kiếm, khao khát đến nhà Chúa, hướng về nước Trời thì sẽ không bao giờ đi ngang qua thung lũng Ba-ca, thung lũng than khóc, sẽ không phải gặp thử thách, khổ nạn, mất mát. Trái lại trũng than khóc là nơi chắc chắn sẽ trải qua trong chuyến hành hương về đất hứa. Mọi người trong đời sống này đều đi qua trũng than khóc, không ngoại lệ. Có khác chăng là phản ứng, thái độ của người hướng lòng về Chúa khác với người không biết Chúa.
Câu 6 viết về hình ảnh của đoàn người hành hương phải đi qua một thung lũng hay trũng than khóc. Trũng than khóc trong TT 84:6 thực ra là một địa danh tên là Ba-ca, thung lũng hay trũng Ba-ca. Và tên Ba-ca có nghĩa là than khóc, vì vậy được dịch là thung lũng than khóc hay trũng than khóc. Trũng than khóc tượng trưng cho những gian khổ, hoạn nạn, mất mát, hay một nơi chốn, hoàn cảnh, thời điểm vô cùng khó khăn, thử thách mà người trong cuộc phải trải qua. Như bệnh tật, mất việc làm, tài sản, mất danh dự, tiếng tăm, mất người mình thương mến.
Không ai sống trong đời lại không có lần phải qua những trũng than khóc cả. Hội thánh chúng ta đang đi qua trũng than khóc. Nhiều con cái Chúa trong hội thánh đang đi qua trũng than khóc. Một số qua hết trũng than khóc này lại bước vào trũng than khóc khác, tưởng như không bao giờ dứt!
Ba điều có thể nhận xét về các trũng than khóc trong đời sống chúng ta.
Thứ nhất: trong đời sống, trong chuyến hành hương về nước Trời, mỗi chúng ta chắc chắn sẽ trải qua nhiều trũng than khóc trong nhiều giai đoạn của đời sống chớ không chỉ một.
Thứ hai không phải mọi trũng than khóc đều giống nhau. Có trũng âm u, tối tăm hơn, kinh khiếp hơn; có trũng sáng sủa hơn, dễ vượt qua hơn. Chiều dài, chiều rộng, chiều sâu của các trũng than khóc khác nhau. Mất iphone dễ hơn mất chiếc xe; nhưng thà mất chiếc xe còn hơn mất căn nhà. Nhưng thà mất căn nhà còn hơn mất người thân yêu trong gia đình. Mất một công việc tạm bợ thì nỗi buồn sẽ qua đi sau vài ba tiếng. Nhưng nếu mất một cơ sở thương mãi mà người đó đã tốn 5-7 năm trời gầy dựng thì nỗi buồn, niềm đau to lớn đến chừng nào.
Điểm thứ ba là dù có khi hai người đi qua cùng một trũng than khóc nhưng phản ứng, thái độ, nỗi buồn của họ có thể hoàn toàn khác nhau. Cảm nhận về sự mất mát tùy thuộc vào niềm tin, vào tình cảm của người đó với điều mình mất, và giá trị người đó đặt vào điều họ đã mất. Hai người bị layoff nhưng thái độ và phản ứng của họ có thể rất khác nhau: một người bi quan, u sầu, một người lạc quan, tin tưởng. Dù chúng ta không thể thay đổi được hoàn cảnh, dù phải đi qua những trũng than khóc mình không muốn, thậm chí tưởng như quá sức, người tin Chúa đều có thể chọn cho mình thái độ, phản ứng, hành động.
Tôi biết có một cặp vợ chồng trải qua một tai nạn xe rất nặng. Người chồng sau khi hồi phục trở lại bình thường nhưng vợ lại trở nên vô cùng cay đắng, khó khăn. Cùng một thung lũng than khóc hai vợ chồng đi qua cùng một lúc, một người lại có sự thay đổi không ngờ, trở nên cay đắng, khó khăn.
