Hy Vọng Vào Đấng Sống Lại
Nền tảng của Cơ Đốc Giáo dựa vào hai sự kiện lịch sử đã xảy ra trong một thời điểm cụ thể 2000 năm trước: sự chết và sống lại của ĐCJC. Đây cũng là 2 sự kiện chính yếu và quan trọng nhất của niềm tin Cơ Đốc. Sự chết và sống lại của ĐCJC cũng như hai mặt của một đồng bạc.
Nếu ĐCJC đã không chịu chết trên thập giá, chúng ta sẽ không có sự tha thứ và sự cứu tội. Nếu ĐCJC đã không thật sự chết trên thập giá, thì sự sống lại của Ngài có nghĩa gì? Thì tại sao hàng năm hàng tỉ tín đồ lại kỷ niệm sự Chúa sống lại? Không có sự sống lại, như lời sứ đồ PL viết: nếu Đấng Christ đã không sống lại thì sự rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích… Và nếu Đấng Christ không sống lại thì đức tin của anh em cũng vô ích, và anh em vẫn còn ở trong tội lỗi mình. (1 Cô-rinh 15:14, 17)
Nếu ĐCJC đã không chết và sống lại, niềm tin Cơ Đốc hoàn toàn vô nghĩa, giả dối, không có gì đáng để tin. Và cũng theo lời của PL nếu Chúa đã không sống lại thì trong tất cả mọi người trên đất này, người tin Chúa là những người đáng thương hại hơn hết. (1 Cô-rinh-tô 15:19)
Khi nghe câu chuyện phục sinh, nhiều người sẽ có hai câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là sự sống lại của ĐCJC có thật đã xảy ra hay không? Làm sao có thể tin vào sự sống lại của ĐCJC? Chẳng phải chúng ta là những người văn minh, tiến bộ, tin vào khoa học, kỷ thuật hay sao? Làm sao người văn minh, hiện đại có thể tin vào một câu chuyện “hoang đường” này?
Câu hỏi thứ hai là sự Chúa sống lại có ý nghĩa gì, có liên hệ gì đến đời sống người tin Chúa. Có biết bao nhiêu sự kiện lịch sử, thậm chí phép lạ đã xảy ra nhưng chẳng hề liên hệ, ảnh hưởng gì đến đời tôi. Vào năm 1969 lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một phi hành gia Hoa Kỳ đã đặt chân lên mặt trăng. Tuy nhiên sự kiện lịch sử quan trọng này không ảnh hưởng gì đến cuộc đời của tôi và qv tại đây cả. Mục đích bài giảng sáng nay nhằm trả lời hai câu hỏi quan trọng và thực tế này.
CHÚA JESUS CÓ THẬT SỰ SỐNG LẠI?
Câu hỏi đầu tiên là làm thế nào chúng ta có thể tin sự phục sinh của ĐCJC là một sự thật?
Khi tôi hỏi nhiều người họ hiểu thế nào về Tin Lành, về ĐCJC, về sự chết và sống lại của ĐCJC thì nhiều người giải thích thế này: Đạo nào cũng tốt cả. Đạo nào cũng dạy con người ăn hiền ở lành. Giê-xu là một thầy dạy tôn giáo, đạo đức đáng kính trọng. Ngài dạy người ta phải yêu thương, tha thứ, giúp đở nhau; thậm chí phải hy sinh cho nhau. Nhưng rồi theo năm tháng, các môn đồ Giê-xu muốn thần thánh hóa Giê-xu là chúa nên thêu dệt thêm những phép lạ, chuyện này chuyện nọ, gọi Giê-xu là con ĐCT, chết cho tội loài người rồi sống lại vào ngày thứ ba. Sự sống lại của Giê-xu chỉ là một huyền thoại!
Suy nghĩ và lý lẽ này chỉ đúng theo tiểu thuyết và phim ảnh Hollywood!
Trong quyển sách The Heart of the Buddha's Teaching (Cốt Lõi của Lời Phật Dạy) thượng tọa Thích Nhất Hạnh viết: Trong vòng 400 năm trước và sau khi Phật mất, lời dạy của Ngài chỉ được truyền khẩu. Sau đó, những tu sĩ trong phái Tamrashatiya (những người mặc áo cà sau màu đồng) tại xứ Sri Lanka, bắt đầu nghĩ đến việc ghi lại những bài thuyết pháp của Phật trên lá, nhưng phải đến 100 năm sau mới bắt đầu. Đến lúc đó, truyền thuyết là chỉ có một tu sĩ thuộc hết cả kinh (lời Phật dạy) nhưng ông có phần hơi kiêu ngạo. Các tu sĩ khác thuyết phục người tu sĩ đó đọc lại để họ có thể viết xuống. Khi chúng ta nghe điều này, chúng ta cảm thấy hơi khó chịu biết rằng một tu sĩ cao ngạo có thể không phải là một công cụ tốt nhất để truyền đạt lại lời Phật dạy. Sau 500 huyền thuyết sẽ xảy ra.
Trái lại tất cả 27 thư tín và sách trong KTTU không viết ra sau vài thế kỷ nhưng trong vòng từ 15 đến 60 năm sau khi ĐCJC chết và sống lại, khi còn rất nhiều nhân chứng sống. Huyền thoại chỉ được thêu dệt sau nhiều thế hệ, hàng 100, 1000 năm, khi không còn một nhân chứng nào còn sống để làm chứng. Tôi sẽ giải thích rõ hơn về điểm này trong phần tới của bài giảng.
Có thể một số qv hiện diện tại đây hoài nghi về sự Chúa sống lại. Sự kiện này có thật hay không? Qv không phải là người ngoại lệ vì chính các môn đồ đầu tiên sau khi nghe lời của những phụ nữ từ mồ trở về thì họ cũng không tin: Từ mộ ra về, họ báo tin này cho mười một sứ đồ và tất cả các môn đệ khác. 10 Các phụ nữ gồm có: Ma-ri Ma-đơ-len, Giô-a-na và Ma-ri mẹ của Gia-cơ và các phụ nữ khác. Họ thuật lại mọi việc ấy cho các sứ đồ. 11 Nhưng các sứ đồ cho các lời ấy là vô lý nên không tin. (Lu-ca 24:9-11 - BDM)
Nhiều ngày sau đó, một số môn đồ vẫn không tin vào sự Chúa sống lại: Mười một môn đồ đi qua xứ Ga-li-lê, lên hòn núi mà Đức Chúa Jêsus đã chỉ cho. 17 Khi môn đồ thấy Ngài, thì thờ lạy Ngài; nhưng có một vài người nghi ngờ. (Ma-thi-ơ 28:16-17)
Tôi nêu ra sự hoài nghi của các môn đồ vì có rất nhiều người hôm nay có một lý lẽ khi mới nghe qua bùi tai nhưng thật ra rất thiên vị rằng người ngày xưa dễ tin phép lạ nên dễ tin vào sự Chúa sống lại hơn người ngày nay. Thật người ngày xưa có thể dễ tin vào phép lạ, nhưng không có nghĩa là người ngày xưa ngây thơ đến nỗi tin vào mọi điều mù quáng. Theo tôi biết không ai có thể chứng minh chỉ số IQ về độ thông minh của con người xưa kém hơn người ngày nay hay chỉ số IQ này tăng thêm theo thời gian.
Tại sao các môn đồ đầu tiên của ĐCJC cũng hoài nghi về sự Chúa sống lại? Vì?sự thật là người chết không sống lại. Một lý do quan trọng khác là bởi vì họ là người DoThái. Ngay cả người Sa-đu-sê thời đó cũng không tin vào sự sống lại của người chết và họ phản đối PL khi PL đề cập đến sự sống lại (CV 23:8). Người Pha-ri-si thì tin. Tuy nhiên người DT chỉ tin vào sự sống lại của mọi người trong ngày cuối để chịu phán xét, chứ không tin vào sự sống lại của một người như ĐCJC trước ngày phán xét cuối cùng. Người DT chống đối mọi lời dạy rằng một người có thể là Con ĐCT, có thể sống lại từ cõi chết như Giê-xu. Đây cũng chính là lý do các lãnh đạo tôn giáo người DT thời đó buộc tội ĐCJC là phạm thượng và xử chết Ngài.