Qv cũng nhớ câu chuyện của Gióp. Cả hai vợ chồng Gióp mất con cái, tài sản. Gióp mất cả sức khỏe, nhưng vợ Gióp thì không. Tuy nhiên Gióp lại không trách móc ĐCT nhưng vợ Gióp lại khuyên chồng tại sao không rủa xả ĐCT rồi chết còn hơn.
Vua Sau-lơ và Đa-vít. Chỉ vì một bài hát của các phụ nữ khiến vua sinh lòng ghen tức với Đa-vít. Lòng ghen tức kéo dài và ngày càng trầm trọng hơn. Rồi vua quyết định đuổi bắt, tìm giết Đa-vít trong suốt 10-12 năm dài. Cuối đời, vua phải cầu đồng bống vì ĐCT không còn lắng nghe vua. Nhưng qua những trũng than khóc trong khoảng thời gian dài đó, đức tin của Đa-vít trong Chúa càng vững chắc hơn.
KT không dạy rằng người tin Chúa sẽ được bảo đảm rằng sẽ không bao giờ trải qua những trũng than khóc. Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33)
Nhưng KT xác nhận Chúa ban cho chúng ta ba điều trợ giúp mà thế gian không hề có được. Điều thứ nhất là ĐCT không để chúng ta bơ vơ, mồ côi không nơi nương cậy khi qua trũng than khóc, nhưng ban cho ĐTL để yên ủi, động viên, nâng đở: Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. 18 Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi. (Giăng 14:16-18)
Điều thứ hai ĐCT ban cho người tin cậy Ngài là KT gồm những lời hứa vô giá, hoàn toàn tin cậy được để chúng ta có hy vọng: Vì những gì đã được viết từ xưa là được viết để dạy chúng ta, hầu qua sự kiên nhẫn và qua sự khích lệ của Kinh Thánh chúng ta có hy vọng. (Rô-ma 15:4 – BD2011). Khi đi qua trũng than khóc, chúng ta cũng cảm tạ Chúa đã để lại những lời yên ủi, động viên, khuyên bảo, chỉ dạy, đặc biệt trong những bài thi thiên như TT 84 mà chúng ta sẽ đọc sáng nay.
Điều thứ ba ĐCT ban cho là hội thánh. Dù mỗi hội thánh đều có nan đề, nhưng đây là thân thể Đấng Christ. Lời PL dạy: Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. (CV 20:28). Bao nhiêu ngàn năm trôi qua, các đế quốc lớn mạnh nhất từ xưa đến nay đều không còn, nhưng hội thánh Chúa vẫn còn tồn tại.
HT là nơi con dân Chúa đùm bọc nhau qua đức tin, tình yêu thương, qua sự giúp đở, qua lời cầu nguyện. Một châm ngôn Thụy Điển: Niềm vui chia sẻ tăng gấp 2 lần. Nôi buồn chia sẻ vơi phân nữa “Shared Joy Is A Double Joy; Shared Sorrow Is Halved”
Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình. 10 Nếu người nầy sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên! 11 Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được? 12 Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thế chống cự nó; một sợi dây bện ba lấy làm khó đứt. (TĐ 4:10-12)
ĐTL dùng lời KT để đem lại sự bình an mà ĐCJC đã hứa cùng các môn đồ trong đêm cuối trước khi chịu chết: Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33)
Chính nhờ ba điều này, ĐTL và lời hứa của ĐCT trong KT và HT Chúa mà người tin Chúa có thể biến thung lũng than khóc thành nơi có nước tuôn tràn. Và chúng ta chỉ có thể làm điều này khi quyết định, chọn cho mình thái độ, phản ứng, cách cư xử, lời nói, hành động khi qua trũng than khóc.
Trong 66 sách KT, Thi Thiên là nguồn yên ủi, khích lệ to lớn khi chúng ta đi qua những trũng than khóc trong đời sống, như trong thời điểm hiện tại. Qua suốt bao nhiêu thế hệ xưa đến nay, TT là sách được yêu mến và thường dùng hơn trong cơn gian truân. Tại sao? Bởi vì rất nhiều bài TT được tác giả viết về thời gian đi qua trũng than khóc. Như Đa-vít.