Tôi chỉ xin nêu lên ba lý do chính sau đây để giúp qv suy nghĩ về sự Chúa sống lại là thật: 1) Lời làm chứng của các phụ nữ; 2) Vẫn còn rất nhiều nhân chứng về sự Chúa sống lại khi cách sách PA và thư TU được viết; 3) Sự thay đổi kỳ diệu trong cuộc đời các môn đồ và sự truyền bá Tin Lành
Lời chứng của các phụ nữ
Chúng ta chú ý chỉ trong 8 câu từ Mác 15:40 cho đến Mác 16:1, Mác ghi lại 4 lần tên của 3 người phụ nữ khi ĐCJC chết trên thập giá, khi xác Chúa được để vào một ngôi mộ, và khi họ đến mồ sáng Chúa nhật để tẩm liệm xác Chúa, và sau khi Chúa sống lại.
Khi ĐCJC chết thập giá: Bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới. 39Viên đội trưởng đứng đối diện với Ngài, thấy Ngài tắt thở như thế thì nói: “Người nầy thật là Con Đức Chúa Trời!” 40Cũng có những phụ nữ từ đàng xa nhìn xem, trong số ấy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ nhỏ và của Giô-sê, và Sa-lô-mê, 41là những người đã theo và phục vụ Ngài khi còn ở Ga-li-lê, và nhiều phụ nữ khác là những người cùng lên Giê-ru-sa-lem với Ngài. (Mác 15:38-41)
Khi xác Chúa được để vào một ngôi mộ: Sau khi Giô-sép A-ri-ma-thê, thành viên tòa thẩm phán tối cao DT (Sanhedrin) bấy giờ đến gặp Phi-lát để xin xác Chúa và chôn Ngài vào một ngôi mộ đục trong đá: Sau khi mua một tấm vải gai, ông (Giô-sép A-ri-ma-thê) đem Ngài xuống, quấn vải quanh thi hài, và đặt Ngài trong mộ đã được đục trong đá; rồi ông lăn một tảng đá chận cửa mộ. 47Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri mẹ Giô-sép đều thấy nơi mai táng Ngài. (mộ nơi xác Chúa đặt). (Mác 15:47)
Khi các phụ nữ đem thuốc thơm đến để tẩn liệm xác Chúa: Ngày sa-bát qua rồi, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ, và Sa-lô-mê mua hương liệu để đi xức xác Đức Chúa Jêsus. (16:1)
Khi ĐCJC đã sống lại từ cõi chết: 8Vừa ra khỏi mộ, các bà đều chạy trốn vì quá kinh ngạc và run sợ. Họ chẳng dám nói gì với ai vì quá khiếp đảm. 9Khi Đức Chúa Jêsus sống lại vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần lễ, trước hết Ngài hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len, là người đã được Ngài trừ khỏi bảy quỷ dữ. 10Bà đi báo tin cho những người đã từng theo Ngài đang sầu than, khóc lóc. 11Nhưng khi nghe rằng Ngài đang sống và chính bà đã thấy thì họ không tin. (Mác 16:8-10)
Chúng ta hỏi Mác có dụng ý gì? Tại sao chỉ trong 8 câu, Mác lại lập đi lập lại 4 lần tên của 3 phụ nữ này: Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ và Giô-sê và Sa-lô-mê? Học giả người Anh tên Richard Bauckham viết một quyển sách có tựa là Jesus and the Eyewitnesses – The Gospels As Eyewitness Testimony (Giê-xu và Các Nhân Chứng – Các sách PA như lời làm chứng). Ông giải thích câu chuyện về các phụ nữ đến ngôi mộ nơi đặt xác Chúa và kinh nghiệm về ngôi mộ trống không phải là huyền thuyết nhưng là lời làm chứng của người đã chính mắt thấy, tai nghe kể lại.
Học giả Bauckham giải thích lý do Mác lập lại nhiều lần tên của các phụ nữ bởi vì họ là những nhân chứng vẫn còn đang sống khi Mác ghi lại câu chuyện về sự chết và sống lại của ĐCJC trong sách phúc âm. Các phụ nữ này là những người đã chứng kiến tận mắt sự chết và sống lại của ĐCJC. Sử gia ngày xưa đặt trọng lời làm chứng của những người đã chứng kiến sự kiện xảy ra và vẫn còn sống khi các văn liệu được viết. Vì mọi người đều có thể kiểm chứng lại sự trung thực với các nhân chứng vẫn còn sống.
Một số qv có thể vẫn còn hoài nghi lời giải thích của học giả Bauckham. Tôi xin nêu lên một bằng chứng khác. Celsus, một triết gia Hy Lạp sống vào thế kỷ thứ 2 sau Chúa, cũng là người chống đối đạo Chúa kịch liệt. Ông khinh bỉ người tin Chúa và niềm tin vào ĐCJC. Để nêu lên bằng chứng rằng niềm tin vào sự sống lại của Giê-xu chỉ là dối trái, ông giải thích như sau: Một trong những lý do chúng ta biết đạo Cơ Đốc không thể thật bởi vì lời làm chứng về sự sống lại của Giê-xu dựa vào lời làm chứng của các phụ nữ! Và tất cả những người học thức chống đối đạo Chúa thời đó đều hoàn toàn đồng ý với lý luận này.
Tại sao? Bởi vì thời đó lời làm chứng của phụ nữ không được chấp nhận trước tòa án. Chính điều này xác nhận sự trung thực của câu chuyện kể trong Mác và các sách PA về sự Chúa sống lại và ngôi mồ trống. Bởi vì nếu Mác hay các môn đồ thêu dệt câu chuyện Chúa chết và sống lại thì tại sao ông lại nêu tên của các phụ nữ này 4 lần trong 8 câu KT như nhân chứng sống cho sự chết và sống lại của ĐCJC? Nếu sự sống lại của ĐCJC là một câu chuyện thêu dệt, hay huyền thoại bởi Mác, bởi các tín đồ và hội thánh đầu tiên, chắc chắn họ sẽ không bao giờ dùng những người phụ nữ để làm nhân chứng.
Giải thích duy nhất và hợp lý nhất là bởi vì các phụ nữ này thật sự đã nhìn thấy tận mắt, nghe tận tai về sự chết của ĐCJC trên thập giá, khi xác Ngài được lấy xuống từ thập giá, khi được đặt vào ngôi mộ cắt bằng đá. Sau đó vào sáng sớm ngày đầu tuần, tức Chúa nhật, họ đem thuốc thơm đến mộ để liệm xác Chúa. Và khi đến họ không còn thấy xác Chúa Giê-xu mà chỉ thấy một ngôi mộ trống và nghe lời của thiên sứ phán cùng họ rằng ĐCJC đã sống lại từ cõi chết.
Không chỉ Mác nhưng cả 4 sách PA đều ghi lại sự kiện Chúa sống lại hiện ra đầu tiên cùng những người phụ nữ. Song thiên sứ nói cùng các người đàn bà đó rằng: Các ngươi đừng sợ chi cả; vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus, là Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá. 6 Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm; 7 và hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại. (Ma-thi-ơ 28:5-7)
Cả 4 PA đều ghi lại rằng Ma-ri Mác-đơ-len là người đầu tiên thuật lại việc Chúa sống lại cho các sứ đồ. Từ mộ ra về, họ báo tin này cho mười một sứ đồ và tất cả các môn đệ khác. 10 Các phụ nữ gồm có: Ma-ri Ma-đơ-len, Giô-a-na và Ma-ri mẹ của Gia-cơ và các phụ nữ khác. Họ thuật lại mọi việc ấy cho các sứ đồ. 11 Nhưng các sứ đồ cho các lời ấy là vô lý nên không tin. (Lu-ca 24:9-11 – BDM)
Trong thời đó người phụ nữ không được thừa hưởng của cải, không được làm chứng khi ra tòa. Lời chứng của phụ nữ không được chấp nhận, không có giá trị gì khi ra tòa. Đối với người La-mã, phụ nữ hoặc để làm vợ, hoặc làm tình nhân, hoặc làm tôi tớ. Với người Do Thái, các thầy dạy kinh luật khi cầu nguyện họ cám ơn Chúa vì không phải là người phụ nữ! Vậy tại sao KT viết rằng khi sống lại ĐCJC hiện ra đầu tiên cùng các phụ nữ và chính những người đàn bà này làm chứng lại về sự Chúa sống lại?