Trong số 150 bài TT, Đa-vít viết khoảng 73 bài. Trong số 73 TT Đa-vít viết, có ít nhất 9 bài có đề tựa hay phụ chú về những diễn biến cụ thể đã xảy ra trong khoảng đời từ 10-12 năm dài khó khăn, đen tối nhất khi bị vua Sau-lơ tìm giết cách vô cớ chỉ bởi vì ghen tị. Đa-vít đã phải trải qua biết bao nhiêu trũng than khóc trong những năm tháng này. Tôi gọi 9 bài TT này là những bài hát trong cơn gian truân.
Ít có ai trong qv hình dung một Đ đầy sự sợ hãi, lo lắng, nước mắt dàn dụa. Đây là chính lời Đ viết: Tôi kiệt sức vì than thở. Đêm đêm giường tôi ngập tràn dòng lệ, Chõng tôi ướt đẫm nước mắt. 7 Mắt tôi mờ yếu vì sầu khổ, Trở nên mòn mỏi vì những kẻ thù địch tôi. (6:6 - BDM)
Lạy CHÚA, xin nghe lời cầu nguyện tôi, Xin lắng tai nghe tiếng kêu cứu của tôi. Xin chớ bịt tai trước giọt nước mắt than khóc của tôi. (39:12 – BDM)
Tất cả đều có nhiều lần than khóc. Biết đâu trong số qv đây có người đang khóc thầm trong lòng, không ai biết được. Với một số, trũng than khóc dường như quá sâu đến nỗi không thoát ra được. Trũng đó như một nơi bùn lún, càng cử động, càng lún xâu, càng cố đi tới, càng chìm ngập, không lối thoát. Với một số, trũng than khóc quá hiểm trở, khó khăn, càng đi đường càng tăm tối, không thấy lối ra. Với một số khác tự hỏi tại sao đời tôi lại phải trải qua hết trũng than khóc này đến trũng khóc than nọ. Vượt qua một, hai lại đến cái thứ ba. Bao giờ thì trũng thứ tư lại đến, và liệu tôi có thể vượt qua được hay không?
Cho dù trũng than khóc là điều tất nhiên trong đời sống, không ngoại lệ dù đang trên đường đến nước Trời, nhưng thái độ, phản ứng, hành động có thể hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt trong ba điều: 1) Nguồn sức mạnh chúng ta nương tựa, 2) Thái độ chúng ta thể hiện, 3) Những điều chúng ta để lại
Nguồn sức mạnh chúng ta nương tựa: câu 5 - Phước cho người được sức mạnh nơi Ngài, Và hướng lòng về con đường hành hương đến Si-ôn. Khi có mục đích, khổ nạn có thể dễ chấp nhận và vượt qua. Ví dụ: những người tị nạn tìm tự do, tìm sự sống chấp nhận trả giá đắt vì biết rằng đời sống nơi đất mới đáng giá phải trả.
Thái độ thể hiện: Chú ý câu 6: khi đi ngang qua, đang khi đi qua, họ đi qua, nói lên hình ảnh của sự thay đổi trong lúc người hành hương đi ngang qua trũng khóc lóc, họ thay đổi nơi đó trở nên nơi ơn phước. Họ đào giếng, đào trũng để chứa nước. Mưa từ trời Chúa ban sẽ làm cho giếng, cho trũng thành nơi có nước ngọt để uống, để được thêm sức tiếp tục cuộc hành hương.
Khi qua những khổ nạn trong đời, thái độ chúng ta sẽ được người đời chú ý, quan sát, đánh giá. Nếu chúng ta nguyền rủa, trách móc, cay đắng thì có khác gì người không biết Chúa? Nếu chúng ta trả thù, phá hư thì ai nhìn thấy Chúa trong đời chúng ta?
Người có Chúa không phải là người ăn không được thì phá cho hư hay nếu mình không có thì cũng không ai có được. Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, 3 vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. 4 Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào. (Gia-cơ 1:3-4)
Những điều để lại - để lại ơn phước, để lại nguồn nước giải khát để thêm sức cho những người mõi mệt, kiệt sức, muốn bỏ cuộc. Như con cái Chúa, KT dạy chúng ta phải cậy ơn sức Chúa mà biến đổi những khổ đau trong đời sống trở thành nguồn ơn phước cho những người đi sau.