Hơn nữa người đầu tiên ĐCJC hiện ra sau khi sống lại là bà Ma-ri Mác-đơ-len, một phụ nữ trong quá khứ đã bị nhiều quỉ ám. Nếu hội thánh đầu tiên dựng nên chuyện Chúa sống lại, lý do gì lại dùng phụ nữ như những nhân chứng đầu tiên khi Chúa sống lại, nhất là một phụ nữ đã bị quỉ ám? Chẳng phải 12 sứ đồ đều là nam giới hay sao?
Vẫn còn các nhân chứng về sự Chúa sống lại khi KTTU viết
Chỉ một thời gian ngắn gần 2 tháng sau khi ĐCJC bị đóng đinh đến chết và sống lại thì Phi-e-rơ giảng bài giảng đầu tiên tại thành Jerusalem và 3000 người tin Chúa. Trong bài giảng đó Phierơ đã nêu lên việc Chúa sống lại như một bằng chứng: Đức Chúa Jêsus nầy, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó. (CV 2:32). Nếu ĐCJC không thực sự sống lại thì lời chứng của P. đã bị vạch trần là lời dối vì trong số ngàn người nghe rất nhiều người cũng biết rõ điều này.
Độ 15 năm sau đó khi PL viết thư gởi cho hội thánh Cô-rinh-tô ông lại nêu lên việc ĐCJC đã sống lại: Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; 5 và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha[Phi-e-rơ], sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ. 6 Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi. 7 Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ. 8 Rồi lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy. (1 Cô-rinh-tô 15:4-8) PL khẳng định sau khi Chúa sống lại, Ngài hiện ra cho nhiều người. Một lần cho hơn 500 người và trong số những người đó, phần nhiều vẫn còn sống.
Khi PL bị xử trước vua Ạc-ríp-ba và thống đốc Phê-tu, ông được phép để tự biện hộ. PL nói về sự chết và sống lại của ĐCJC: Chúa Cứu Thế sẽ phải chịu thương khó nhưng sẽ sống lại đầu tiên trong số những người đã chết, rồi công bố ánh sáng cho dân Ngài và các dân tộc ngoại quốc. (CV 26:23) Khi nghe những lời này thống đốc Phê-tu lớn tiếng ngắt lời PL: "Ngươi điên rồi, Phao-lô ơi! Ngươi học quá nhiều đến nỗi quẫn trí!". Nhưng qv nghe PL trả lời: "Thưa ngài thống đốc, tôi không điên đâu! Tôi chỉ nói lên sự thật và những lời hợp lý. 26 Đức vua thừa biết những sự kiện này nên tôi bạo dạn trình bày. Tôi tin chắc rằng trong những việc này, chẳng có điều nào che giấu được đức vua vì sự việc không xảy ra trong bóng tối đâu! (CV 26:25-26) Ngay cả vua Ạc-ríp-ba cũng biết sự kiện Chúa sống lại. PL nói rằng phục sinh là một sự kiện thật đã xảy ra trong lịch sử và có rất nhiều nhân chứng vẫn còn đang sống khi các tác giả TU ghi lại sự kiện này.
Sự thay đổi kỳ diệu trong cuộc đời các sứ đồ và sự truyền bá Tin Lành
Một câu chuyện thật kể về một triết gia người Anh sống trong thế kỷ 19 không tin Chúa muốn lập một tôn giáo mới vượt trên cả đạo Chúa. Người bạn ông, cũng là một triết gia, khi nghe vậy không ấn tượng lắm, nói với bạn mình: Tôi sẽ tin anh và theo tôn giáo mới của anh khi anh làm đủ ba điều đơn giản này. Thứ nhất anh phải sống một cuộc đời hoàn toàn thánh khiết, dấn thân cho đời. Thứ hai anh phải chịu đóng đinh đến chết trên thập tự giá. Thứ ba sau khi đã chết, anh sẽ sống lại vào ngày thứ ba từ trong mộ tối. Khi nào anh có thể làm được ba điều này, tôi sẽ theo tôn giáo anh.
Tìm hết cả xứ chưa được một người sống cuộc đời hoàn toàn thánh khiết, hy sinh cho phúc lợi người khác. Cũng chưa có một ai sống thánh khiết, hy sinh mà lại bị xử tử đến chết. Và dĩ nhiên chưa một ai sau khi bị xử tử đến ngày thứ ba sống lại.
Trước đó các môn đồ là những người hèn nhát bỏ chạy khi Chúa bị bắt, chối Chúa khi bị vấn hỏi, bỏ trốn vì sự bị bắt. Sau khi Chúa sống lại họ trở nên những người can đảm lạ thường, như Peter từ một người chối Chúa trở nên một người sẵn sàng chịu chết vì Tin Lành. Ngoại trừ sứ đồ Giăng, tất cả các sứ đồ Chúa chọn đều bị giết vì niềm tin của họ vào ĐCJC, vì họ rao giảng TL.
PA Giăng ghi lại câu chuyện các môn đồ gồm cả Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng trở lại vùng biển Ga-li-lê, nơi họ sinh ra, lớn lên để trở lại nghề đánh cá. Rồi ĐCJC hiện ra cùng họ. Chúa ăn uống và trò chuyện cùng họ. Chúa hỏi P. 3 lần ngươi có yêu ta chăng và căn dặn nếu yêu ta, hãy chăn chiên ta. Sau đó P. và các môn đồ một lần nữa bỏ nghề đánh cá mà theo lời dạy của Chúa mà rao giảng TL về sự chết và sống lại của ĐCJC. Không một bài giảng nào của P. trong sách CV lại không nói về sự sống lại của ĐCJC.
Lý do gì khiến họ hoàn toàn thay đổi như vậy? Câu trả lời là vì ĐCJC đã thật sự sống lại và đã hiện ra cùng họ.
THAY ĐỔI NHƯ CHÚA ĐÃ THAY ĐỔI CÁC SỨ ĐỒ
Tôi muốn nói rõ là khi KT viết ĐCJC đã sống lại, KT không hề có ý là ý tưởng, lời dạy, tấm gương của Ngài vẫn còn “sống” cho đến hôm nay. Như khi người VN chúng ta nói về Bà Trưng, bà Triệu, về Nguyễn Du hay về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Những người này đã chết và vẫn còn chết! Khi nói Nguyễn Du và tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Thúy Kiều) vẫn còn sống trong giòng văn học VN thì không có nghĩa Nguyễn Du vẫn còn sống. Mà chỉ có ý ND là một nhà văn hào lớn trong lịch sử văn học VN mà hễ khi nào còn nước VN là người Việt vẫn còn nói về ông, về những tác phẩm văn chương của ông để lại từ mấy trăm năm qua mãi cho đến hôm nay.
Khi nói Chúa đã sống lại thì KT dạy rằng ĐCJC đã thật sự sống lại từ cõi chết trong thân thể. Hiện Ngài đang ngồi bên phải ĐCT, tức một vị trí quyền uy như ĐCT. Nếu Jêsus đã không sống lại thì Ngài chỉ để lại những lời dạy như các nhà lãnh đạo tôn giáo như Phật, các thông thái, triết gia, học giả như Khổng Tử, Lão Tử, như Aristotle hay Plato. Chúng ta không thể trò chuyện cùng Ngài và Ngài cũng không thể trò chuyện cùng chúng ta. ĐTL của ĐCT cũng không thể là một nguồn sống đến ngự vào lòng tôi và quí vị để thay đổi cuộc đời chúng ta. Và đạo Chúa cũng chẳng khác gì với những tôn giáo khác, cũng chỉ là một tôn giáo không sự sống, tôn thờ đấng chết.