Thay vì đổ lỗi cho Chúa, cho người, thay vì trở nên cay đắng, tuyệt vọng, chán nản rồi bỏ cuộc, thay vì tội nghiệp cho bản thân, người có Chúa phải dùng thời gian đó như cơ hội để đem lại phước hạnh, tăng thêm niềm tin cho người đang đi tới trong đức tin, đang trên đường tìm kiếm Chúa hay đi đến nước Trời. Biến trũng than khóc thành nơi có mạch nước, có giếng để uống trong khi nắng hạn.
Người khao khát Chúa, khao khát nước Trời cần phải là người khao khát làm sáng danh Chúa trong mọi cảnh ngộ của đời sống, nhất là khi đi qua trũng than khóc.
Trách nhiệm của qv khi qua trũng là đào giếng. ĐCT trong thời điểm sẽ đổ nước đầy trũng, đầy giếng.
Khi xe hỏa (xe lửa) đi qua đường hầm và trở nên tối thăm, bạn đừng ném vé và nhảy xuống xe. Bạn cần ngồi im và tin vào người lái
When a train goes through a tunnel and it gets dark, you don’t throw away the ticket and jump off. You sit still and trust the engineer. (Corrie Ten Boom)
Dù người đời có trở nên cay đắng, chua chát, tuyệt vọng, oán trách Chúa và người khi qua trũng than khóc, người tin Chúa, người hướng lòng và hành hương đến nước Trời phải khác biệt. Chúng ta phải biến trũng đó nên nơi phước hạnh cho người đang đi tới.
Khi hầu việc Chúa chắc chắn qv sẽ đi qua trũng than khóc vì bị vu oan, nói xấu, vì bị hiểu lầm, vì người ta không biết ơn mà còn lại chóng quên… Qv có sự lựa chọn: hoặc bỏ cuộc, hoặc oán hận, thù hằn, cay đắng; hay trở nên kiên nhẫn, ngọt ngào, để lại ơn phước cho người đang đi tới.
Họ cứ tiến bước, sức lực càng gia tăng Cho đến khi trình diện trước mặt Đức Chúa Trời y tại Si-ôn. Họ đi tới, sức lực lần lần thêm; Ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn.
Chúng ta có thể chùng bước, vấp ngã, sợ hãi. Người này có thể đi nhanh hơn người khác; có người chạy có người chỉ lê lết bước đi! Có người mạnh, có kẻ yếu. Nhưng tất cả, mọi người rồi sẽ đến Si-ôn, sẽ đều ra mắt Chúa tại Si-ôn, hay tại nước Trời. Đây cũng là một lời hứa quí báu cho người tin Chúa. Lời hứa này được Phao-lô xác nhận: Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ (Phi-líp 1:6)
Không phải từ lúc khởi đầu cuộc hành hương, chúng ta đều có đầy đủ sức, nhưng càng đi tới, sức lực lần thêm. Chúa muốn chúng ta đi từng bước và sẽ cho đủ sức cho từng bước. Để chúng ta khỏi kiêu hảnh, tự phụ, so sánh và để biết nương tựa vào Chúa chúng ta.
KHAO KHÁT NHẬN ƠN PHƯỚC CHÚA
9-12: Lạy Đức Chúa Trời, là cái khiên che chở chúng tôi, Xin hãy xem, hãy đoái thương kẻ xức dầu của Ngài. 10 Vì một ngày trong sân đền của Ngài Quí hơn cả ngàn ngày ở nơi khác; Tôi thà làm người gác cổng nhà Đức Chúa Trời Hơn là ở trong nhà kẻ ác. 11 Vì CHÚA, Đức chúa Trời là mặt trời, là cái khiên; Ngài ban ân huệ và vinh quang; CHÚA không từ chối điều tốt lành nào Cho những kẻ sống ngay thẳng. 12 Lạy CHÚA Vạn Quân, Phước thay cho người tin cậy nơi Ngài.