Vì ĐCJC đã sống lại từ cõi chết nên sự chết không còn là kẻ thù cuối cùng, đáng sợ hơn hết đối với người tin Chúa. Bên kia cánh cửa đen tối, u buồn, sầu thảm của sự chết là ánh sáng của một đời sống mới vĩnh cửu. Tại nơi đó ĐCT sẽ lau sạch tất cả nước mắt nơi mắt họ, sẽ không còn chết chóc, tang chế hoặc khóc than hay đau khổ nữa, vì những việc trước đã qua rồi (KH 21:4). Đây là lý do người tin Chúa không khủng hoảng, sợ hãi khi đối diện với sự chết.
Sự sống lại của ĐCJC cũng là bằng chứng ĐCT có thể hoàn toàn thay đổi, hoàn toàn đổi mới lại hoàn cảnh mà trước đó tưởng như tuyệt vọng. Sự sống lại của ĐCJC không phải chỉ là sự thật nhưng còn có quyền năng thay đổi, tái tạo đời sống mà người tin Chúa có thể kinh nghiệm được. Câu hỏi là làm thế nào để sự sống lại của ĐCJC thay đổi đời sống của tôi và qv như Chúa đã thay đổi cuộc đời của các môn đồ xưa.
Biết bao nhiêu người tôi và qv biết (cũng có thể một số qv đây!) đều mơ ước: phải chi tôi có thể lấy lại 10-20 năm khi còn trẻ, sức lực còn mạnh mẽ; phải chi tôi có thể lấy lại vài năm thì tình bạn (hôn nhân) đâu đến nỗi đổ vỡ như vầy; phải chi tôi có thể trở lại, làm lại từ đầu để tránh bao nhiêu lầm lỗi, thất bại trong công việc, trong quan hệ gia đình, quan hệ trong hội thánh; phải chi tôi có thể dọn sách đống gạch đổ nát tại nơi làm việc, trong gia đình, HT do chính lỗi của tôi gây ra để bắt đầu lại từ đầu.
Đây là một ước nguyện thường xuyên nhất của mỗi chúng ta: mọi việc có thể được đổi mới, có thể bắt đầu lại từ đầu. Bên dưới tất cả ước mơ này là sự sống lại, sự đổi mới.
Ngày thứ Sáu ĐCJC chết trên thập giá đau đớn, tủi nhục. Mọi hy vọng của các môn đồ đều hoàn toàn tan vỡ. Nhưng đến sáng Chúa nhật, ĐCJC sống lại, thay đổi hoàn toàn cục diện. Sự sống đã nuốt thắng sự chết, kẻ thù cuối cùng, đáng sợ nhất mà mọi người đều phải đối diện. Từ tuyệt vọng, các phụ nữ, các môn đồ tràn đầy niềm vui, hy vọng và có mục đích mới cho đời sống.
Để sự sống lại của ĐCJC thay đổi cuộc đời, điều đầu tiên và quan trọng hơn hết qv cần nhận lấy một món quà, sự ban cho từ Chúa: đức tin. Khi Ma-ri Mác-đơ-len và các phụ nữ thấy ngôi mồ trống, họ phản ứng thế nào? Đây là những người đã chứng kiến bao nhiêu phép lạ chửa bệnh, làm cho người chết sống lại trong 3 năm theo Chúa. Chính tai họ cũng đã nghe lời Chúa nói rằng Ngài sẽ nộp, bị giết nhưng đến ngày thứ 3 sẽ sống lại.
Khi thấy ngôi mồ trống, không còn xác Chúa, với đức tin vào ĐCJC, lẽ ra Ma-ri M. và các phụ nữ phải vui mừng và bảo với nhau: Thật lời Chúa đã ứng nghiệm! Ngài đã thật sự sống lại rồi! Nhưng khi thiên sứ nói với họ: Đừng sợ, các bà tìm Đức Giê-su người Na-xa-rét đã bị đóng đinh. Ngài sống lại rồi, không còn ở đây. Hãy xem chỗ người ta đặt Ngài. 7Hãy đi nói cho các môn đệ của Ngài và cho Phê-rơ hay rằng Ngài đi trước các ông tới Ga-li-lê; tại đó các ông sẽ thấy Ngài như Ngài đã bảo các ông (Mác 16:6-7). Họ phản ứng thế nào? Ra khỏi mộ, họ bỏ chạy vì run rẩy và kinh khiếp; họ không dám nói gì với ai vì sợ hãi. (Mác 16:8). Còn Ma-ri M. thì than khóc vì không biết người ta lấy xác thầy đem đi đâu rồi!
Các sứ đồ cũng không hơn gì? Bà ấy đi báo tin cho những người đã từng ở với Ngài đang buồn rầu và khóc lóc. 11Khi nghe rằng Ngài đang sống và bà ấy đã thấy Ngài, họ không tin. (Mác 16:10-11)
Từ mộ ra về, họ báo tin này cho mười một sứ đồ và tất cả các môn đệ khác. 10Các phụ nữ gồm có: Ma-ri Ma-đơ-len, Giô-a-na và Ma-ri mẹ của Gia-cơ và các phụ nữ khác. Họ thuật lại mọi việc ấy cho các sứ đồ. 11Nhưng các sứ đồ cho các lời ấy là vô lý nên không tin. (Lu-ca 24:9-11)
Vậy nếu Ma-ri M., các phụ nữ, các môn đồ dù đã sống với ĐCJC 3 năm, nhìn thấy những phép lạ Chúa làm mà vẫn không tin, thì không ai trong chúng ta có thể nói tôi sẽ có đức tin vào sự sống lại của ĐCJC. KT dạy đức tin là một món quà, tặng phẩm đến từ ĐCT, đúng hơn đến từ ĐTL. Đức tin là khi chúng ta đến với Chúa và thưa với Ngài: Chúa ơi, con đầy những nghi ngờ, đức tin còn quá yếu đuối. Xin tha thứ cho sự thiếu đức tin của con, tha thứ cho tội lỗi con. Xin giúp cho con tin Ngài, tin vào sự chết và sống lại của ĐCJC.
Khi đến với Chúa, qv không thể có điều kiện cho Ngài. Như Thô-ma ra điều kiện để tin Ngài: Nếu tôi không thấy dấu đinh ở bàn tay Ngài, không đặt ngón tay tôi vào dấu đinh đó và không đặt tay tôi vào hông Ngài, thì tôi không tin! (Giăng 20:25) Sau đó ĐCJC hiện ra và nói với Thô-ma: Hãy đặt ngón tay con vào đây và xem hai bàn tay Ta. Hãy lấy tay đặt vào hông Ta! Đừng nghi ngờ, nhưng hãy tin! (Giăng 20:27). Rồi Chúa nói với Thô-ma: “Có phải con tin vì thấy Ta không? Phước cho những người chưa được thấy mà đã tin Ta.” (Giăng 20:29).
Chúa không chỉ nói về bằng chứng cho Thô-ma nhưng còn nói với các môn đồ và tất cả chúng ta: Ta hy sinh tất cả cho con, cả danh dự, cả mạng sống thì tại sao quá khó cho các con tin tưởng vào Ta?
Hãy bỏ tất cả điều kiện, đến với Chúa, xưng với Ngài về sự thiếu đức tin, về tội loi để xin Chúa tha thứ và ban cho đức tin qua ĐTL như Ngài đã ban Thánh Linh cho các môn đồ khi hiện ra cùng họ.
Đức tin như kiến trước của xe. Nếu nhìn vào kiến, chúng ta sẽ bị tai nạn. Nhưng khi nhìn qua kiến, chúng ta sẽ thấy rõ mọi vậy. CS Lewis giải thích thế này: Tôi tin đạo Chúa như tôi tin mặc trời đã mọc: không phải chỉ vì tôi thấy nó, nhưng bởi vì qua ánh sáng mặt trời tôi thấy mọi điều khác (I believe in Christianity as I believe that the sun has risen: not only because I see it, but because by it I see everything else.)
Hãy đến với Đấng đã sống lại, đúng hơn Đấng là sự sống lại để nhận được đức tin, hy vọng, ý nghĩa cho đời sống. Rất nhiều tín đồ hiện diện tại đây và hàng triệu tín đồ trên toàn cầu cũng kinh nghiệm được quyền năng thay đổi, làm mới lại cuộc đời sau khi tin Chúa. Chính bản thân tôi cũng đã kinh nghiệm được quyền năng này.