Những bài hát trong cơn gian truân này là món quà vô cùng quí báu cho tôi và qv khi chúng ta đi qua trũng than khóc. Dưới đây là 9 bài TT về những diễn biến xảy ra trong khoảng đời đen tối đó:
1. TT 7 - Thơ Đa-vít làm, và hát cho Đức Giê-hô-va về việc Cút, là người Bên-gia-min. 1 Sa-mu-ên 26:1. Một số nhà giải Kinh giải thích rằng Cút (nghĩa là đen) là hình ảnh của người hay nhóm người ghét Đ và tố cáo nơi Đ trốn với vua Sau-lơ. TT 7 có thể gọi là bài hát của người bị vu oan vô cớ.
2. TT 34 – Thơ Đa-vít làm, khi người giả bộ điên dại trước mặt A-bi-mê-léc, và bị người đuổi đi. - 1 Sa-mu-ên 21:10-14
3. TT 52 - Thơ Đa-vít làm, để dạy dỗ, khi Đô-e, người Ê-đôm, đến cho Sau-lơ hay rằng: Đa-vít đã vào nhà A-bi-mê-léc – 1 Sa-mu-ên 22:6-23
4. TT 54 - Thơ Đa-vít làm, để dạy dỗ, khi người Xíp đến nói cùng Sau-lơ rằng: Đa-vít há chẳng ẩn núp giữa chúng tôi sao? – 1 Sa-mu-ên 23:19; 26:1
5. TT 56 - Thơ Đa-vít làm, khi dân Phi-lít-tin bắt người trong thành Gát. – 1 Sa-mu-ên 21:11-16
6. TT 57 - Thơ Đa-vít làm, khi người chạy trốn trong hang đá, khỏi Sau-lơ. – 1 Sa-mu-ên 22:1
7. TT 59 - Thơ Đa-vít làm, khi Sau-lơ sai canh giữ nhà người đặng giết người. – 1 Sa-mu-ên 19:11-17
8. TT 63 - Thơ Đa-vít làm, khi người ở trong rừng vắng Giu-đa – 1 Sa-mu-ên 23:14; 24:1
9. TT 142 - Thơ dạy dỗ Đa-vít làm, khi ở trong hang đá. Bài cầu nguyện – 1 Sa-mu-ên 22:1; 24:1-7
Tôi xin được trích đọc một vài câu từ các bài TT này để qv có thể nghe được tiếng than khóc cũng như thấy được sự yên ủi tìm được trong Chúa. Qua những ngày tháng dài đen tối này, Đa-vít chỉ biết nương cậy vào Chúa, hiểu rõ rằng có những lúc trong đời sống khi bị người bỏ rơi, phụ bạc, bán đứng thì ông vẫn còn Chúa, vẫn có thể đặt niềm tin, hy vọng vào Ngài.
Thơ Đa-vít làm, khi người giả bộ điên dại trước mặt A-bi-mê-léc, và bị người đuổi đi: Kẻ khốn cùng này kêu cầu, CHÚA nghe lời người, Và giải cứu người khỏi mọi điều khốn khổ… CHÚA ở gần những người có tấm lòng đau thương, Và cứu những người có tâm linh thống hối. (34:6, 18 - BDM)
Thơ Đa-vít làm, khi người chạy trốn trong hang đá, khỏi Sau-lơ: Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi, xin thương xót tôi, Vì linh hồn tôi nương náu nơi Chúa! Phải, tôi nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa, Cho đến chừng tai họa đã qua. (57:1, 9-11)
Thơ dạy dỗ Đa-vít làm, khi ở trong hang đá: Tôi cất tiếng kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va; Tôi cất tiếng cầu khẩn Đức Giê-hô-va. 2 Ở trước mặt Ngài tôi tuôn đổ sự than thở tôi, bày tỏ sự gian nan tôi. 3 Khi tâm hồn nao sờn trong mình tôi,thì Chúa đã biết nẻo đàng tôi. (142:1-3)
